Showing posts with label Nuôi cá. Show all posts
Showing posts with label Nuôi cá. Show all posts

Wednesday, July 15, 2015

Quy trình ương cá tra giống không thay nước

Cá tra giống đã và đang là đối tượng nuôi làm giàu cho nhiều người dân ĐBSCL, tuy nhiên thời gian gần đây do thoái hóa con giống và môi trường ngày càng ô nhiễm nên quá trình ương từ bột lên giống 2 cm tỷ lệ sống không cao. Quy trình nuôi không thay nước sẽ hạn chế tối đa được mầm bệnh bên ngoài vào, qua đó tăng tỉ lệ sống trong quá trình ương.

Chọn vị trí và cải tạo ao nuôi

Ao nuôi cá tra giống cần chọn nơi có ngồn nước sạch tốt, không bị ô nhiễm do chất thải của khu dân cư, khu công nghiệp, có giao thông thuận tiện cả đường bộ và đường thủy, đặc biệt chọn gần sông lớn càng tốt, nếu không được thì sông cũng phải đủ lớn để ghe đục vào khi bán cá giống, nêu không thì chi phí vận chuyển cá giống từ ao ra ghe cao và tỉ lệ hao hụt nhiều.

Ao nuôi cá tra giống có diện tích từ 3.000 - 10.000 m2, hình chữ nhật hoặc hình vuông, chiêu sâu khoảng 1.5 - 2 m. Cải tạo ao bằng cách vét cạn bùn đáy, bón vôi với liều lượng 10 - 15 kg/100 m2 ao, phơi khô ao khoảng 3 ngày, lấp các hang cua, ốc, dọn cỏ xung quanh ao sạch sẽ để hạn chế địch hại.

Lấy nước và thả giống

Lấy nước vào qua lưới lọc mịn để tránh trứng các loại cá tạp, giáp xác..., sau khi lấy nước được khoảng 80 cm tiến hành thả cá bột luôn, không cần gây màu nước. Kinh nghiệm thực tế của nhiều người dân cho thấy, khi gây màu nước có thời gian cho trứng cá tạp, các loại giáp xác nở, chuồn chuồn đẻ ấu trùng xuống ao, ếch nhái cũng đẻ ấu trùng xuống ao... ấu trùng của các loại này có thể ăn cá bột.

Chọn mua cá bột từ những cơ sở có uy tín. Thời gian thả cả bột tốt nhất là sáng sớm hoặc chiều mát, mật độ thả khoảng 500 - 1.000 con/m2 (có tài liệu khoa học khuyên chỉ 500 con/m2). Cách thả cá bột là khi bơm nước vào được 80 cm thì tiến hành thả cá bột trước nguồn nước bơm vào để cho cá được phân tán đều khắp ao. Và tiếp tục bơm nước khi nước đạt khoảng 1,2 cm thì ngừng bơm nước. Sau đó hàng ngày cấp thêm khoảng 30 cm nước khi đạt khoảng 1,5 - 1,7 m thì ngừng cấp thêm.

Cho ăn

Ngày đầu tiên chúng ta cho ăn 2 kg trứng nước (Moina) và 4 kg thức ăn dạng bột 40% đạm (hoặc đầu nành mịn) cho 1.000 m2 ao. Những ngày tiếp theo chúng ta dùng vợt vớt trứng nước trong ao, nếu thấy trứng nước còn nhiều thì không cần cho ăn, nếu thấy trứng nước thưa chúng ta chỉ cần cho thêm thức ăn 40% đạm dạng bột để cho trứng nước phát triển là được.

Sử dụng thức ăn dạng viên kích cỡ thích hợp cho cá giống - Ảnh: Thanh Nhã 

Ngày thứ 7 bắt đầu gom cầu cá, mục đích của việc này là tập cho cá ăn thức ăn công nghiệp và cho ăn gần cầu để dễ cho ăn và phát hiện bệnh nếu có. Bắc 1 cái cầu ra cách bờ khoảng 3 - 5 m, khi cho ăn chúng ta rải thức ăn quanh cầu, giai đoạn này sử dụng thức ăn 40% đạm dạng bột. Do nuôi cá tra giống cần nhiều vốn và ngày càng khó nuôi nên người nuôi không nên cho ăn nhiều, mỗi ngày cho ăn 2 lần sáng và chiều, mỗi lần cho ăn vừa đủ hoặc hơi thiếu so với nhu cầu của cá (cá tra giống cho ăn nhiều và no rất dễ bị bệnh).

Từ ngày thứ 21 trở đi cá bắt đầu có thể ăn được thức ăn dạng viên nổi kích cỡ 0,6 li độ đạm 40%. Chú ý khi cá lớn thì cần đổi thức ăn phù hợp với cỡ miệng của cá bằng cách tăng dần thức ăn cỡ lớn và giảm dần thức ăn cỡ nhỏ trong bữa ăn để cho những con cá nhỏ có thể ăn vừa. Từ ngày thứ 30 trở về sau có thể cho ăn thức ăn có độ đạm 28 - 35% để giảm giá thành thức ăn.

Quản lý

Khi cá nuôi được 15 ngày tuổi, định kỳ sát khuẩn nguồn nước bằng Iodine với liều lượng 1 lít cho khoảng 5.000 - 6.000 m2 ao, lưu ý đánh Iodine vào lúc chiều tối hoặc sáng sớm lúc mặt trời chưa mọc. Sau khi sát khuẩn xong thì ngày hôm sau đánh men vi sinh BZT liều lượng 227g cho 10.000m3 ao để tạo vi khuẩn có lợi cho ao nuôi. Định kỳ lặp lại sau khoảng 7 - 10 ngày.

Để tăng sức đề kháng cho cá, trộn thêm Vitamin C khoảng 1 - 2 g/10kg thức ăn, cho cá ăn 2 ngày liên tục trong 1 tuần.

Trong quá trình nuôi, để hạn chế dịch bệnh bên ngoài, không thay nước mà chỉ xử lý môi trường định kì, khi mực nước trong ao xuống thấp tiếp tục cấp thêm vào, duy trì mực nước trong ao khoảng 1,5 - 1,7 m

Cá tra sau khi nuôi được 30 ngày tuổi trở đi là có thể bán. Thông thường sau khi nuôi khoảng 70 - 80 ngày tuổi, cá đạt kích cỡ khoảng 25 - 30 con/kg là cỡ bán phổ biến. Tỉ lệ sống nuôi từ bột đến 80 ngày tuổi có thể đạt khoảng 10 - 30%.

Ths Nguyễn Gia Hiển (Đại học Đồng Tháp - Tạp chí Thủy sản Việt Nam)

Sunday, July 5, 2015

Hệ thống lọc nước bằng cá rô phi giúp tăng năng suất tôm nuôi

Nuôi cá rô phi trong ao lắng là một phương pháp vệ sinh nước trước khi nuôi tôm, giảm bớt tối đa sự phát sinh mầm bệnh xảy ra trong ao tôm, giúp tăng năng suất tôm nuôi.

Theo thông tin từ Đài PT-TH Sóc Trăng, môi trường vùng nuôi xuống cấp sau nhiều năm nuôi liên tục, quy trình nuôi thâm canh tăng mạnh thì ít nhất giải pháp nuôi cá rô phi trong ao lắng sẽ góp phần giảm bớt lượng thuốc, hóa chất đưa xuống ao nuôi. Cá rô phi còn giúp giảm áp lực khí độc dưới đáy ao nuôi tôm, như các nhà khoa học nhận định: “cá rô phi là máy lọc nước sinh học” cho ao nuôi tôm.

Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Chủ tịch Hiệp hội Tôm Mỹ Thanh cho biết: “Môi trường xuống cấp nghiêm trọng, ở đây nhiều bà con trong hiệp hội cũng đã nuôi cá rô phi ghép trong ao nuôi, lấy nước nuôi cá rô phi để nuôi tôm thời gian vừa qua bà con làm rất hiệu quả. Tuy nhiên đây là biện pháp nuôi để ổn định môi trường, hạn chế thuốc hóa chất nhất là môi trường nước trong ao rất tốt, ít tốn chi phí để xử lý”.

Thạc sĩ Lâm Ánh Tiên - Phó Trưởng Phòng Kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông Sóc Trăng cho biết thêm: “Các nhà khoa học cũng đã chứng minh được hình thức nuôi cá phi trong ao, nuôi lồng, nuôi cá lấy nước nuôi tôm thì lợi ích khá lớn vì nguồn nước này có chứa các loại vi khuẩn có lợi. Nuôi ghép cá phi sẽ làm giảm các độc tố đáy ao tôm, như khí NH3 gây ô nhiễm nền đáy ao. Mặt khác khi lấy nguồn nước này thì các chất lơ lững trong ao nuôi rất hạn chế, có lợi cho nuôi tôm”.

Nuôi cá rô phi trong ao lắng là một phương pháp vệ sinh nước trước khi nuôi tôm, giảm bớt tối đa sự phát sinh mầm bệnh xảy ra trong ao tôm. Theo thống kê thì ao nuôi cá rô phi có màu nước tốt, ít tảo tàn, môi trường ổn định. Cá rô phi có khả năng làm xanh nước, giảm sự phát triển vi sinh vật.

Cá rô phi là máy lọc nước sinh học” cho ao nuôi tôm, góp phần tăng năng suất. Ảnh minh họa

Hơn nữa, cá rô phi còn sử dụng xác tôm, cá, động vật thủy sản chết, từ nguồn nước lấy vào hệ thống ao lắng, nhằm hạn chế sự phát tán của sinh vật gây bệnh từ ngoài vào hệ thống nuôi. Như vậy, nuôi cá rô phi trong ao lắng để có nguồn nước chất lượng tốt, dùng trong ao nuôi tôm hạn chế tối đa sự phát triển mầm bệnh.

Ao lắng nuôi cá rô phi có diện tích 20 - 25% diện tích mặt nước nuôi để dự trữ, chủ động nguồn nước có chất lượng phục vụ hệ thống nuôi tôm. Ao nuôi có diện tích 60 - 70% diện tích, còn lại là ao chứa nước thải.

Thiết kế ao theo kiểu tuần hoàn. Nước ao nuôi sau khi thay được chảy sang ao nước thải; ở đây nước được lắng cặn một phần, sau đó được bơm sang ao lắng. Ở ao lắng cá rô phi hoạt hóa để có chất lượng tốt cung cấp lại cho ao nuôi. Trước khi nuôi, cần tiến hành các bước cải tạo và chuẩn bị ao theo đúng  tiêu chuẩn kỹ thuật.

Khi chuẩn bị ao nuôi cần đầm, nén kỹ hoặc lót bạt để chống rò rỉ nước. Mật độ cá rô phi ít nhất 4 - 5 con/m2, không cho cá ăn trong suốt quá trình nuôi. Cá rô phi được nuôi trong ao lắng ít nhất một tháng trước khi thả tôm giống để ổn định môi trường nước. Cấp nước từ ao lắng vào cung cấp cho hệ thống nuôi tôm đến khi mực nước đạt 1,2 - 1,5 m.

Khi cấp nước vào ao nuôi, dùng lưới chắn cá có kích thước mắt lưới 2a = 5mm. Trong quá trình nuôi, định kỳ bổ sung nguồn nước từ ao lắng vào ao nuôi một tuần một lần. Sau khi cấp nước từ ao lắng vào hệ thống nuôi, cần bổ sung nước vào hệ thống ao lắng, để có thời gian cá rô phi hoạt hóa, để có nước đảm bảo chất lượng cung cấp cho ao nuôi tôm, theo thông tin từ Tạp chí Thủy sản Việt Nam. 

Thái Hà (Vietq)

Tăng năng suất cá kèo bằng phương pháp nuôi trên ruộng muối

Do đặc điểm cá kèo sống và thích nghi với mọi nguồn nước có độ mặn từ 0 - 40%, thích hợp nhất là 10 - 25%, nên việc nuôi xen canh sau thu hoạch muối phù hợp, giúp nông dân thu được năng suất cao.

Theo thông tin từ Hội nông dân, những năm gần đây phong trào nuôi cá kèo đang phát triển đều khắp các tỉnh ven biển ĐBSCL. Nhưng hiệu quả nhất là nuôi xen canh dưới chân ruộng sản xuất muối. Nuôi cá kèo theo mô hình này chẳng những cho năng suất cao mà còn cải tạo độ phì nhiêu của đất.

Nuôi cá kèo xen canh trong ruộng muối thì phải xử lý cho nước ra vào nhiều lần để hạ độ mặn. Với ao nuôi cá kèo, tốt nhất là làm hàng rào bằng nylon cao 0,5 - 0,6 mét để phòng cá kèo trượt đi khi có mưa to cũng như đề phòng cá lóc vào ao nuôi.

Trước khi thả giống phải xiết cạn đáy ao nuôi phơi nắng, bón vôi CaCO3 100 - 150 kg/ha và diệt cá tạp (chủ yếu cá bống tượng và cá lóc) bằng cây thuốc cá hoặc saponin, lấy nước vào thông qua lưới cước đạt độ sâu 25 - 30 cm là được. Sau 5 - 7 ngày, gây tảo bằng cách hòa tan 20 - 25 kg phân gà/ha với 5 kg phân urê và DAP tạt đều khắp ao nuôi (độ PH phù hợp là 7,5 - 8,5). Nếu không có phân gà thì dùng thay thế cám và bột đậu nành.

Giống cá kèo hiện chưa được sản xuất nhân tạo, nguồn giống chủ yếu là mua của ngư dân ven biển vớt hoặc kéo lưới ở bãi bồi ven biển hoặc trong rừng ngập mặn ven biển, nên kích cỡ không đồng đều. Mật độ thả giống tùy thuộc vào mô hình: nuôi quảng canh thì bình quân 8 - 10 con/m2, nuôi công nghiệp 40 - 50 con/m2. Thả giống vào lúc chiều mát để tránh sốc cá.

Việc nuôi cá kèo xen canh sau thu hoạch muối cho năng suất rất cao. Ảnh minh họa

Cá kèo chủ yếu ăn rong tảo, phù du trong nước và trong đất có nhiều bùn, hai tháng đầu không cần cho ăn thêm; muốn tăng nguồn thức ăn, thường xuyên cho nước vào và xử lý bằng cách bón phân (phân gà) để sinh rong tảo. Từ tháng thứ hai, cho ăn thêm cám hoặc thức ăn công nghiệp. Nếu nuôi công nghiệp mật độ dày thì nên tăng cường thức ăn công nghiệp dạng viên, tùy thuộc kích cỡ của cá.

Cá kèo ít xuất hiện bệnh (thời gian gần đây xuất hiện phình bụng do thức ăn có độ đạm cao và thừa thức ăn) lại mau lớn, sau 4 - 6 tháng nuôi (tùy loại giống), có thể thu hoạch được 40 - 50 con/kg. Nuôi quảng canh nếu chăm sóc, quản lý tốt sẽ cho năng suất 500 - 700 kg/ha, còn nuôi công nghiệp cho năng suất tới 6 - 8 tấn/ha.

Tại Bạc Liêu, mô hình nuôi cá kèo trên ruộng muối rất thành công, cho nông dân năng suất và thu nhập cao. Bạc Liêu thả nuôi cá kèo trên ruộng làm muối tập trung ở huyện Đông Hải, Hòa Bình và thị xã Bạc Liêu.Với giá cá kèo thương phẩm trên thị trường trên 100 ngàn đồng/kg, nông dân cho lãi khá cao.

Đặc biệt, gần đây giá cá kèo thương phẩm trên thị trường liên tục tăng mạnh, trong khi đó nguồn cung vẫn không đủ cầu, do đó nhiều người ồ ạt đầu tư sang nuôi cá kèo. Việc bà con diêm dân mạnh dạn sản xuất luân phiên một vụ cá kèo trên ruộng muối mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần cải thiện cuộc sống kinh tế gia đình đáng kể.

Để việc nuôi cá kèo thật sự có hiệu quả, góp phần vào sự đa dạng hóa các loại mặt hàng thủy sản trên cùng một diện tích sản xuất, tỉnh Bạc Liêu chỉ đạo ngành chức năng cần quan tâm tới việc nghiên cứu, sớm hoàn chỉnh và đưa vào ứng dụng quy trình sinh sản nhân tạo, giúp người nuôi chủ động nguồn giống, mở rộng diện tích sản xuất, theo tin tức từ TTXVN. 

Thái Hà (Vietq T/h)

Saturday, July 4, 2015

Kinh nghiệm vận chuyển cá giống

Tùy theo từng loại cá, kích thước cá, phương tiện vận chuyển mà ta chọn phương pháp vận chuyển cho phù hợp (kín hoặc hở) nhằm giảm tỷ lệ chết của cá. 

Đóng cá vào bao trước khi vận chuyển

1. Chuẩn bị 

1.1 Chọn thời điểm thích hợp khi vận chuyển 

Thông thường người vận chuyển cá giống thường chọn lúc thời tiết mát như buổi sáng, chiều mát hoặc ban đêm (đối với mùa hè). Trong điều kiện thời tiết vụ thu đông có thể vận chuyển cá giống cả ban ngày. 

Mục đích nhằm hạn chế tối đa quá trình hoạt động của cá, giảm quá trình hô hấp và trao đổi chất của cá. Vì vậy sẽ giảm được quá trình tiêu hao lượng oxy hòa tan trong nước khi vận chuyển. 

1.2 Giảm hàm lượng khí amoniac khi vận chuyển 

Khí amoniac sinh ra trong quá trình phân hủy các chất thải của cá và các chất hữu cơ có sẵn trong nước bởi các vi sinh vật yếm khí.  

Vì vậy khi cá thải phân ra ngoài thì các vi sinh vật này sẽ sử dụng oxy trong nước để phân hủy chất thải dẫn đến làm giảm nhanh lượng oxy hòa tan trong nước, đồng thời làm tăng lượng khí amoniac, do đó làm ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống của cá khi vận chuyển. 

Vì vậy, cần phải tìm cách giảm hàm lượng khí amoniac bằng cách ức chế hoạt động của các vi sinh vật yếm khí trong quá trình vận chuyển cá giống. Cụ thể: 

- Phải dùng nước sạch khi vận chuyển cá giống. 

- Phải "luyện cá" từ 1 - 2 ngày, tức là cho cá nhịn đói để hạn chế tối đa các chất thải của cá khi vận chuyển. 

- Khi nhốt cá trong bồn hoặc túi vận chuyển phải có máy sục khí hoặc tạo dòng nước chảy nhẹ bằng máy bơm để tránh hiện tượng cá chết ngạt do thiếu oxy. 

- Trước khi vận chuyển nên "tắm" cho cá bằng dung dịch muối ăn nồng độ từ 2 - 3% (pha từ 2 - 3 kg muối ăn trong 100 lít nước sạch) trong thời gian từ 7 - 10 phút

Muối ăn vừa có tác dụng ức chế quá trình hoạt động của các vi sinh vật vừa có tác dụng phòng bệnh cho cá. 

2. Quá trình vận chuyển 

Thông thường có 2 phương pháp vận chuyển cá giống, đó là vận chuyển kín và vận chuyển hở. Tùy theo từng loại cá, kích thước cá, phương tiện vận chuyển mà ta chọn phương pháp vận chuyển cho phù hợp nhằm giảm tỷ lệ chết của cá. 

Cá giống trước khi vận chuyển phải được theo dõi, đánh giá về chết lượng. Cá phải khỏe mạnh, bơi lội nhanh thành đàn, toàn thân sáng bóng không có biểu hiện xây xát, không bị mất nhớt, không bị dị hình, không bị bệnh, kích thước cá phải đồng đều. 

2.1 Phương pháp vận chuyển kín 

Đây là phương pháp vận chuyển mà cả cá và nước không tiếp xúc với môi trường bên ngoài. 

Phương pháp này được áp dụng cho hầu hết các loài cá giống, cá hương, cá bố mẹ. Phương tiện vận chuyển thường là xe máy hoặc ô tô... 

Dụng cụ vận chuyển là các túi ni lông có bơm khí oxy, mỗi túi có thể tích từ 40 - 45 lít

Nếu túi không có đáy thì cần buộc gập để tạo đáy túi, khi buộc cần kèm theo ống dẫn bằng nhựa mềm dài từ 15 - 20 cm ở đáy túi, phòng khi lượng oxy trong túi giảm cần phải bơm thêm oxy vào trong túi. 

Sau đó đổ nước sạch vào trong túi và cho cá giống vào. Lượng cá giống vận chuyển trong mỗi túi phải phụ thuộc vào kích thước của cá giống. 

Nếu kích thước cá giống từ 1 - 1,5 cm thì nên đóng từ 3 - 4 kg cá/túi, nếu kích thước cá từ 3 - 4 cm thì chỉ nên đóng 2 - 3 kg cá/túi

Sau khi cho cá vào thì buộc chặt miệng túi không cho không khí thoát ra ngoài. Nếu khoảng cách vận chuyển đi xa thì cần bơm thêm không khí qua ống nhựa ở đáy túi. 

Lưu ý: Đối với phương pháp vận chuyển này thì thời gian vận chuyển không nên quá 7 giờ

2.2 Phương pháp vận chuyển hở 

Là phương pháp vận chuyển mà cả cá và nước tiếp xúc trực tiếp với môi trường không khí bên ngoài. 

Phương pháp này chỉ nên áp dụng cho quãng đường vận chuyển ngắn (dưới 20 km) với lượng cá giống ít và chủ yếu để vận chuyển cá bố mẹ. 

Dụng cụ vận chuyển thường là xô, chậu, sọt có lót ni lon và có trang bị hệ thống sục khí. 

Lưu ý: Trước khi thả cá giống xuống ao cần ngâm túi cá xuống dưới nước ao khoảng 15 - 20 phút để cá không bị sốc do chênh lệch nhiệt độ giữa nước ao và nước trong túi cá khi vận chuyển. 

Sau đó mở miệng bao cho nước ngoài ao chảy vào túi rồi từ từ cho cá bơi ra ngoài ao. Vào mùa hè, nên thả cá lúc trời mát vào buổi sáng từ 6 - 8 giờ, buổi chiều từ 16 - 18 giờ hoặc thả cá vào ban đêm.

Phạm Văn Phú (nongnghiep.vn)

Friday, May 8, 2015

Xử lý cá rô phi đơn tính bằng 17 Alpha Methyltestosterone

Xử lý cá rô phi đơn tính đực bằng 17 alpha Methyltestosterone hiện nay là phương pháp phổ biến, cho tỷ lệ đực cao và ổn định, chi phí đầu tư thấp và thời gian thực hiện ngắn so với các phương pháp còn lại.

1. Phối trộn thức ăn

Thức ăn nuôi cá đơn tính đực trong thời gian 21 ngày là thức ăn trộn hoóc môn có khả năng hoạt hoá giới tính đực.

Công thức phối trộn 1 kg thức ăn trộn hoóc môn có khả năng hoạt hóa như sau:

+ Vitamin C: 10g

+ Bột cá nhạt mịn: 1000 g

+ 60 mg 17 alpha Methyltestosterone

+ Cồn Etanol 0,3 - 0,5 lít 960

Cách trộn thức ăn hoạt hoá

10 gram Vitamin C được trộn đều với 1.000 g bột cá nhạt mịn sau đó làm ướt đều bằng 0,3 - 0,5 lít Etanol 960 đã hòa tan 60 mg 17alpha-Methyltestosterone. Sấy ở nhiệt độ 45 - 500C hoặc phơi khô và bảo quản ở nơi khô ráo nhưng không quá hai tuần.

Ảnh: Vũ Mưa 

2. Xử lý cá bột

2.1. Chuẩn bị ao giai

Ao cắm giai để xử lý cá bột được chuẩn bị cũng như ao nuôi vỗ cá bố mẹ, nhưng không gây màu nước ao, không bón phân vô cơ hoặc hữu cơ.

Độ sâu của ao từ 1,2 - 1,5 m.

2.2. Giai xử lý

Giai dùng để xử lý cá bột là giai mau có cỡ mắt lưới 1 mm.

Diện tích của giai tối thiểu là 0,81 m2 và tối đa là 5,4 m2.

Kích cỡ của giai có thể là: 0,9 x 0,9 x 0,9 (m) hoặc: 1,8 x 3,0 x 0,9 (m).

Độ sâu ngập nước của giai là 0,6 m.

2.3. Mật độ cá bột khi xử lý

Mật độ tối thiểu của cá bột xử lý là 10 con/lít và tối đa là 15 con/lít. Thời gian xử lý là 21 ngày. Với giai có diện tích 0,81 m2 ta có thể thả được 5.000 - 7.500 cá bột/giai. Giai có diện tích 5,4 m2 ta có thể thả được 30.000 - 45.000 cá bột/giai.

2.4. Thời gian xử lý

Thời gian xỷ lý cá bột là 21 ngày

2.5. Chăm sóc cá và quản lý

Cá bột được cho ăn bằng thức ăn có khả năng đực hóa giới tính đực. Lượng thức ăn hàng ngày được tính như Bảng:



Để xác định được lượng thức ăn cần thiết cho cá bột đang được xử lý cân mẫu vào ngày thứ 5 của mỗi chu kỳ cho ăn, phải cân mẫu tối thiểu khối lượng của 200 cá thể, mẫu phải được cân bằng cân điện tử để đảm bảo độ chính xác. Ta có thể tính được lượng thức ăn theo công thức sau:

A= (p x k ) x q / 200

Trong đó: A: là khối lượng thức ăn của lần sau.

P: khối lượng của mẫu.

K: số lượng cá thả ban đầu.

Q: tỷ lệ % thức ăn theo quy trình.

Trong thời gian xử lý đơn tính, 10 ngày thay giai một lần để đoản bảo độ thông thoáng, tránh trường hợp tảo bám vào giai làm hạn chế lưu thông nước trong và ngoài giai. Khi cá thiếu ôxy sẽ kém ăn và hao hụt lớn, tỷ lệ chuyển giới tính sẽ không cao.

Thường xuyên theo dõi bệnh cá vì nuôi cá ở mật độ cao thường hay mắc bệnh ký sinh trùng (như trùng bánh xe, sán lá đơn chủ) để có biện pháp xử lý kịp thời.

Sau khi cá bột được nuôi đủ 21 ngày (gọi tắt là 21 ngày tuổi) đưa cá ra ương nuôi tiếp trong ao đất hoặc trong giai bằng thức ăn tổng hợp bình thường (không có hoóc môn 17 alpha Methyl Testosterone ).

3. Kết quả

Áp dụng quy trình công nghệ này tỷ lệ sống cá 21 ngày tuổi 70 - 75%. Kích cỡ đạt 15.000 - 10.000 cá thể/kg. Tỷ lệ đực trong quần đàn đạt trên 95%.

ThS Xuân Kỳ/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Biện pháp nâng tỷ lệ sống trong ương cá tra từ bột lên hương

Hiện nay, tỷ lệ sống khi ương cá tra từ bột lên hương thường chỉ đạt trung bình từ 10 - 15%. Tìm ra nguyên nhân và có biện pháp để nâng cao tỷ lệ sống khi ương cá tra sẽ giúp giải quyết vấn đề này.

Nguyên nhân

1. Cải tạo ao

Khi cải tạo ao, người nuôi không thực hiện quy trình gây màu nước tạo thức ăn tự nhiên là luân trùng hoặc trứng nước - là khâu đầu tiên trong chuỗi thức ăn của cá tra. Do cá bột khi hết noãn hoàn thì tìm thức ăn tự nhiên để ăn, do môi trường mới cải tạo không có thức ăn hoặc người dân sử dụng thức ăn tự chế, thức ăn công nghiệp không phù hợp nên cá bị suy dinh dưỡng, cá ăn thịt lẫn nhau, dịch bệnh xảy ra và làm giảm tỷ lệ sống.

2. Quản lý môi trường

Khi thả cá bột để ương, người nuôi sử dụng thức ăn tự chế hoặc thức ăn công nghiệp quá nhiều trứng nước trong ao phát triển vượt mức cho phép, không quản lý kịp. Khi trứng nước nhiều sẽ cạnh tranh ôxy với cá tra bột làm cá thiếu ôxy ngộp và chết không rỏ nguyên nhân, nhất là giai đọan cá chưa phát triển hoàn chỉnh cơ quan thở khí trời.

Ao được thiết kế hệ thống sụt khí đáy ao 

Biện pháp

1. Chuẩn bị ao:

Ao có điện tích 1.000 m2 trở lên, độ sâu 1,2 - 1,5 m.

Tát cạn, diệt cá tạp.

Sên vét bùn đáy ao.

Bón vôi: 7 - 10 kg/100 m2

Bố trí hệ thống sụt khí đáy ao.

Lấy nước vào ao từ từ qua lưới lọc từ 0,7 - 0,8 m.

Thả giống trứng nước gây thức ăn tự nhiên (Moina).

Tiến hành kiểm tra môi trường và thả cá bột, nên thả vào buổi sáng.

2. Mật độ:

Mật độ thả trung bình: 400 - 500 con/m2.

Sau 3 - 4 ngày thả cá bột, lấy nước vào ao tới mức phù hợp 1 - 1,2 m.

3. Thức ăn:


Cho cá ăn trứng nước sống và sạch trong 12 ngày đầu.

Trứng nước được rửa sạch bằng nước muối 5.

Lượng thức ăn cần cung cho cá bột theo thời gian.

4. Quản lý môi trường

Các chỉ tiêu môi trường cần kiểm soát:

O2, pH: ngày 2 lần

NH3H2S: tuần/lần

Trong đó, hệ thống sụt khí đáy ao rất quan trọng, nó giúp giải phóng đi một phần lượng khí độc có từ đáy ao ra ngoài, giúp cho môi trường ao tương đối ổn định. 

Phạm Hoàng Dũng (TT Khuyến nông - Khuyến ngư Đồng Tháp)

Thursday, April 16, 2015

Quy trình nuôi cá lóc đầu nhím thương phẩm

Tại ĐBSCL, cá lóc đầu nhím được nuôi phổ biến, đem lại thu nhập tốt cho người nuôi. Trước tốc độ phát triển nhanh và mạnh của đối tượng này, TSVN chọn giới thiệu quy trình nuôi cá lóc đầu nhím thương phẩm hiệu quả.

Chuẩn bị ao nuôi

Diện tích ao nuôi tùy thuộc vào điều kiện của cơ sở, tuy nhiên thích hợp nhất là khoảng 1.000 - 5.000 m2 vì nếu diện tích ao quá lớn thì rất khó quản lý. Độ sâu ao nuôi lớn hơn 2 m, một số hộ nuôi có thể có thể tận dụng ao nuôi cá tra để nuôi nên độ sâu có thể lên đến 3,5 - 5 m. Trong ao, nên chuẩn bị 1 cái vèo có diện tích bằng khoảng 1/10 - 1/5 diện tích ao nuôi và đặt cách bờ khoảng 3 - 5 m, làm 1 cái cầu bằng gỗ để đi từ bờ ra vèo.

Sau khi đã chuẩn bị ao sạch sẽ thì cấp nước vào, bơm nước vào đầy ao qua lưới lọc để tránh cá tạp và địch hại vào ao ăn cá. Gây màu nước bằng hỗn hợp cám gạo (1 kg) + bột đậu nành (1 kg) hòa với nước ngâm qua đêm tạt đều cho 1.000 m2. Ngày tạt 2 lần, tối ngâm thì sáng tạt, sáng ngâm thì chiều (16 - 17 h) tạt. Hoặc tạt trực tiếp xuống ao 2 kg thức ăn cá công nghiệp dạng bột cho 1.000 m2 ao.

Thả giống

Chọn con giống đồng đều về kích cỡ, khỏe mạnh, màu sắc sáng đẹp, thân hình cân đối, không mang các dấu hiệu nhiễm bệnh. Tốt hơn hết người dân nên chọn mua tại các cơ sở sản xuất uy tín.

Tùy thuộc vào kỹ thuật của người nuôi mà tiến hành nuôi với mật độ thưa hay dày. Thường cá lóc giống được bắt về có kích thước lồng 4 - 6 cm và thả nuôi với mật độ 50 - 100 con/m2.

Người dân nên mua cá giống ở các cơ sở uy tín - Ảnh: Lê Hoàng Vũ 

Giống được thả vào vèo, do giai đoạn này cá còn nhỏ mình nuôi trong vèo dễ cho việc chăm sóc và quản lý hơn. Sau khi nuôi khoảng 2 tháng, cá đạt trong  lượng khoảng 100 - 180 g/con thì chúng ta tiến hành lọc lại cá và cho ra khỏi vèo, còn lại những con nhỏ quá mình có thể chuyển sang 1 ao nhỏ khác, làm thế này thì lúc thu hoạch cá của chúng ta sẽ đồng đều hơn.

Cho ăn 

Hiện nay cá lóc nuôi cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp có hiện tượng phổ biến là cá bị gù dao động 4 - 40% (gồm cá bị gãy xương, gãy lưng), loại cá này giá bán thấp hơn so với cá bình thường khoảng 10.000 đồng/kg. Mặc dù chưa có nghiên cứu nào nói về nguyên nhân cá bị gù. Tuy nhiên, đa số người dân nuôi cá lóc thì cho rằng là do dùng thức ăn công nghiệp. Do đó khi chọn thức ăn công nghiệp cho cá chúng ta phải cẩn trọng, phải chọn loại thức ăn có người nuôi đã từng dùng và tỉ lệ gù không quá 5% thì có thể chấp nhận được.

Một kinh nghiệm quan trọng để phòng bệnh gù là trong giai đoạn đầu từ khi thả giống đến giai đoạn 2 tháng chúng ta cho cá ăn hỗn hợp thức ăn công nghiệp và cá biển. Cách cho ăn là xay cá biển nhỏ trộn với thức ăn viên với tỷ lệ 4kg cá biển trộn với 1 kg thức ăn viên. Sau đó rải từ từ trên sàng ăn, ở đây chúng ta cho ăn theo nhu cầu của cá, khi nào thấy cá bắt mồi hơi yếu thì ta ngưng cho ăn là vừa, tránh để thức ăn dư gây ô nhiễm nguồn nước.

Sau 2 tháng nuôi nếu nguồn cá biển giá còn rẻ và có đủ nhân công để cho ăn thì chúng ta vẫn nên nuôi kết hợp 2 loại thức ăn này. Nếu không đáp ứng được điều kiện trên thì chúng ta chuyển cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp.

Thường xuyên theo dõi hoạt động của cá, mức độ sử dụng thức ăn để phát hiện bệnh và điều trị kịp thời. Để duy trì chất lượng nước nuôi, khoảng 7 ngày chúng ta thay nước khoảng 20 - 30% hoặc cấp nước thêm cho ao. Định kỳ (10 ngày/lần) dùng vôi bột hòa với nước tạt đều khắp ao để diệt mầm bệnh, liều lượng từ 2 - 3 kg vôi bột/100 m2.

Thu hoạch

Sau khoảng 5 - 6 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng bình quân khoảng 400 - 600g/con chúng ta có thể thu hoạch, tỉ lệ sống trung bình đạt khảng 80%, đối với thức ăn công nghiệp hệ số chuyển đổi thức ăn FCR khoảng 1,2 - 1,4 kg thức ăn/kg cá cá tùy thuộc vào loại thức ăn và kỹ thuật của người nuôi. 

Hiện tại chưa thấy tài liệu nào phân loại cá lóc đầu nhím. Theo một số tài liệu thì cá lóc đầu nhím là cá lóc được lai giữa cá lóc môi trề (Channa SP) và cá lóc đen (Channa stritus) .

Thạc sĩ Nguyễn Gia Hiển (Đại học Đồng Tháp)/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam


Monday, April 13, 2015

Cá nhụ bốn râu

Cá nhụ không xa lạ gì với người miền Bắc bởi từ xa xưa nó đã được xếp vào nhóm cá biển đặc sản thuộc hàng tứ phẩm "chim, thu, nhụ, đé".

Cá nhụ bốn râu hay còn là cá gộc (Eleutheronema tetradactylum), tên tiếng Anh là Fourfinger threadfin là loài lớn nhất trong các loài cá nhụ. Cá có thân dài, dẹt bên. Chiều dài thân bằng 3,7 - 4,4 lần chiều cao. Đầu ngắn, mắt to, có màng mỡ hình bầu dục rất phát triển. Lưng màu xám nhạt, bụng màu trắng xám, có bốn râu. Các màng vây của cá có màu vàng sặc sỡ. Xương lá mía với các tấm răng sớm rụng ở cả hai phía ngoại trừ ở cá con. Phần sau của hàm trên sâu, chiếm 3 - 4% chiều dài chuẩn. Phần mở rộng tấm răng ngắn vào mặt bên của hàm dưới, chiếm 7 - 9% chiều dài chuẩn. Cá nhụ bốn râu là loài cá lớn, có chiều dài trung bình khi trưởng thành 50 - 70 cm, nặng 5 - 7 kg, lớn nhất có thể dài đến 200 m và nặng tới 145 kg. Cá nhụ bốn râu là loài rộng muối (sống được cả trong môi trường nước lợ lẫn nước biển), là loài cá dữ, thức ăn chính gồm các loài cá nhỏ, tôm, cua. Sinh trưởng nhanh. Đây là loài cá lưỡng tính có các sản phẩm sinh dục đực chín trước.


Cá phân bố ở khu vực nhiệt đới từ Ba Tư đến Papua New Guinea và dọc theo ven bờ biển tây Ấn Độ Dương, Ấn Độ, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Trung Quốc, phía bắc Australia và Việt Nam. Cá nhụ bốn râu được nuôi nhiều ở Trung Quốc, Đài Loan, Philippines... Ở Việt Nam, cá nhụ bốn râu phân bố ở các vùng biển Vịnh Bắc bộ, miền Trung và Nam bộ. Trong tự nhiên, do khai thác quá mức nên nguồn lợi cá nhụ bốn râu đang bị suy giảm nghiêm trọng. Hiện, cá đã được xếp vào Sách Đỏ của Việt Nam.

Cá nhụ bốn râu là một trong bốn loài cá quý, được ưa thích trên thị trường và là một trong những đối tượng mới được lựa chọn cho mục tiêu đa dạng hóa các đối tượng nuôi biển. Cá có thể nuôi được với nhiều hình thức khác nhau như nuôi trong ao đất, lồng bè và các đầm nước lợ hoặc tận dụng các ao đầm nuôi tôm sau khi dịch bệnh. Điều kiện thích hợp để phát triển nuôi thương phẩm loài cá này là những nơi có độ mặn 20 - 30%, pH 7,5 - 8,5, hàm lượng ôxy hòa tan > 5 mg/lít. Mật độ nuôi trong ao, đầm khoảng 1 - 1,5 con/m2, trong lồng 9 - 12 con/m3. Cá nhụ bốn râu nuôi thương phẩm cho ăn thức ăn công nghiệp và thức ăn tươi đạt tỷ lệ sống, sức sinh trưởng tương đương nhau, vì vậy trong quá trình nuôi tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc mà có thể sử dụng tùy loại. Khi nuôi cho cá ăn với khẩu phần 4 - 5 %. Cá nhụ bốn râu là loài ưa sống sạch nên trong quá trình nuôi với hình thức nuôi ao, định kỳ 10 ngày thay nước một lần, mỗi lần thay 100% lượng nước trong ao là tốt nhất. Cá nhụ 4 râu là loại cá có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, cá giống có kích thước 1,5 - 2 g/con, nuôi trong thời gian 18 - 20 tháng cá đạt kích cỡ thương phẩm 1.200 - 1.500 g/con. Tỷ lệ sống đạt trên 70%. Nuôi cá nhụ bốn râu cho năng suất cao, hình thức nuôi trong ao đạt 4.720 - 4.940 kg/ha/vụ, nuôi lồng đạt khoảng 14,75 kg/m3 lồng/vụ. Cá có khả năng thích nghi được trong điều kiện mùa đông miền Bắc nên trong quá trình nuôi không bị phụ thuộc vào mùa vụ.

Nguồn cung cấp giống cá nhụ bốn râu trước kia là khai thác ngoài tự nhiên và nhập giống từ Đài Loan. Từ năm 2013 đến nay, cá nhụ bốn râu được sinh sản nhân tạo tại Trung tâm quốc gia Giống hải sản miền Bắc (thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I). 

Cá nhụ bốn râu được nghiên cứu ở Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc từ năm 2009; Năm 2013, Trung tâm đã nghiên cứu thành công quy trình sản xuất giống nhân tạo và tới nay đã hoàn thiện các quy trình nuôi thương phẩm.

Nhung Nguyễn/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Nuôi cá tra thịt trắng

Sản phẩm cá tra thịt trắng rất được ưa chuộng ở các thị trường lớn như Mỹ, Nhật và EU nên kỹ thuật nuôi cá tra thịt trắng đang được các doanh nghiệp chế biến và người nuôi quan tâm.

Yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thịt cá

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì màu sắc và chất lượng thịt cá tra được quyết định bởi chế độ dinh dưỡng. Thức ăn không phù hợp; trong quá trình nuôi, cá bị nhiễm các bệnh ảnh hưởng đến gan mật (như giun sán, gan thận mủ); dùng thuốc kháng sinh dài ngày và dùng nhiều loại để chữa bệnh cá, đồng thời quá trình nuôi ao ít thay nước, lượng mùn bã hữu cơ trong ao tích tụ nhiều, màu nước đậm đặc, thiếu ôxy sẽ làm cho thịt cá chuyển thành màu vàng. Ngoài ra, trong quá trình thay nước (tháng 6 - 7), thay phải nước có nhiều phù sa cũng làm cho màu sắc của cá chuyển vàng.

Kỹ thuật nuôi

Chuẩn bị ao và thả giống

Ao nuôi nên chọn ở những nơi có nguồn nước ít ô nhiễm và thuận tiện thay nước (gần sông, kênh thủy lợi). Quá trình cải tạo ao nên sên vét hết lượng bùn đen trong ao và tẩy vôi kỹ (12 - 15 kg/100 m2).

Nước cấp vào ao được lọc qua lưới và độ sâu 1,2 m trở lên. Sau khi cấp nước 3 ngày thì có thể thả giống; giống phải được mua ở những nơi uy tín, có chất lượng tốt và nguồn gốc rõ ràng. Cá giống phải có kích cỡ đồng đều, không bị nhiễm bệnh, mật độ cá thả vừa phải (30 con/m2) .

Cá tra thịt trắng được ưa chuộng ở nhiều thị trường - Ảnh: Phan Thanh Cường 

Chăm sóc và quản lý

Thức ăn cho cá tra nuôi rất quan trọng và quyết định đến màu sắc của thịt cá. Hiện nay giá cá thương phẩm giảm thấp, người nuôi có hiện tượng cho cá ăn cầm chừng để đợi giá lên hoặc tiết kiệm cho cá ăn bằng thức ăn tự chế có hàm lượng đạm thấp - Điều này rất bất lợi, bởi vì nếu cá ăn không đủ lượng và chất thì chất lượng cá thương phẩm sẽ kém và màu sắc sẽ vàng; mặt khác thức ăn chế biến nếu có rau xanh mà không được ủ cũng khiến thịt cá bị vàng, kém chất lượng.

Do vậy, trong quá trình nuôi phải đảm bảo thức ăn đủ lượng và chất. Đối với cám công nghiệp, khi cá còn nhỏ cho ăn lượng thức ăn chiếm từ 6 - 10% trọng lượng thân, hàm lượng đạm 30% trở lên; khi lớn (>500 g/con) thì cho ăn thức ăn chiếm 4 - 5% trọng lượng thân, hàm lượng đạm 25%. Thức ăn từ chế biến cũng phải phối trộn để có số lượng và chất lượng tương đương; trong trường hợp trộn thêm rau xanh và nấu chín như  rau muống, cám tấm, cá tạp xay nhuyễn thì nên ủ chua bằng bã rượu, sau đó mới cho ăn. Từ kinh nghiệm thực tế đối với thức ăn tự chế, nếu phối trộn bã hèm rượu (10 - 15%) vào thức ăn sẽ giúp cá có sức đề kháng tốt, ít bệnh và quan trọng là thịt cá có màu trắng với tỉ lệ cao. Đối với thức ăn công nghiệp và tự chế, khi cho cá ăn cần phối trộn thêm men vi sinh, Vitamin C với liều lượng hướng dẫn trên bao bì để tăng cường sức đề kháng và quá trình tiêu hóa giúp cá hấp thu thức ăn được tốt hơn.

Đối với ao có lắp hệ thống sục khí, khi khối lượng cá trong ao từ 2 kg/m3 trở lên thì  tiến hành sục khí 12 giờ/ ngày; khi khối lượng cá đạt 6 kg/m3 nên sục khí 24 giờ/ngày.

Những ao nuôi không lắp sục khí, sau 30 ngày thả cá giống cần thay nước định kỳ hằng tuần, sau 3 tháng nuôi tăng lên 3 - 5 lần/tuần, lượng nước thay 30%. Càng đến cuối vụ nuôi thì nước càng bẩn, cần thay nước hằng ngày, mỗi lần thay 50% lượng nước trong ao. Trong trường hợp ao nuôi có tảo phát triển mạnh, dùng BKC hoặc formol để cắt tảo với liều lượng 5 - 7 ppm, nên xử lý vào buổi trưa nắng. Sau một tháng nuôi, nền đáy ao sẽ tích tụ nhiều mùn bã hữu cơ, sinh nhiều khí độc; vì vậy cần sử dụng chế phẩm sinh học (EMC, Bio ZeoGreen , Bio Yucca…) liều lượng theo hướng dẫn để khoáng hóa đáy ao, tiêu độc và cạnh tranh không gian sống đối vi khuẩn gây bệnh giúp cá phát triển tốt hơn.

Cần áp dụng biện pháp phòng bệnh hơn chữa bệnh. Căn cứ vào tình hình thời tiết, sức ăn của cá để điều chỉnh thức ăn cho cá phù hợp, tránh dư thừa. Hằng ngày quan sát các hoạt động của cá để có biện pháp xử lý kịp thời. Trong trường hợp cá bị bệnh thì khi dùng thuốc và hóa chất cần có sự tư vấn của các cán bộ kỹ thuật. Nếu dùng kháng sinh chữa bệnh cho cá, cần đúng thuốc, đúng bệnh, đúng liều lượng và đúng thời gian.

Thu hoạch

Trước khi thu hoạch 1 tháng, cần thay nước hằng ngày để nước ao luôn trong sạch. Nên dừng sử dụng thuốc chữa bệnh và hóa chất trước khi thu hoạch cá 15 - 20 ngày

Thịt cá tra có thể phân loại từ cao đến thấp (như trắng, vàng chanh, hồng và vàng). Thông thường những hầm nuôi cá tra có tỷ lệ cá thịt vàng cao thì không được các nhà máy chế biến ưa chuộng, khi thu mua giá cá sẽ bị giảm 15 - 20% so với giá cá tra thịt trắng cùng kích cỡ.

Hải An/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Wednesday, April 8, 2015

Cải tạo ao nuôi cá vược

Xã Diễn Vạn, huyện Diễn Châu (Nghệ An) có tổng diện tích nuôi thủy sản vùng mặn lợ là 37 ha, trong đó 9 ha nuôi cá vược. Hiện tại người dân đang chuẩn bị ao để bước vào vụ nuôi mới.  

Cải tạo ao trước khi nuôi

Đây là khâu quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế. Cá vược là loài ăn tạp nên lượng thức ăn thải ra rất nhiều, sau mỗi vụ nuôi do lượng thức ăn dư thừa, chất thải của cá bị tích tụ ở đáy ao sẽ tạo thành một lớp mùn bã hữu cơ, là tác nhân gây bệnh và sản sinh ra một số khí độc làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của cá. 

Mục đích chính của chuẩn bị ao là tạo ra một nền đáy sạch, để dễ dàng điều khiển các yếu tố môi trường trong suốt vụ nuôi, cá ít bị dịch bệnh, đạt năng suất cao. Chuẩn bị ao gồm các bước sau: 

1. Cải tạo đáy 

Đối với vùng đất không bị nhiễm phèn, tháo cạn nước, tiến hành nạo vét lớp bùn đen tích tụ ở đáy ao. 

Đối với ao bị nhiễm phèn, tiến hành cải tạ ướt, sục bùn lên bằng cách cho trâu bừa hoặc dùng trang cao, dùng máy bơm áp lực mạnh để rửa trôi chất thải ra khỏi ao. 

2. Bón vôi 

Sau khi đưa lớp bùn đen ra ngoài thì tiến hành bón vôi ở đáy và xung quanh bờ ao để diệt khuẩn, lượng vôi bón 1 - 2 tấn/ha. Vôi có nhiều loại, khi cải tạo thì nên dùng vôi bột CaO vì loại vôi này có tác dụng diệt khuẩn cao, còn trong quá trình nuôi nên dùng vôi Dolomite có khả năng làm tăng hệ đệm của nước, tránh gây sốc cho cá. 

Sau khi bón vôi xung quanh bờ ao và đáy ao, phơi đáy ao nứt chân chim từ 10 - 15 ngày để diệt khuẩn. 

Lưu ý: 

Đối với ao bị nhiễm phèn không phơi đáy ao để tránh hiện tượng xì phèn. 

Kiểm tra bờ ao, gia cố bờ tránh hiện tượng bị rò rỉ, cống cấp, cống thoát trước khi thả cá giống. 

3. Lấy nước và diệt tạp 

Lấy nước qua lưới mịn với mực nước 1 - 1,2 m, độ mặn thích hợp cho cá phát triển 10 - 20‰

Diệt tạp bằng Saponin với lượng 10 - 15 kg/1.000 m3, với mục đích diệt các loại địch hại như cá tạp, cua, còng… đảm bảo cá nuôi đạt tỷ lệ sống cao. Sau khi lấy đủ mực nước trong ao, gây màu nước sau 3 - 5 ngày để ổn định môi trường nước thì tiến hành thả cá giống.

Cao Thị Hà/ nongnghiep.vn