Showing posts with label Cá tra. Show all posts
Showing posts with label Cá tra. Show all posts

Wednesday, July 15, 2015

Quy trình ương cá tra giống không thay nước

Cá tra giống đã và đang là đối tượng nuôi làm giàu cho nhiều người dân ĐBSCL, tuy nhiên thời gian gần đây do thoái hóa con giống và môi trường ngày càng ô nhiễm nên quá trình ương từ bột lên giống 2 cm tỷ lệ sống không cao. Quy trình nuôi không thay nước sẽ hạn chế tối đa được mầm bệnh bên ngoài vào, qua đó tăng tỉ lệ sống trong quá trình ương.

Chọn vị trí và cải tạo ao nuôi

Ao nuôi cá tra giống cần chọn nơi có ngồn nước sạch tốt, không bị ô nhiễm do chất thải của khu dân cư, khu công nghiệp, có giao thông thuận tiện cả đường bộ và đường thủy, đặc biệt chọn gần sông lớn càng tốt, nếu không được thì sông cũng phải đủ lớn để ghe đục vào khi bán cá giống, nêu không thì chi phí vận chuyển cá giống từ ao ra ghe cao và tỉ lệ hao hụt nhiều.

Ao nuôi cá tra giống có diện tích từ 3.000 - 10.000 m2, hình chữ nhật hoặc hình vuông, chiêu sâu khoảng 1.5 - 2 m. Cải tạo ao bằng cách vét cạn bùn đáy, bón vôi với liều lượng 10 - 15 kg/100 m2 ao, phơi khô ao khoảng 3 ngày, lấp các hang cua, ốc, dọn cỏ xung quanh ao sạch sẽ để hạn chế địch hại.

Lấy nước và thả giống

Lấy nước vào qua lưới lọc mịn để tránh trứng các loại cá tạp, giáp xác..., sau khi lấy nước được khoảng 80 cm tiến hành thả cá bột luôn, không cần gây màu nước. Kinh nghiệm thực tế của nhiều người dân cho thấy, khi gây màu nước có thời gian cho trứng cá tạp, các loại giáp xác nở, chuồn chuồn đẻ ấu trùng xuống ao, ếch nhái cũng đẻ ấu trùng xuống ao... ấu trùng của các loại này có thể ăn cá bột.

Chọn mua cá bột từ những cơ sở có uy tín. Thời gian thả cả bột tốt nhất là sáng sớm hoặc chiều mát, mật độ thả khoảng 500 - 1.000 con/m2 (có tài liệu khoa học khuyên chỉ 500 con/m2). Cách thả cá bột là khi bơm nước vào được 80 cm thì tiến hành thả cá bột trước nguồn nước bơm vào để cho cá được phân tán đều khắp ao. Và tiếp tục bơm nước khi nước đạt khoảng 1,2 cm thì ngừng bơm nước. Sau đó hàng ngày cấp thêm khoảng 30 cm nước khi đạt khoảng 1,5 - 1,7 m thì ngừng cấp thêm.

Cho ăn

Ngày đầu tiên chúng ta cho ăn 2 kg trứng nước (Moina) và 4 kg thức ăn dạng bột 40% đạm (hoặc đầu nành mịn) cho 1.000 m2 ao. Những ngày tiếp theo chúng ta dùng vợt vớt trứng nước trong ao, nếu thấy trứng nước còn nhiều thì không cần cho ăn, nếu thấy trứng nước thưa chúng ta chỉ cần cho thêm thức ăn 40% đạm dạng bột để cho trứng nước phát triển là được.

Sử dụng thức ăn dạng viên kích cỡ thích hợp cho cá giống - Ảnh: Thanh Nhã 

Ngày thứ 7 bắt đầu gom cầu cá, mục đích của việc này là tập cho cá ăn thức ăn công nghiệp và cho ăn gần cầu để dễ cho ăn và phát hiện bệnh nếu có. Bắc 1 cái cầu ra cách bờ khoảng 3 - 5 m, khi cho ăn chúng ta rải thức ăn quanh cầu, giai đoạn này sử dụng thức ăn 40% đạm dạng bột. Do nuôi cá tra giống cần nhiều vốn và ngày càng khó nuôi nên người nuôi không nên cho ăn nhiều, mỗi ngày cho ăn 2 lần sáng và chiều, mỗi lần cho ăn vừa đủ hoặc hơi thiếu so với nhu cầu của cá (cá tra giống cho ăn nhiều và no rất dễ bị bệnh).

Từ ngày thứ 21 trở đi cá bắt đầu có thể ăn được thức ăn dạng viên nổi kích cỡ 0,6 li độ đạm 40%. Chú ý khi cá lớn thì cần đổi thức ăn phù hợp với cỡ miệng của cá bằng cách tăng dần thức ăn cỡ lớn và giảm dần thức ăn cỡ nhỏ trong bữa ăn để cho những con cá nhỏ có thể ăn vừa. Từ ngày thứ 30 trở về sau có thể cho ăn thức ăn có độ đạm 28 - 35% để giảm giá thành thức ăn.

Quản lý

Khi cá nuôi được 15 ngày tuổi, định kỳ sát khuẩn nguồn nước bằng Iodine với liều lượng 1 lít cho khoảng 5.000 - 6.000 m2 ao, lưu ý đánh Iodine vào lúc chiều tối hoặc sáng sớm lúc mặt trời chưa mọc. Sau khi sát khuẩn xong thì ngày hôm sau đánh men vi sinh BZT liều lượng 227g cho 10.000m3 ao để tạo vi khuẩn có lợi cho ao nuôi. Định kỳ lặp lại sau khoảng 7 - 10 ngày.

Để tăng sức đề kháng cho cá, trộn thêm Vitamin C khoảng 1 - 2 g/10kg thức ăn, cho cá ăn 2 ngày liên tục trong 1 tuần.

Trong quá trình nuôi, để hạn chế dịch bệnh bên ngoài, không thay nước mà chỉ xử lý môi trường định kì, khi mực nước trong ao xuống thấp tiếp tục cấp thêm vào, duy trì mực nước trong ao khoảng 1,5 - 1,7 m

Cá tra sau khi nuôi được 30 ngày tuổi trở đi là có thể bán. Thông thường sau khi nuôi khoảng 70 - 80 ngày tuổi, cá đạt kích cỡ khoảng 25 - 30 con/kg là cỡ bán phổ biến. Tỉ lệ sống nuôi từ bột đến 80 ngày tuổi có thể đạt khoảng 10 - 30%.

Ths Nguyễn Gia Hiển (Đại học Đồng Tháp - Tạp chí Thủy sản Việt Nam)

Friday, May 8, 2015

Biện pháp nâng tỷ lệ sống trong ương cá tra từ bột lên hương

Hiện nay, tỷ lệ sống khi ương cá tra từ bột lên hương thường chỉ đạt trung bình từ 10 - 15%. Tìm ra nguyên nhân và có biện pháp để nâng cao tỷ lệ sống khi ương cá tra sẽ giúp giải quyết vấn đề này.

Nguyên nhân

1. Cải tạo ao

Khi cải tạo ao, người nuôi không thực hiện quy trình gây màu nước tạo thức ăn tự nhiên là luân trùng hoặc trứng nước - là khâu đầu tiên trong chuỗi thức ăn của cá tra. Do cá bột khi hết noãn hoàn thì tìm thức ăn tự nhiên để ăn, do môi trường mới cải tạo không có thức ăn hoặc người dân sử dụng thức ăn tự chế, thức ăn công nghiệp không phù hợp nên cá bị suy dinh dưỡng, cá ăn thịt lẫn nhau, dịch bệnh xảy ra và làm giảm tỷ lệ sống.

2. Quản lý môi trường

Khi thả cá bột để ương, người nuôi sử dụng thức ăn tự chế hoặc thức ăn công nghiệp quá nhiều trứng nước trong ao phát triển vượt mức cho phép, không quản lý kịp. Khi trứng nước nhiều sẽ cạnh tranh ôxy với cá tra bột làm cá thiếu ôxy ngộp và chết không rỏ nguyên nhân, nhất là giai đọan cá chưa phát triển hoàn chỉnh cơ quan thở khí trời.

Ao được thiết kế hệ thống sụt khí đáy ao 

Biện pháp

1. Chuẩn bị ao:

Ao có điện tích 1.000 m2 trở lên, độ sâu 1,2 - 1,5 m.

Tát cạn, diệt cá tạp.

Sên vét bùn đáy ao.

Bón vôi: 7 - 10 kg/100 m2

Bố trí hệ thống sụt khí đáy ao.

Lấy nước vào ao từ từ qua lưới lọc từ 0,7 - 0,8 m.

Thả giống trứng nước gây thức ăn tự nhiên (Moina).

Tiến hành kiểm tra môi trường và thả cá bột, nên thả vào buổi sáng.

2. Mật độ:

Mật độ thả trung bình: 400 - 500 con/m2.

Sau 3 - 4 ngày thả cá bột, lấy nước vào ao tới mức phù hợp 1 - 1,2 m.

3. Thức ăn:


Cho cá ăn trứng nước sống và sạch trong 12 ngày đầu.

Trứng nước được rửa sạch bằng nước muối 5.

Lượng thức ăn cần cung cho cá bột theo thời gian.

4. Quản lý môi trường

Các chỉ tiêu môi trường cần kiểm soát:

O2, pH: ngày 2 lần

NH3H2S: tuần/lần

Trong đó, hệ thống sụt khí đáy ao rất quan trọng, nó giúp giải phóng đi một phần lượng khí độc có từ đáy ao ra ngoài, giúp cho môi trường ao tương đối ổn định. 

Phạm Hoàng Dũng (TT Khuyến nông - Khuyến ngư Đồng Tháp)

Monday, April 13, 2015

Nuôi cá tra thịt trắng

Sản phẩm cá tra thịt trắng rất được ưa chuộng ở các thị trường lớn như Mỹ, Nhật và EU nên kỹ thuật nuôi cá tra thịt trắng đang được các doanh nghiệp chế biến và người nuôi quan tâm.

Yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thịt cá

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì màu sắc và chất lượng thịt cá tra được quyết định bởi chế độ dinh dưỡng. Thức ăn không phù hợp; trong quá trình nuôi, cá bị nhiễm các bệnh ảnh hưởng đến gan mật (như giun sán, gan thận mủ); dùng thuốc kháng sinh dài ngày và dùng nhiều loại để chữa bệnh cá, đồng thời quá trình nuôi ao ít thay nước, lượng mùn bã hữu cơ trong ao tích tụ nhiều, màu nước đậm đặc, thiếu ôxy sẽ làm cho thịt cá chuyển thành màu vàng. Ngoài ra, trong quá trình thay nước (tháng 6 - 7), thay phải nước có nhiều phù sa cũng làm cho màu sắc của cá chuyển vàng.

Kỹ thuật nuôi

Chuẩn bị ao và thả giống

Ao nuôi nên chọn ở những nơi có nguồn nước ít ô nhiễm và thuận tiện thay nước (gần sông, kênh thủy lợi). Quá trình cải tạo ao nên sên vét hết lượng bùn đen trong ao và tẩy vôi kỹ (12 - 15 kg/100 m2).

Nước cấp vào ao được lọc qua lưới và độ sâu 1,2 m trở lên. Sau khi cấp nước 3 ngày thì có thể thả giống; giống phải được mua ở những nơi uy tín, có chất lượng tốt và nguồn gốc rõ ràng. Cá giống phải có kích cỡ đồng đều, không bị nhiễm bệnh, mật độ cá thả vừa phải (30 con/m2) .

Cá tra thịt trắng được ưa chuộng ở nhiều thị trường - Ảnh: Phan Thanh Cường 

Chăm sóc và quản lý

Thức ăn cho cá tra nuôi rất quan trọng và quyết định đến màu sắc của thịt cá. Hiện nay giá cá thương phẩm giảm thấp, người nuôi có hiện tượng cho cá ăn cầm chừng để đợi giá lên hoặc tiết kiệm cho cá ăn bằng thức ăn tự chế có hàm lượng đạm thấp - Điều này rất bất lợi, bởi vì nếu cá ăn không đủ lượng và chất thì chất lượng cá thương phẩm sẽ kém và màu sắc sẽ vàng; mặt khác thức ăn chế biến nếu có rau xanh mà không được ủ cũng khiến thịt cá bị vàng, kém chất lượng.

Do vậy, trong quá trình nuôi phải đảm bảo thức ăn đủ lượng và chất. Đối với cám công nghiệp, khi cá còn nhỏ cho ăn lượng thức ăn chiếm từ 6 - 10% trọng lượng thân, hàm lượng đạm 30% trở lên; khi lớn (>500 g/con) thì cho ăn thức ăn chiếm 4 - 5% trọng lượng thân, hàm lượng đạm 25%. Thức ăn từ chế biến cũng phải phối trộn để có số lượng và chất lượng tương đương; trong trường hợp trộn thêm rau xanh và nấu chín như  rau muống, cám tấm, cá tạp xay nhuyễn thì nên ủ chua bằng bã rượu, sau đó mới cho ăn. Từ kinh nghiệm thực tế đối với thức ăn tự chế, nếu phối trộn bã hèm rượu (10 - 15%) vào thức ăn sẽ giúp cá có sức đề kháng tốt, ít bệnh và quan trọng là thịt cá có màu trắng với tỉ lệ cao. Đối với thức ăn công nghiệp và tự chế, khi cho cá ăn cần phối trộn thêm men vi sinh, Vitamin C với liều lượng hướng dẫn trên bao bì để tăng cường sức đề kháng và quá trình tiêu hóa giúp cá hấp thu thức ăn được tốt hơn.

Đối với ao có lắp hệ thống sục khí, khi khối lượng cá trong ao từ 2 kg/m3 trở lên thì  tiến hành sục khí 12 giờ/ ngày; khi khối lượng cá đạt 6 kg/m3 nên sục khí 24 giờ/ngày.

Những ao nuôi không lắp sục khí, sau 30 ngày thả cá giống cần thay nước định kỳ hằng tuần, sau 3 tháng nuôi tăng lên 3 - 5 lần/tuần, lượng nước thay 30%. Càng đến cuối vụ nuôi thì nước càng bẩn, cần thay nước hằng ngày, mỗi lần thay 50% lượng nước trong ao. Trong trường hợp ao nuôi có tảo phát triển mạnh, dùng BKC hoặc formol để cắt tảo với liều lượng 5 - 7 ppm, nên xử lý vào buổi trưa nắng. Sau một tháng nuôi, nền đáy ao sẽ tích tụ nhiều mùn bã hữu cơ, sinh nhiều khí độc; vì vậy cần sử dụng chế phẩm sinh học (EMC, Bio ZeoGreen , Bio Yucca…) liều lượng theo hướng dẫn để khoáng hóa đáy ao, tiêu độc và cạnh tranh không gian sống đối vi khuẩn gây bệnh giúp cá phát triển tốt hơn.

Cần áp dụng biện pháp phòng bệnh hơn chữa bệnh. Căn cứ vào tình hình thời tiết, sức ăn của cá để điều chỉnh thức ăn cho cá phù hợp, tránh dư thừa. Hằng ngày quan sát các hoạt động của cá để có biện pháp xử lý kịp thời. Trong trường hợp cá bị bệnh thì khi dùng thuốc và hóa chất cần có sự tư vấn của các cán bộ kỹ thuật. Nếu dùng kháng sinh chữa bệnh cho cá, cần đúng thuốc, đúng bệnh, đúng liều lượng và đúng thời gian.

Thu hoạch

Trước khi thu hoạch 1 tháng, cần thay nước hằng ngày để nước ao luôn trong sạch. Nên dừng sử dụng thuốc chữa bệnh và hóa chất trước khi thu hoạch cá 15 - 20 ngày

Thịt cá tra có thể phân loại từ cao đến thấp (như trắng, vàng chanh, hồng và vàng). Thông thường những hầm nuôi cá tra có tỷ lệ cá thịt vàng cao thì không được các nhà máy chế biến ưa chuộng, khi thu mua giá cá sẽ bị giảm 15 - 20% so với giá cá tra thịt trắng cùng kích cỡ.

Hải An/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Friday, January 23, 2015

Giảm hao hụt khi ương cá tra giống

Tỷ lệ hao hụt lớn khi ương cá tra, basa giống ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung giống cho thị trường và hiệu quả nghề nuôi cá. Vì vậy, người nuôi cá cần tuân thủ kỹ thuật khi ương từ cá bột lên cá hương, cá giống.

Nguyên nhân hao hụt

Theo một số người chuyên ương nuôi cá tra, basa giống thì ương nuôi từ cá bột lên cá giống bị hao hụt do:

- Mua cá bột từ các trại sản xuất có cá bố mẹ chất lượng thấp (tham gia sinh sản quá nhiều đợt, cá có hiện tượng thoái hóa, nuôi vỗ kém,..) nên chất lượng cá bột yếu.

- Mua cá bột từ trại sản xuất giống mà nguồn gốc cá bố mẹ tham gia sinh sản không được chọn lọc kỹ, không đúng theo tiêu chuẩn ngành.

- Trong quá trình ương nuôi, người nuôi lạm dụng thuốc kháng sinh để phòng trị bệnh cho cá làm giảm sức đề kháng của cá, cá còi cọc, chậm lớn, chết nhiều,…

Bên cạnh đó: Vận chuyển cá bột không đúng kỹ thuật, mật độ dày; Vận chuyển cá trong thời gian cá đang bị nhiễm bệnh hoặc đang trị bệnh chưa khỏi hẳn; Trong quá trình vận chuyển làm cá bị xây xát, tạo điều kiện cho các tác nhân gây bệnh tấn công.

Việc chuẩn bị ao trước khi ương giống, cũng như thao tác thả cá không đạt yêu cầu, mật độ thả cá trong ao quá dày cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá khi ương.

Ương nuôi cá bột lên cá giống đòi hỏi người nuôi cần nắm chắc kỹ thuật - Ảnh: Lê Hoàng Vũ 

Cách khắc phục

Để nâng cao tỷ lệ sống khi ương giống cá tra, ba sa, người nuôi cá cần lưu ý:

Cải tạo ao: Tát cạn vét bùn đáy ao, lấp hang cua, ếch, chuột, lươn… Đắp lại những chỗ sạt lở, sửa lại cống bọng, dọn cỏ quanh bờ ao, để tránh địch hại trong giai đoạn đầu thả cá bột.

Lượng vôi sử dụng để rải 10 - 15 kg/100m2 ao. Sau khi rải vôi, ao phải được lắng 2 - 3 ngày.

Cấp nước và gây màu: Nước cấp vào ao phải được lọc qua túi lọc thật mịn để tránh trứng, cá tạp, giáp xác,… Nếu có điều kiện cần phải lắng qua ao trữ 5 - 7 ngày, sau đó mới cấp vào ao.

Sau khi cấp nước phải gây màu nước để tạo thức ăn tự nhiên trong giai đoạn đầu cho cá bột.

Cụ thể: Ao có diện tích 1.000 m2: bón vào 2 kg bột cá mịn 40% đạm + 2 kg bột đậu nành để cung cấp thức ăn tự nhiên cho cá. Trước khi thả cá cần kiểm tra lại các yếu tố môi trường nước ao ương, sao cho đảm bảo pH 7 - 8; nhiệt độ 28 - 30 độ C; ôxy > 3mg/l.

Mật độ thả giống: Mật độ 500 con/m2; Thời gian thả cá bột vào ao nuôi tốt nhất là sáng sớm và chiều mát.

Chăm sóc và cho ăn

7 ngày đầu

Số lượng cho cá ăn (1 triệu con cá bột) trong một lần gồm:

- Bột đậu nành 300 g.

- Bột sữa 300 g.

- Cho cá ăn 5 lần/ngày, vào lúc 7h, 10h, 14h, 17h, 20h.

- Cách cho ăn: hoà tan hỗn hợp trên vào nước rồi tạt đều khắp mặt ao.

7 ngày tiếp theo

- Cho cá ăn 5 lần/ngày vào lúc 7h, 10h, 14h, 17h, 20h. Thức ăn sử dụng là bột thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm 40% trở lên.

Liều lượng 0,5kg/lần ăn (x 5 lần/ngày = 2,5 kg/1 triệu con cá bột/ngày).

- Mỗi ngày tăng lượng thức ăn thêm 20%. (Tuỳ mức độ ăn của cá mà điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp).

- Cách cho ăn: hoà tan hỗn hợp trên với nước rồi tạt đều khắp ao ương.

Ngày thứ 15 đến 20

- Sử dụng thức ăn công nghiệp, có hàm lượng đạm 35 - 40%.

- Cho ăn 4 lần/ngày (8 h, 13 h, 14 h, 17 h).

- Tập cho cá gom cầu và định lượng lại thức ăn cho hợp lý.

Ngày thứ 21 trở đi

- Sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi có hàm lượng đạm 30 - 35% và có kích cỡ vừa miệng cá.

- Số lần cho ăn 3 lần/ngày, cho cá ăn phải đủ lượng và chất.

- Cuối tuần thứ tư, bắt đầu lọc cá để san thưa, giữ mật độ 150 - 200 con/m2.

Bên cạnh đó, cần tăng cường Vitamin C để tăng sức đề kháng cho cá, định kỳ dùng chế phẩm sinh học để xử lý môi trường.

Phòng và trị bệnh

Bổ sung Vitamin C với liều lượng 0,5 - 1 g/1 kg thức ăn; 2 lần/tuần, để tăng sức đề kháng cho cá; Trộn thêm men vi sinh để giúp cá tiêu hóa tốt thức ăn và phòng một số bệnh về hệ tiêu hóa; Sử dụng kháng sinh phòng bệnh phải tuân thủ quy định của cơ quan chức năng về thuốc thú y thủy sản.

Định kỳ kiểm tra các yếu tố môi trường ao ương: pH, nhiệt độ, dịch bệnh (bệnh do môi trường, ký sinh trùng,…) để có biện pháp xử lý kịp thời. 

Trọng Nam/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Monday, September 27, 2010

Khắc phục cá tra ăn mồi thất thường

Theo như ý kiến của nhiều chuyên gia thủy sản, khi cá tra ăn mồi với lượng không ổn định, thường ăn rất trễ trong ngày và có biểu hiện hơi nhát có thể là do tầng đáy ao nuôi bị nhiễm phèn, do trời chuyển lạnh nên nhiệt độ ở tầng nước mặt bị giảm thấp và do chất vẩn hữu cơ lơ lửng trong nước quá nhiều.


Ảnh minh họa

Vào mùa khô, cá tra có tập tính sống ở tầng đáy, nơi có nhiệt độ mát mẻ và ít biến động bởi môi trường. Việc hút bùn đã làm xáo trộn nền đáy, tức làm động nơi cư trú của chúng, nên có thể chúng bị sốc dẫn đến sức ăn bị yếu đi. Việc cá thích ăn vào buổi trưa hoặc chiều khi tiết trời lạnh có thể cũng là do tập tính sống đáy vào mùa khô chi phối, nên khi ánh sáng mặt trời đốt nóng tầng mặt thì cá mới chịu lên ăn.

Để khắc phục hiện tượng này, vào những ngày trời se lạnh thì cần thiết giảm lượng cho ăn và cho cá ăn vào thời điểm nhiệt độ nước ao có sự cân bằng giữa tầng mặt và tầng đáy, khoảng giác trời đứng bóng về chiều. Khi hút bùn đáy ao xong, cần xử lý nền đáy và xử lý cho nước ao trong trở lại mới cho ăn, bởi vì nếu cá phải sống và bắt mồi ở vùng có tích tụ nhiều chất thải và khí độc thì dễ xảy ra hiện tượng cá mất đi hứng thú bắt mồi. Bên cạnh đó, nếu cá bắt mồi trong vùng nước nhiễm bẩn, cũng sẽ tạo điều kiện cho tác nhân gây bệnh xâm nhập vào nội tạng.

Thuốc xử lý nước có thể dùng: Biotuff (10kg) và Polymax (0,2kg) pha nước tưới cho 1.000m2 ao/ngày. Thuốc trộn vào thức ăn để tăng tiêu hoá và kích thích cá thèm ăn, có thể dùng: Compac (1kg) + Doxalase (0,5kg) + Vitalec fish+ (1kg) + Dầu gan mực (2kg) trộn cho 1 tấn mồi, liên tục 7 ngày. Để phòng bệnh, cần thường xuyên trộn Vitamin C vào các bữa ăn của cá cũng giúp cá giảm stress

Nguồn: Sở NN & PTNT Đồng Tháp

Monday, May 17, 2010

Bệnh gan thận mủ trên cá tra

1. Nguyên nhân gây bệnh:

Bệnh gan thận mủ (còn gọi là bệnh mủ gan) là bệnh do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra. Hiện nay bệnh này gây thiệt hại lớn cho người nuôi cá Tra thâm canh ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Tỷ lệ cá chết khi bị nhiễm bệnh gan thận mủ có thể lên đến 90%. Cá Tra thường bị nhiễm bệnh vào các tháng cuối năm khi nhiệt độ nước hạ thấp (khoảng tháng 9 đến tháng 1 năm sau); tuy nhiên ngày nay bệnh này còn xảy ra ở những thời điểm khác trong năm do việc tăng diện tích và tăng mức độ thâm canh, cũng như việc không sát trùng nguồn nước của những ao nuôi bị nhiễm bệnh trước khi thải ra môi trường.

2. Đường lây truyền:

E.ictalury có thể nhiễm cho cá bằng 2 đường khác nhau:

- Vi khuẩn trong nước có thể qua đường mũi của cá xâm nhập vào cơ quan khứu giác và di chuyển vào dây thần kinh khứu giác, sau đó vào não. Từ đó, bệnh lan rộng từ màng não đến sọ và da.

- Cá da trơn còn lây nhiễm qua đường tiêu hóa, thức ăn qua đường miệng gây nhiễm khuẩn ruột hoặc qua niêm mạc ruột vào máu gây nhiễm trùng máu. Bằng đường này thì vi khuẩn vào mao mạch trong biểu bì gây họai tử và mất sắc tố của da.

Bệnh tiến triển gây viêm ruột, viêm gan và viêm cầu thận trong vòng 2 tuần sau khi nhiễm khuẩn (Shotts và cộng tác viên, 1986). Tóm lại vi khuẩn E. ictaluri có thể xâm nhập vào cơ thể cá từ môi trường nước qua da, qua mang cá và qua miệng bằng đường thức ăn gây bệnh mủ gan cá.

3. Triệu chứng:

Bệnh này nếu nhẹ thường khó được phát hiện sớm do cá bệnh ít có biểu hiện bên ngoài. Cá bị nhiễm bệnh gan thận mủ thường ăn kém hoặc bỏ ăn tùy theo bệnh nhẹ hay nặng. Quan sát bên ngoài có thể thấy bụng hơi sưng to, mắt bị đục. Cá bệnh thường bơi lờ đờ gần bề mặt ao. Khi mổ bụng cá ta thường thấy những đốm trắng nhỏ (như đốm mủ) trên bề mặt của một số cơ quan như gan, thận và lách (Hình chụp).


Nếu nặng, cá bỏ ăn bơi lờ đờ trên mặt nước, thường nhào lộn và xoay tròn, thường không phản ứng với tiếng động; những tổn thương ở gan lan rộng làm gan không còn chức năng khử độc và lọc máu, làm chất độc tích tụ trong cơ thể kết hợp với những yếu tố khác làm cá chết. Một số cá xuất huyết tất cả các vi hoặc xuất huyết tòan thân và nếu xuất huyết trầm trọng thì khi nhấc cá ra khỏi nước máu sẽ chảy ra từ da và mang cá và khi mổ một số cá mới chết thì thấy túi mật bị vỡ, dịch mật lan tràn khắp nội tạng do ống dẫn mật và túi mật đã họai tử.

Một số cá có biểu hiện màu sắc nhợt nhạt, có nhiều đốm lớn, nhỏ trên da. Số lượng cá chết hàng ngày tăng cao và tỷ lệ tăng dần. Tốc độ lây lan của bệnh rất nhanh, trong điều kiện thí nghiệm, chỉ khỏang 3-4 ngày là tòan bộ số cá nuôi trong bể đều nhiễm bệnh; vì vậy việc điều trị phải làm triệt để và đồng bộ.

4. Điều trị:

4.1. Phương pháp cũ:

Đầu năm 2006, Khoa Thủy sản-Trường Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu và công bố chất kháng sinh Florfenicol là kháng sinh đặc trị bệnh này (thay thế cho các lọai kháng sinh khác đã bị cấm); khi sử dụng thuốc từ 7-10 ngày sẽ cho hiệu quả tốt, cá sẽ hồi phục nhanh khi kết hợp việc vệ sinh diệt mầm bệnh trại nuôi và trong môi trường nước nuôi.

Chú ý: Thuốc phải được trộn với thức ăn, áo bên ngòai bằng Lecithin, sau đó phơi khô ráo nhằm tăng khả năng dung nạp của thuốc. Phải sử dụng liên tục từ 7-10 ngày và kết hợp vệ sinh môi trường mới tránh tái nhiễm.

Tuy nhiên, hiện nay các lọai kháng sinh đang sử dụng để điều trị bện gan thận mủ trên cá Tra và cá Basa đều đã bị vi khuẩn đề kháng nên hiệu quả điều trị không cao.

4.2. Phương pháp mới nghiên cứu:

Giữa năm 2009, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Thịnh (Trường Đại học Nông Lâm) cùng các cộng sự của các trường Đại học Đài Loan và Na Uy đã tổ chức nghiên cứu và thực nghiệm 01 phương pháp mới “kết hợp phương pháp chủng ngừa vaccine bằng cách ngâm và cấp qua đường tiêu hóa để hạn chế tỷ lệ chết do vi khuẩn trên cá Tra”

Trước đây, việc sử dụng các loại vaccine bất hoạt để phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn do E. ictaluri đã được thử nghiệm trên nhiều loài cá da trơn khác nhau, đặc biệt là ở Mỹ. Các loại vaccine bất hoạt có thời gian miễn dịch không dài và loại vaccine sống sử dụng vi khuẩn E.ictaluri chủng RE-33 được làm giảm độc lực cũng chỉ có tác dụng bảo vệ trong một khoảng thời gian ngắn sau khi tiêm vaccine. Ngòai ra, những phương pháp khác sử dụng các loại vaccine bất hoạt để phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn do E. ictaluri cho cá Tra ở Việt Nam cũng đã được thử nghiệm nhiều nhưng chưa có kết quả về lâu dài.

Phương pháp này sử dụng vaccine được lấy từ vi khuẩn E.ictaluri đã làm cho bất họat bằng Formalin với nồng độ 0,5% và ủ trong thời gian tối thiểu là 24 giờ với nhiệt độ mát, đồng thời dịch huyền phù của vi khuẩn cũng được bảo quản ở nhiệt độ 40C, sau đó phải được kiểm tra kỹ lưỡng.

Chủng ngừa bằng phương pháp ngâm được thực hiện bằng cách ngâm 1200 cá trong dung dịch pha loãng 2 lít vaccine (gồm nước cất và vi khuẩn bất họat với nồng độ 5 x 109 cfu/ml) trong 18 lít  nước sạch có nồng độ vi khuẩn cuối cùng là 5.56 x 108 cfu/ml trong thời gian 1 phút, sục khí mạnh. Vaccine cấp qua đường tiêu hóa được chuẩn bị bằng cách phun kháng nguyên dạng nhũ tương bên ngoài viên thức ăn với tỷ lệ 2%. Viên thức ăn sau đó được phun áo bên ngoài bằng dầu mực với tỷ lệ 0,1% (v/w). Thức ăn này được chuẩn bị hằng ngày và được sử dụng trong vòng 1-2 ngày sau khi chuẩn bị. Cho cá ăn đến no và kéo dài trong 2 tuần. Sau khi cá đã nuôi được 101-107 ngày thì cho ăn tăng cường thức ăn có trộn vaccine liên tục 1 tuần và ngưng.

Kết quả cho thấy, khi ao cá được cho lây nhiễm bệnh mạnh thì tỷ lệ cá chết rất ít so với các ao không được ngâm và cho ăn bằng vaccine.

Tóm tại, chủng ngừa bằng cách kết hợp phương pháp ngâm/cho ăn để gây miễn dịch ban đầu và cho ăn tăng cường cho kết quả bảo hộ tương đối tốt khi cá bị nhiễm vi khuẩn E.ictaluri. Lặp lại việc cho ăn tăng cường có thể sẽ là một phương pháp thay thế để duy trì hiệu quả miễn dịch cho cá Tra đối với việc phơi nhiễm các loại tác nhân gây bệnh có độc lực cao.

Trịnh Biên/ Sở NN&PTNT TP.HCM