Showing posts with label Cá lóc. Show all posts
Showing posts with label Cá lóc. Show all posts

Thursday, April 16, 2015

Quy trình nuôi cá lóc đầu nhím thương phẩm

Tại ĐBSCL, cá lóc đầu nhím được nuôi phổ biến, đem lại thu nhập tốt cho người nuôi. Trước tốc độ phát triển nhanh và mạnh của đối tượng này, TSVN chọn giới thiệu quy trình nuôi cá lóc đầu nhím thương phẩm hiệu quả.

Chuẩn bị ao nuôi

Diện tích ao nuôi tùy thuộc vào điều kiện của cơ sở, tuy nhiên thích hợp nhất là khoảng 1.000 - 5.000 m2 vì nếu diện tích ao quá lớn thì rất khó quản lý. Độ sâu ao nuôi lớn hơn 2 m, một số hộ nuôi có thể có thể tận dụng ao nuôi cá tra để nuôi nên độ sâu có thể lên đến 3,5 - 5 m. Trong ao, nên chuẩn bị 1 cái vèo có diện tích bằng khoảng 1/10 - 1/5 diện tích ao nuôi và đặt cách bờ khoảng 3 - 5 m, làm 1 cái cầu bằng gỗ để đi từ bờ ra vèo.

Sau khi đã chuẩn bị ao sạch sẽ thì cấp nước vào, bơm nước vào đầy ao qua lưới lọc để tránh cá tạp và địch hại vào ao ăn cá. Gây màu nước bằng hỗn hợp cám gạo (1 kg) + bột đậu nành (1 kg) hòa với nước ngâm qua đêm tạt đều cho 1.000 m2. Ngày tạt 2 lần, tối ngâm thì sáng tạt, sáng ngâm thì chiều (16 - 17 h) tạt. Hoặc tạt trực tiếp xuống ao 2 kg thức ăn cá công nghiệp dạng bột cho 1.000 m2 ao.

Thả giống

Chọn con giống đồng đều về kích cỡ, khỏe mạnh, màu sắc sáng đẹp, thân hình cân đối, không mang các dấu hiệu nhiễm bệnh. Tốt hơn hết người dân nên chọn mua tại các cơ sở sản xuất uy tín.

Tùy thuộc vào kỹ thuật của người nuôi mà tiến hành nuôi với mật độ thưa hay dày. Thường cá lóc giống được bắt về có kích thước lồng 4 - 6 cm và thả nuôi với mật độ 50 - 100 con/m2.

Người dân nên mua cá giống ở các cơ sở uy tín - Ảnh: Lê Hoàng Vũ 

Giống được thả vào vèo, do giai đoạn này cá còn nhỏ mình nuôi trong vèo dễ cho việc chăm sóc và quản lý hơn. Sau khi nuôi khoảng 2 tháng, cá đạt trong  lượng khoảng 100 - 180 g/con thì chúng ta tiến hành lọc lại cá và cho ra khỏi vèo, còn lại những con nhỏ quá mình có thể chuyển sang 1 ao nhỏ khác, làm thế này thì lúc thu hoạch cá của chúng ta sẽ đồng đều hơn.

Cho ăn 

Hiện nay cá lóc nuôi cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp có hiện tượng phổ biến là cá bị gù dao động 4 - 40% (gồm cá bị gãy xương, gãy lưng), loại cá này giá bán thấp hơn so với cá bình thường khoảng 10.000 đồng/kg. Mặc dù chưa có nghiên cứu nào nói về nguyên nhân cá bị gù. Tuy nhiên, đa số người dân nuôi cá lóc thì cho rằng là do dùng thức ăn công nghiệp. Do đó khi chọn thức ăn công nghiệp cho cá chúng ta phải cẩn trọng, phải chọn loại thức ăn có người nuôi đã từng dùng và tỉ lệ gù không quá 5% thì có thể chấp nhận được.

Một kinh nghiệm quan trọng để phòng bệnh gù là trong giai đoạn đầu từ khi thả giống đến giai đoạn 2 tháng chúng ta cho cá ăn hỗn hợp thức ăn công nghiệp và cá biển. Cách cho ăn là xay cá biển nhỏ trộn với thức ăn viên với tỷ lệ 4kg cá biển trộn với 1 kg thức ăn viên. Sau đó rải từ từ trên sàng ăn, ở đây chúng ta cho ăn theo nhu cầu của cá, khi nào thấy cá bắt mồi hơi yếu thì ta ngưng cho ăn là vừa, tránh để thức ăn dư gây ô nhiễm nguồn nước.

Sau 2 tháng nuôi nếu nguồn cá biển giá còn rẻ và có đủ nhân công để cho ăn thì chúng ta vẫn nên nuôi kết hợp 2 loại thức ăn này. Nếu không đáp ứng được điều kiện trên thì chúng ta chuyển cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp.

Thường xuyên theo dõi hoạt động của cá, mức độ sử dụng thức ăn để phát hiện bệnh và điều trị kịp thời. Để duy trì chất lượng nước nuôi, khoảng 7 ngày chúng ta thay nước khoảng 20 - 30% hoặc cấp nước thêm cho ao. Định kỳ (10 ngày/lần) dùng vôi bột hòa với nước tạt đều khắp ao để diệt mầm bệnh, liều lượng từ 2 - 3 kg vôi bột/100 m2.

Thu hoạch

Sau khoảng 5 - 6 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng bình quân khoảng 400 - 600g/con chúng ta có thể thu hoạch, tỉ lệ sống trung bình đạt khảng 80%, đối với thức ăn công nghiệp hệ số chuyển đổi thức ăn FCR khoảng 1,2 - 1,4 kg thức ăn/kg cá cá tùy thuộc vào loại thức ăn và kỹ thuật của người nuôi. 

Hiện tại chưa thấy tài liệu nào phân loại cá lóc đầu nhím. Theo một số tài liệu thì cá lóc đầu nhím là cá lóc được lai giữa cá lóc môi trề (Channa SP) và cá lóc đen (Channa stritus) .

Thạc sĩ Nguyễn Gia Hiển (Đại học Đồng Tháp)/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam


Saturday, August 9, 2014

Những điều cần lưu ý khi nuôi cá lóc trên bể lót bạt

Cá lóc là loài cá dễ nuôi, đem lại hiệu quả kinh tế cao nên gần đây nó đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh An Giang nói riêng. Cá lóc được nuôi với nhiều hình thức khác nhau như: Nuôi ao, lồng bè, vèo trong ao, bể lót bạt. Trong đó, mô hình nuôi bể bạt đang được nhân rộng phát triển.


Tuy dễ thực hiện nhưng cũng cần lưu ý một số điểm sau:

1. Xây dựng bể nuôi

-  Diện tích từ 10 – 100m2. Nếu diện tích lớn thì nên ngăn ra thành nhiều bể nhỏ để tiện chăm sóc và tách riêng từng cỡ khi cá phân đàn vì cá lóc là loài cá dữ, dễ ăn thịt lẫn nhau.

- Chiều cao bể khoảng 1 – 1,5m. Bố trí ống chống tràn để duy trì mức nước trong bể từ 0,8 – 1m, tránh cá thất thoát khi mưa lớn, mực nước dâng cao. Có thể xây bể chìm hoặc bể nổi nhưng bể chìm sẽ chắc chắn hơn và nhiệt độ nước trong bể ổn định hơn.

- Bể nuôi xây dựng trên mặt đất bằng phẳng và đầm nện kỹ. Đáy bể có độ dốc nghiêng về phía ống thoát nước để loại bỏ các chất cặn bã trong bể khi thay đổi nước.

- Sử dụng cao su 2 mặt để lót bể. Phải có lưới bảo vệ phía trên, tránh cá nhảy ra ngoài làm thất thoát. Nên có mái che hoặc dùng lưới che để giảm nhiệt độ nước trong bể.

- Phải có ống thoát và cấp nước riêng.

2. Con giống

Cá lóc là loài cá dữ, ăn động vật tươi sống. Sự cạnh tranh thức ăn của loài cá này rất quyết liệt vì vậy thường có sự phân đàn lớn sau thời gian nuôi ngắn nên khi thả giống nuôi cần chọn cá đồng cỡ là hết sức quan trọng và quyết định năng suất của bể nuôi.

Tiêu chuẩn chọn giống

- Nên chọn mua giống ở những nơi có uy tín hoặc cho sinh sản nhân tạo và có nguồn gốc rõ ràng.

- Đồng cỡ, không xây xát, không có triệu chứng bệnh, bơi theo đàn, có màu đặc trưng của loài.    

Chuẩn bị nguồn nước

- Trước khi thả cá 3 - 4 ngày, cấp nước vào bể nuôi ngâm - xả vài lần nhằm loại bỏ bớt mùi hóa chất của cao su.

- Cấp nước vào bể nuôi đạt mức nước sâu 0,6m và xử lý bằng một trong loại thuốc – hóa chất khử trùng nước như Avaxide, Fresh water, Virkon® A,… Sau đó nâng dần mực nước cho đạt yêu cầu từ0,8 – 1m nhằm tạo nguồn nước tốt ít mầm bệnh cho cá nhỏ phát triển.

Thả giống

- Nên thả cá giống vào lúc sáng sớm, hoặc chiều mát. Tránh thả cá vào những lúc trời nắng nóng hoặc trời có mưa sẽ gây sốc cho cá làm cá hao hụt nhiều.

- Xử lý cá giống trước khi thả cá vào bể bằng biện pháp tắm để diệt ngoại ký sinh hoặc nấm. Phương pháp tắm: Dùng vợt có chứa cá giống ngâm vào hỗn hợp muối hột và nước pha loãng theo liều lượng 2 - 3% trong thời gian 10 - 15 phút; Virkon® A 2g/ lít nước trong 5 - 10 phút hoặc thuốc có nguồn gốc Iodine theo liều lượng ghi trên bao bì. (Ví dụ như Iodine – complex của Công ty Bio).

- Tuy nhiên, khi tắm cá cần theo dõi biểu hiện của cá để có biện pháp xử lý kịp thời hạn chế gây sốc cho cá. Sau khi thả cá vào bể, tiếp tục theo dõi hoạt động của cá nếu phát hiện có hiện tượng tách đàn nên loại bỏ khỏi bể nuôi.

Mật độ:

Mật độ thả nuôi ban đầu: 120 con/m2, cỡ cá lồng 8. Sau thời gian nuôi 1 tháng sẽ lọc cá cho đồng cỡ và bố trí lại mật độ: 100con/m2.

3. Quản lý môi trường:

- Quản lý chất lượng nước rất quan trọng vì đó là nguyên nhân gây nên dịch bệnh và quyết định năng suất của mô hình nuôi. Định kỳ kiểm tra yếu tố môi trường 1 - 2 lần/tuần, hay khi cá có biểu hiện bất thường:

+ Dùng nhiệt kế kiểm tra nhiệt độ: Nhiệt độ nước thích hợp từ 28 - 320C.

+ Dùng test kiểm tra nhanh một số yếu tố môi trường như độ pH, hàm lượng O2 hòa tan, khí Ammonia…

• Độ pH: pH nước dao động 6,5 - 8; pH nước vượt qua 9 sẽ rất độc cho cá.

• Oxy hòa tan: Hàm lượng oxy hòa tan trong hệ thống nuôi > 3 mg/l. Nếu hàm lượng oxy < 2 mg/llàm cá giảm ăn và chậm lớn.

• Khí Ammonia (NH3 – N): Hàm lượng Ammonia trong bể không vượt quá 1ppm (hàm lượng cho phép trong nước nuôi thủy sản là 0,01ppm).

- Định kỳ xử lý vôi cho nguồn nước trong bể nuôi từ 7 - 10 ngày/lần với 2 - 3kg vôi/100m3 nước bể, bằng cách hòa vào nước lấy nước trong tạt đều khắp bể để hạn chế mầm bệnh.

- Vào thời điểm nguồn nước sông, kênh rạch bị ô nhiễm, nước cần cho qua bể/ao lắng 2 - 3 ngày trước khi cấp vào bể, ao nuôi. Có thể dùng Virkon® A 0,3ppm (3g/m3) sau mỗi lần thay nước mới để diệt mầm bệnh cho cá.

4. Quản lý và chăm sóc sức khỏe cá:

Trong quá trình nuôi nên định kỳ tẩy giun sán cho cá bằng Hadaclean, Veme-clean,... Thường xuyên bổ sung men tiêu hóa, vitamin, khoáng chất vào khẩu phần thức ăn (Vd: Baymix Aqualase, Aqua C Fish Plus, Grow Fish, Prozyme For Fish, Veme-Sitol,...); để cho cá hấp thụ dinh dưỡng tốt, tăng trọng nhanh hơn, tăng sức đề kháng và giảm một phần hệ số FCR.

Theo dõi biểu hiện cá nuôi nhằm phát hiện bệnh sớm và có kế hoạch điều trị hợp lý:

- Nếu thấy cá nổi trên mặt nước nhiều là nguồn nước bị ô nhiễm.

- Nếu cá nổi trên mặt nước, da sẫm màu, phản xạ kém với tiếng động là cá bị ký sinh trùng. Nên dùng muối hột 2 - 3 % tắm cá 5 - 15 phút; CuSO4 2 - 5ppm (2 – 5 gam/m3) tắm cá 5 - 15 phút, Hadaclean theo hướng dẫn của nhà sản xuất,...

- Nếu thấy cá có hiện tượng bị nấm, ký sinh trùng ký sinh nên dùng các hóa chất xử lý môi trường nước với các thành phần như Iod, CuSO4, Formol,…Liều lượng dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Quan sát khả năng bắt mồi của cá để điều chỉnh thức ăn cho phù hợp: Khi thời tiết thay đổi giảm lượng thức ăn hạn chế thức ăn thừa làm ô nhiễm nguồn nước.

Đặng Bùi Mỹ Chi/ Trung tâm Giống Thủy sản An giang