Tuesday, May 12, 2015

Bọ phấn hại dưa

Hiện đang là thời điểm nắng nóng khô hanh vùng đồng bằng Bắc Bộ, ngưỡng nhiệt độ từ 27 - 340C là điều kiện ngoại cảnh thích hợp nhất cho bọ phấn phát sinh phát triển. 

Cán bộ cùng nông dân điều tra bọ trĩ trên dưa

Đây chính là lý do khiến nhiều vùng dưa chuyên canh đang bị bọ phấn gây hại mạnh. Song, hạn chế lớn nhất hiện nay là rất nhiều nông dân trồng dưa khi nhìn thấy lá bị vàng lại cho rằng dưa bị bệnh vàng lá. Do đó họ dùng rất nhiều loại thuốc trừ bệnh phun trừ nhưng không hiệu quả. 

Tại vùng chuyên canh dưa các loại tại xã Gia Lương, huyện Gia Lộc hay vùng dưa Linh Xá, huyện Nam Sách (Hải Dương), qua điều tra cho thấy tỷ lệ lá dưa bị vàng lên tới 20 - 30%. 

Để nông dân không nhầm tưởng dưa vàng lá là do nấm bệnh gây hại, xin lưu ý một số vấn đề sau: 

+ Cách nhận diện, phát hiện bọ phấn: Kiểm tra kĩ những lá non, lá bánh tẻ và ngọn dưa (nhìn ở phần mặt dưới của lá, phía trong kẽ lá non) vào lúc chiều mát sẽ thấy sự có mặt của bọ phấn: Có thể là con trưởng thành màu trắng bay nhanh hay bọ phấn non sống thành ổ, màu vàng di chuyển chậm. 

+ Đặc điểm và triệu chứng gây hại: Bọ phấn là loài côn trùng chích hút đa thực gây hại nhiều cây như cà chua, đậu đỗ, dưa các loại, khoai tây, lạc… 

Trưởng thành ban ngày ở dưới mặt lá, hoạt động rất linh hoạt, toàn thân và cánh phủ một lớp phấn màu trắng nên được gọi là bọ phấn. Trưởng thành thích đẻ trứng trên các lá bánh tẻ, mỗi con cái đẻ trung bình khoảng 70 quả. 

Sâu non nở ra bò chậm chạp trên lá và sống cố định một chỗ. Bọ phấn là loài sâu phát triển quanh năm trên đồng ruộng, cao điểm từ tháng 3 đến tháng 5 dương lịch. 

Thời tiết nóng và khô khiến bọ phấn phát dục càng nhanh, vòng đời càng ngắn (22 - 23 ngày). Chúng rất nhanh quen thuốc khi phun ở nồng độ cao hoặc phun thường xuyên định kì. 

Bọ phấn có kích thước rất nhỏ (chỉ trên 1 mm) cả trưởng thành và sâu non đều chích hút dịch ở lá, ngọn và phần thân non. Cây thiếu đạm hay bị ngập úng thì bọ phấn tấn công nhiều hơn. 

Mật độ bọ phấn nhiều trên lá sẽ làm cho lá, ngọn mất diệp lục và biến vàng nhưng không khô rạc. Những chỗ có bọ phấn gây hại thường phủ một lớp bụi màu trắng. Quan trọng hơn bọ phấn còn là môi giới truyền bệnh khảm dưa (bệnh virus) hiện không có thuốc chữa. 

+ Cách phòng trừ: 

- Không nên trồng dưa tập trung và liên tục nhiều vụ. 

- Bón phân cân đối đầy đủ cho dưa (đa, trung, vi lượng) và bổ sung phân canxi để thân lá dưa được cứng chắc. Không để dưa đói đạm. 

- Sử dụng chế phẩm vi sinh như nấm bột trắng Beauveria bassiana hoặc nấm Paecilomyces fumosoroseus tấn công trên ấu trùng và trưởng thành.  

- Trồng những cây có hoa ở bờ ruộng hoặc gần cây trồng. 

- Sử dụng tấm bẫy dính màu vàng cắm trên ruộng dưa để thu bắt trưởng thành (bọ phấn rất thích màu vàng). 

- Phun tỏi hay ớt cũng sẽ xua đuổi được bọ phấn. 

- Khi cần thiết có thể sử dụng một trong những thuốc trừ sâu hóa học có tính nội hấp và lưu dẫn mạnh như Confidor 100SL, Actara 25WG, Sherzol, Oshin 20WP, Mospilan 3EC hoặc 20SP, Amira 25WG, Gepa 50WG

Hồng Phong/ nongnghiep.vn

Quản lý sâu đục thân trên vườn cây ăn trái (Video)

Sầu riêng, xoài là những loại trái cây có giá trị kinh tế cao, được trồng chuyên canh với diện tích lớn ở các tỉnh phía Nam. Vài năm trở lại đây, diễn biến của tình hình dịch hại trên các loại cây trồng này ngày càng phức tạp, gây ảnh hưởng đến năng suất cũng như tuổi thọ của vườn cây. Một trong số đó là loài sâu đục thân thuộc họ xén tóc...


Xem video chương trình "Khoa học nông nghiệp: Quản lý sâu đục thân trên vườn cây ăn trái" được thực hiện bởi THVL:


Friday, May 8, 2015

Copefloc - nuôi tôm bằng thức ăn tự nhiên

Đây là mô hình nuôi tôm mới tại Thái Lan, được phát triển trên cơ sở công nghệ Biofloc; ưu điểm nhất là dùng hạt floc và thức ăn tự nhiên làm thức ăn chính cho tôm nuôi, không dùng thức ăn công nghiệp.

Ưu điểm vượt trội

Công nghệ Copefloc, cũng như Biofloc, có nhiều ưu điểm. Thứ nhất, Ammonia tự do trong nước được chuyển hóa thành protein trong sinh khối vi sinh vật dị dưỡng, tập hợp thành các hạt Biofloc lơ lửng trong nước. Thứ hai, nâng cao mức độ an toàn sinh học, giảm rủi ro lây nhiễm bệnh do không phải thay nước. Thứ ba, không gây ô nhiễm môi trường; giảm chi phí thức ăn, thuốc, hóa chất. Tôm tăng trưởng nhanh.

Khác công nghệ Biofloc, công nghệ Copefloc thiết kế vận hành đơn giản và hoàn toàn không sử dụng thức ăn công nghiệp, có thể đưa tôm cỡ PL10 - 12 trực tiếp vào ao nuôi mà không cần giai đoạn ương 30 ngày.

Hệ thống nuôi thủy sản ứng dụng công nghệ Copefloc có nhiều ưu điểm hơn so với những hệ thống ứng dụng công nghệ đang phổ biến hiện nay, như: kỹ thuật thay nước định kỳ, tuần hoàn nước sử dụng hệ thống lọc sinh học hay lọc cơ học. Giải pháp thay nước thường kéo theo việc thải chất ô nhiễm ra môi trường, tốn nước sạch, tăng chi phí năng lượng, như việc chạy máy bơm và tăng nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh từ nguồn nước cấp. Vận hành hệ thống lọc sinh học và lọc cơ học đòi hỏi hệ thống thiết bị phức tạp, chi phí vận hành và năng lực kỹ thuật cao. Tiến bộ hơn hai phương pháp trên hệ thống Copefloc vừa có khả năng cải thiện môi trường vừa tạo nên sinh khối thức ăn tự nhiên, góp phần tái sử dụng dinh dưỡng từ chất thải của động vật thủy sản; vận hành cũng khá đơn giản. Nuôi theo công nghệ Copefloc hoàn toàn không sử dụng hóa chất hay kháng sinh, vì vậy nâng cao được chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Nguồn thức ăn cho tôm nuôi

Thức ăn được sử dụng trong hệ thống này chủ yếu là các hạt biofloc và thức ăn tự nhiên (copepod, động vật thân mềm, giun nhiều tơ, giáp xác nhỏ…). Các loại thức ăn này đều giàu dinh dưỡng, rất tốt cho sự sinh trưởng của tôm. Copepod, động vật nguyên sinh, một số loài giáp xác nhỏ, là những thức ăn rất quan trọng cho tôm cá, đặc biệt trong giai đoạn còn nhỏ. Còn các hạt biofloc bản chất là sự kết dính tảo, nguyên sinh động vật, phân tôm, chất thải hữu cơ được chuyển hóa và có hàm lượng protein cao hơn hàm lượng protein trong thức ăn công nghiệp.

Sơ đồ chuỗi thức ăn trong quy trình nuôi tôm theo copefloc

1: Phân thải của tôm, cá nuôi cung cấp nguồn dinh dưỡng cho vi khuẩn và thực vật phù du

2: Vi khuẩn, thực vật phù du trở thành thức ăn cho động vật phù du hoặc động vật đáy

3: Động vật phù du làm thức ăn cho giáp xác nhỏ, động vật phù du khác

4: Động vật phù du, giáp xác nhỏ, động vật đáy làm thức ăn cho tôm, cá nuôi   

Nguồn thức ăn tự nhiên được gây nuôi sau khi nước được lắng lọc trong ao lắng một thời gian, cấp vào bể nuôi với độ sâu 1,2 - 1,5 m; làm giàu ôxy bằng cách sục khí mạnh, trong 24 - 48 giờ. Dùng cám gạo lên men với probiotic cho vào túi vải thưa, hình ống, cho xuống ao nuôi, với lượng 300 kg/ha. Tiếp tục quạt nước, sục khí trong 7 - 10 ngày. Gặp môi trường thuận lợi, thức ăn tự nhiên trong ao nuôi sẽ phát triển.

Dung dịch biofloc mồi được chuẩn bị bằng cách lên men hỗn hợp được pha theo tỷ lệ: 1 lít nước sạch, 10 g bột ngũ cốc (bột cá, bột đậu nành…), 10 ml dịch nuôi cấy chủng vi khuẩn thuần chủng Baccilus subtilis mật độ 106 vi khuẩn/ml. Quá trình lên men được thực hiện trong điều kiện sục khí mạnh trong 48 giờ, pH duy trì 6,0 - 7,2 bằng cách bổ sung dịch đệm pH, ở điều kiện nhiệt độ 25 - 280C. Đến khi vi sinh vật phát triển mạnh sẽ hình thành các bóng khí lớn nổi trên các bề mặt biofloc mồi là có thể bổ sung vào ao nuôi.

Vận hành

Hệ thống nuôi theo công nghệ Copefloc không tạo chất thải, vì vậy không cần hệ thống máy bơm gom tụ chất thải; thay vào đó cần bố trí hệ thống sục khí cung cấp nhiều ôxy cho tôm nuôi, vi sinh vật, thức ăn tự nhiên trong ao nuôi. Nuôi theo công nghệ Copefloc sử dụng hệ thống sục khí đáy được thiết kế bằng cánh khoan các lỗ nhỏ trên ống nhựa PVC, khoảng cách giữa các lỗ 25 - 30 cm, tạo thành mạng lưới với diện tích bao phủ khoảng 40% tổng diện tích ao nuôi, thay vì không dùng hoặc dùng rất ít hệ thống quạt nước.

Mật độ nuôi ít hơn 50 con/m2. Ở mật độ nuôi này tôm phát triển tốt, hoàn toàn sử dụng thức ăn tự nhiên.

Trong quá trình nuôi không cần cho ăn; thay vào đó người nuôi phải quản lý, duy trì quần thể và mật độ thức ăn tự nhiên, lượng biofloc trong ao nuôi.

Thu mẫu và tính toán mật độ copepod hằng ngày bằng cách dùng xô, chậu lấy 50 - 100 lít nước ở các vị trí khác nhau trong ao nuôi. Sau đó lọc qua lưới phiêu sinh, kích thước mắt lưới 50 - 70 µm, cho vào lọ 60 ml, cố định bằng formol 2 - 4%. Dùng pipet lấy 1 ml và đếm dưới kính hiển vi ở độ phóng đại 10X, 40X, bằng phương pháp di chuyển buồng đếm theo tọa độ. Từ đó tính toán được mật độ của copepod và điều chỉnh lượng chế phẩm sinh học bón xuống ao làm thức ăn cho copepod và sinh vật trong ao nuôi.

Để kích thích sự hình thành và duy trì tính ổn định của biofloc, cần bổ sung biofloc mồi và bổ sung nguồn cacbon vào hệ thống nuôi. Có rất nhiều nguồn cung cấp cacbon: bột ngũ cốc, mật rỉ đường, bột bã mía, rơm, cỏ. Duy trì hàm lượng biofloc < 1 ml/l trong suốt chu kỳ nuôi. 

Xét theo nguyên lý hoạt động thì Copefloc là công nghệ nuôi được vận hành khá đơn giản, hoàn toàn khép kín, không tạo ra chất thải; đây được đánh giá là mô hình nuôi an toàn, ít rủi ro. Điểm quan trọng của quy trình này là kỹ thuật tạo và duy trì nguồn thức ăn cho tôm trong suốt vụ nuôi.

Nguyễn Nhung/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Xử lý cá rô phi đơn tính bằng 17 Alpha Methyltestosterone

Xử lý cá rô phi đơn tính đực bằng 17 alpha Methyltestosterone hiện nay là phương pháp phổ biến, cho tỷ lệ đực cao và ổn định, chi phí đầu tư thấp và thời gian thực hiện ngắn so với các phương pháp còn lại.

1. Phối trộn thức ăn

Thức ăn nuôi cá đơn tính đực trong thời gian 21 ngày là thức ăn trộn hoóc môn có khả năng hoạt hoá giới tính đực.

Công thức phối trộn 1 kg thức ăn trộn hoóc môn có khả năng hoạt hóa như sau:

+ Vitamin C: 10g

+ Bột cá nhạt mịn: 1000 g

+ 60 mg 17 alpha Methyltestosterone

+ Cồn Etanol 0,3 - 0,5 lít 960

Cách trộn thức ăn hoạt hoá

10 gram Vitamin C được trộn đều với 1.000 g bột cá nhạt mịn sau đó làm ướt đều bằng 0,3 - 0,5 lít Etanol 960 đã hòa tan 60 mg 17alpha-Methyltestosterone. Sấy ở nhiệt độ 45 - 500C hoặc phơi khô và bảo quản ở nơi khô ráo nhưng không quá hai tuần.

Ảnh: Vũ Mưa 

2. Xử lý cá bột

2.1. Chuẩn bị ao giai

Ao cắm giai để xử lý cá bột được chuẩn bị cũng như ao nuôi vỗ cá bố mẹ, nhưng không gây màu nước ao, không bón phân vô cơ hoặc hữu cơ.

Độ sâu của ao từ 1,2 - 1,5 m.

2.2. Giai xử lý

Giai dùng để xử lý cá bột là giai mau có cỡ mắt lưới 1 mm.

Diện tích của giai tối thiểu là 0,81 m2 và tối đa là 5,4 m2.

Kích cỡ của giai có thể là: 0,9 x 0,9 x 0,9 (m) hoặc: 1,8 x 3,0 x 0,9 (m).

Độ sâu ngập nước của giai là 0,6 m.

2.3. Mật độ cá bột khi xử lý

Mật độ tối thiểu của cá bột xử lý là 10 con/lít và tối đa là 15 con/lít. Thời gian xử lý là 21 ngày. Với giai có diện tích 0,81 m2 ta có thể thả được 5.000 - 7.500 cá bột/giai. Giai có diện tích 5,4 m2 ta có thể thả được 30.000 - 45.000 cá bột/giai.

2.4. Thời gian xử lý

Thời gian xỷ lý cá bột là 21 ngày

2.5. Chăm sóc cá và quản lý

Cá bột được cho ăn bằng thức ăn có khả năng đực hóa giới tính đực. Lượng thức ăn hàng ngày được tính như Bảng:



Để xác định được lượng thức ăn cần thiết cho cá bột đang được xử lý cân mẫu vào ngày thứ 5 của mỗi chu kỳ cho ăn, phải cân mẫu tối thiểu khối lượng của 200 cá thể, mẫu phải được cân bằng cân điện tử để đảm bảo độ chính xác. Ta có thể tính được lượng thức ăn theo công thức sau:

A= (p x k ) x q / 200

Trong đó: A: là khối lượng thức ăn của lần sau.

P: khối lượng của mẫu.

K: số lượng cá thả ban đầu.

Q: tỷ lệ % thức ăn theo quy trình.

Trong thời gian xử lý đơn tính, 10 ngày thay giai một lần để đoản bảo độ thông thoáng, tránh trường hợp tảo bám vào giai làm hạn chế lưu thông nước trong và ngoài giai. Khi cá thiếu ôxy sẽ kém ăn và hao hụt lớn, tỷ lệ chuyển giới tính sẽ không cao.

Thường xuyên theo dõi bệnh cá vì nuôi cá ở mật độ cao thường hay mắc bệnh ký sinh trùng (như trùng bánh xe, sán lá đơn chủ) để có biện pháp xử lý kịp thời.

Sau khi cá bột được nuôi đủ 21 ngày (gọi tắt là 21 ngày tuổi) đưa cá ra ương nuôi tiếp trong ao đất hoặc trong giai bằng thức ăn tổng hợp bình thường (không có hoóc môn 17 alpha Methyl Testosterone ).

3. Kết quả

Áp dụng quy trình công nghệ này tỷ lệ sống cá 21 ngày tuổi 70 - 75%. Kích cỡ đạt 15.000 - 10.000 cá thể/kg. Tỷ lệ đực trong quần đàn đạt trên 95%.

ThS Xuân Kỳ/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Biện pháp nâng tỷ lệ sống trong ương cá tra từ bột lên hương

Hiện nay, tỷ lệ sống khi ương cá tra từ bột lên hương thường chỉ đạt trung bình từ 10 - 15%. Tìm ra nguyên nhân và có biện pháp để nâng cao tỷ lệ sống khi ương cá tra sẽ giúp giải quyết vấn đề này.

Nguyên nhân

1. Cải tạo ao

Khi cải tạo ao, người nuôi không thực hiện quy trình gây màu nước tạo thức ăn tự nhiên là luân trùng hoặc trứng nước - là khâu đầu tiên trong chuỗi thức ăn của cá tra. Do cá bột khi hết noãn hoàn thì tìm thức ăn tự nhiên để ăn, do môi trường mới cải tạo không có thức ăn hoặc người dân sử dụng thức ăn tự chế, thức ăn công nghiệp không phù hợp nên cá bị suy dinh dưỡng, cá ăn thịt lẫn nhau, dịch bệnh xảy ra và làm giảm tỷ lệ sống.

2. Quản lý môi trường

Khi thả cá bột để ương, người nuôi sử dụng thức ăn tự chế hoặc thức ăn công nghiệp quá nhiều trứng nước trong ao phát triển vượt mức cho phép, không quản lý kịp. Khi trứng nước nhiều sẽ cạnh tranh ôxy với cá tra bột làm cá thiếu ôxy ngộp và chết không rỏ nguyên nhân, nhất là giai đọan cá chưa phát triển hoàn chỉnh cơ quan thở khí trời.

Ao được thiết kế hệ thống sụt khí đáy ao 

Biện pháp

1. Chuẩn bị ao:

Ao có điện tích 1.000 m2 trở lên, độ sâu 1,2 - 1,5 m.

Tát cạn, diệt cá tạp.

Sên vét bùn đáy ao.

Bón vôi: 7 - 10 kg/100 m2

Bố trí hệ thống sụt khí đáy ao.

Lấy nước vào ao từ từ qua lưới lọc từ 0,7 - 0,8 m.

Thả giống trứng nước gây thức ăn tự nhiên (Moina).

Tiến hành kiểm tra môi trường và thả cá bột, nên thả vào buổi sáng.

2. Mật độ:

Mật độ thả trung bình: 400 - 500 con/m2.

Sau 3 - 4 ngày thả cá bột, lấy nước vào ao tới mức phù hợp 1 - 1,2 m.

3. Thức ăn:


Cho cá ăn trứng nước sống và sạch trong 12 ngày đầu.

Trứng nước được rửa sạch bằng nước muối 5.

Lượng thức ăn cần cung cho cá bột theo thời gian.

4. Quản lý môi trường

Các chỉ tiêu môi trường cần kiểm soát:

+ O2, pH: ngày 2 lần

+ NH3, H2S: tuần/lần

Trong đó, hệ thống sụt khí đáy ao rất quan trọng, nó giúp giải phóng đi một phần lượng khí độc có từ đáy ao ra ngoài, giúp cho môi trường ao tương đối ổn định. 

Phạm Hoàng Dũng (TT Khuyến nông - Khuyến ngư Đồng Tháp)

Thursday, May 7, 2015

Khuyến cáo 3 biện pháp phòng trừ siêu nhân gây hại rau, hoa

Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng vừa hoàn thành khảo nghiệm 3 biện pháp khuyến cáo cho nông dân phòng trừ loài côn trùng chân đốt (siêu nhân) gây hại bộ rễ cây rau, hoa các loại ở vùng nông nghiệp Đà Lạt.

Ảnh chụp “siêu nhân” qua kính hiển vi do Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng cung cấp

Theo đó, với biện pháp canh tác cần phải cày sâu đất thật kỹ, xử lý vôi bột với liều lượng 200- 300kg/sào, chọn giống cây trồng có bộ rễ sinh trưởng khỏe mạnh, bón phân cân đối, luân canh với những cây trồng họ đậu, cà rốt, hành tây, hành lá… 

Tiếp theo với biện pháp sinh học gồm sử dụng thuốc Biosun 123 (Paecilomyces + Metarhizium + Biauverie Bassiana + Bacillus  thuringiensis) rải đều vào đất (5kg/sào) trước khi xuống giống cây trồng hoặc sử dụng chế phẩm nấm xanh (2kg/sào) phun vào gốc cây ngay sau khi trồng. 

Cuối cùng là áp dụng các biện pháp hóa học như: sử dụng thuốc Basamid Granular 97MG (Dazomet) với 50kg/sào để xông hơi, khử trùng đất; luân phiên sử dụng các loại thuốc phòng trừ siêu nhân vào buổi chiều gồm: Oshin 20WP (Dinotefuran), Actara 25WG (Thiamethoxam), Prevathion35WG (Chlorantraniliprole)…

Vũ Văn/ Báo Lâm Đồng

Tuesday, May 5, 2015

Diệt hến, vẹm trong ao tôm

Phòng ngừa các loài hai mảnh vỏ gây hại trong ao tôm bằng cách: Cải tạo ao nuôi hút bùn, rải vôi và phơi ao, lấy nước qua túi lọc, diệt tạp, diệt khuẩn đúng kỹ thuật.  

Vẹm thường xuất hiện nhiều trong ao tôm

Các loài hai mảnh vỏ (hến, vẹm, trai, hàu…) thường được tìm thấy trong ao nuôi tôm và các kênh dẫn nước ở giai đoạn ấu trùng có tiêm mao sống phù du (veliger). 

Chúng ăn tảo bằng cách lọc cơ thể thông qua các tiêm mao. Khi quần thể các loài này phát triển quá mức trong ao tôm sẽ làm giảm mật độ tảo, làm tăng độ trong của nước ao. Cạnh tranh thức ăn, oxy hòa tan với tôm. 

Hấp thụ nhiều vi khoáng, đặc biệt là canxi carbonate (CaCO3) để duy trì và phát triển vỏ, làm lượng khoáng chất trong ao, nhất là canxi bị mất đi. Độ kiềm của nước giảm mạnh làm tôm bị mềm vỏ và có thể gây chết, đồng thời còn làm tôm chậm tăng trưởng, tăng tỷ lệ phân đàn. Là nguồn mang nhiều mầm bệnh có thể lây truyền sang tôm. 

Phòng ngừa các loài hai mảnh vỏ gây hại trong ao tôm bằng cách: Cải tạo ao nuôi hút bùn, rải vôi và phơi ao, lấy nước qua túi lọc, diệt tạp, diệt khuẩn đúng kỹ thuật. Cần có ao lắng xử lý nước kỹ trước khi lấy nước vô ao nuôi. Theo các nhà khoa học, việc phòng ngừa hến vẹm, trai… xâm nhập vào ao nuôi sẽ hiệu quả và ít tốn kém hơn là xử lý. 

Biện pháp diệt hến, chem chép, vẹm trong ao nuôi tôm bằng sản phẩm TRIHO 05 hay OSCIL ALGA 08. 

Cải tạo: 2 lít/1.000 m3 nước. 

Đối với tôm nuôi trong ao: Tôm trên 10 ngày tuổi sử dụng 0,8 lít/1.000 m3 nước. Còn tôm trên 1 tháng tuổi sử dụng 1,5 lít/1.000 m3 nước. Dùng từ 18 - 21h. Nếu thấy tôm bị yếu nên dùng trước Yucado 100% Natural/ VS Yuca trước 1 - 2 giờ hay San Anti Shock trước 6 giờ, kèm theo chạy quạt lấy oxy cho tôm nuôi trong ao. Nếu dùng liều cao, sau 36 giờ đồng hồ nên dùng TOXINPOND+ để tôm khỏe.

LHV/ nongnghiep.vn