Showing posts with label Cá rô phi. Show all posts
Showing posts with label Cá rô phi. Show all posts

Sunday, July 5, 2015

Hệ thống lọc nước bằng cá rô phi giúp tăng năng suất tôm nuôi

Nuôi cá rô phi trong ao lắng là một phương pháp vệ sinh nước trước khi nuôi tôm, giảm bớt tối đa sự phát sinh mầm bệnh xảy ra trong ao tôm, giúp tăng năng suất tôm nuôi.

Theo thông tin từ Đài PT-TH Sóc Trăng, môi trường vùng nuôi xuống cấp sau nhiều năm nuôi liên tục, quy trình nuôi thâm canh tăng mạnh thì ít nhất giải pháp nuôi cá rô phi trong ao lắng sẽ góp phần giảm bớt lượng thuốc, hóa chất đưa xuống ao nuôi. Cá rô phi còn giúp giảm áp lực khí độc dưới đáy ao nuôi tôm, như các nhà khoa học nhận định: “cá rô phi là máy lọc nước sinh học” cho ao nuôi tôm.

Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Chủ tịch Hiệp hội Tôm Mỹ Thanh cho biết: “Môi trường xuống cấp nghiêm trọng, ở đây nhiều bà con trong hiệp hội cũng đã nuôi cá rô phi ghép trong ao nuôi, lấy nước nuôi cá rô phi để nuôi tôm thời gian vừa qua bà con làm rất hiệu quả. Tuy nhiên đây là biện pháp nuôi để ổn định môi trường, hạn chế thuốc hóa chất nhất là môi trường nước trong ao rất tốt, ít tốn chi phí để xử lý”.

Thạc sĩ Lâm Ánh Tiên - Phó Trưởng Phòng Kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông Sóc Trăng cho biết thêm: “Các nhà khoa học cũng đã chứng minh được hình thức nuôi cá phi trong ao, nuôi lồng, nuôi cá lấy nước nuôi tôm thì lợi ích khá lớn vì nguồn nước này có chứa các loại vi khuẩn có lợi. Nuôi ghép cá phi sẽ làm giảm các độc tố đáy ao tôm, như khí NH3 gây ô nhiễm nền đáy ao. Mặt khác khi lấy nguồn nước này thì các chất lơ lững trong ao nuôi rất hạn chế, có lợi cho nuôi tôm”.

Nuôi cá rô phi trong ao lắng là một phương pháp vệ sinh nước trước khi nuôi tôm, giảm bớt tối đa sự phát sinh mầm bệnh xảy ra trong ao tôm. Theo thống kê thì ao nuôi cá rô phi có màu nước tốt, ít tảo tàn, môi trường ổn định. Cá rô phi có khả năng làm xanh nước, giảm sự phát triển vi sinh vật.

Cá rô phi là máy lọc nước sinh học” cho ao nuôi tôm, góp phần tăng năng suất. Ảnh minh họa

Hơn nữa, cá rô phi còn sử dụng xác tôm, cá, động vật thủy sản chết, từ nguồn nước lấy vào hệ thống ao lắng, nhằm hạn chế sự phát tán của sinh vật gây bệnh từ ngoài vào hệ thống nuôi. Như vậy, nuôi cá rô phi trong ao lắng để có nguồn nước chất lượng tốt, dùng trong ao nuôi tôm hạn chế tối đa sự phát triển mầm bệnh.

Ao lắng nuôi cá rô phi có diện tích 20 - 25% diện tích mặt nước nuôi để dự trữ, chủ động nguồn nước có chất lượng phục vụ hệ thống nuôi tôm. Ao nuôi có diện tích 60 - 70% diện tích, còn lại là ao chứa nước thải.

Thiết kế ao theo kiểu tuần hoàn. Nước ao nuôi sau khi thay được chảy sang ao nước thải; ở đây nước được lắng cặn một phần, sau đó được bơm sang ao lắng. Ở ao lắng cá rô phi hoạt hóa để có chất lượng tốt cung cấp lại cho ao nuôi. Trước khi nuôi, cần tiến hành các bước cải tạo và chuẩn bị ao theo đúng  tiêu chuẩn kỹ thuật.

Khi chuẩn bị ao nuôi cần đầm, nén kỹ hoặc lót bạt để chống rò rỉ nước. Mật độ cá rô phi ít nhất 4 - 5 con/m2, không cho cá ăn trong suốt quá trình nuôi. Cá rô phi được nuôi trong ao lắng ít nhất một tháng trước khi thả tôm giống để ổn định môi trường nước. Cấp nước từ ao lắng vào cung cấp cho hệ thống nuôi tôm đến khi mực nước đạt 1,2 - 1,5 m.

Khi cấp nước vào ao nuôi, dùng lưới chắn cá có kích thước mắt lưới 2a = 5mm. Trong quá trình nuôi, định kỳ bổ sung nguồn nước từ ao lắng vào ao nuôi một tuần một lần. Sau khi cấp nước từ ao lắng vào hệ thống nuôi, cần bổ sung nước vào hệ thống ao lắng, để có thời gian cá rô phi hoạt hóa, để có nước đảm bảo chất lượng cung cấp cho ao nuôi tôm, theo thông tin từ Tạp chí Thủy sản Việt Nam. 

Thái Hà (Vietq)

Friday, May 8, 2015

Xử lý cá rô phi đơn tính bằng 17 Alpha Methyltestosterone

Xử lý cá rô phi đơn tính đực bằng 17 alpha Methyltestosterone hiện nay là phương pháp phổ biến, cho tỷ lệ đực cao và ổn định, chi phí đầu tư thấp và thời gian thực hiện ngắn so với các phương pháp còn lại.

1. Phối trộn thức ăn

Thức ăn nuôi cá đơn tính đực trong thời gian 21 ngày là thức ăn trộn hoóc môn có khả năng hoạt hoá giới tính đực.

Công thức phối trộn 1 kg thức ăn trộn hoóc môn có khả năng hoạt hóa như sau:

+ Vitamin C: 10g

+ Bột cá nhạt mịn: 1000 g

+ 60 mg 17 alpha Methyltestosterone

+ Cồn Etanol 0,3 - 0,5 lít 960

Cách trộn thức ăn hoạt hoá

10 gram Vitamin C được trộn đều với 1.000 g bột cá nhạt mịn sau đó làm ướt đều bằng 0,3 - 0,5 lít Etanol 960 đã hòa tan 60 mg 17alpha-Methyltestosterone. Sấy ở nhiệt độ 45 - 500C hoặc phơi khô và bảo quản ở nơi khô ráo nhưng không quá hai tuần.

Ảnh: Vũ Mưa 

2. Xử lý cá bột

2.1. Chuẩn bị ao giai

Ao cắm giai để xử lý cá bột được chuẩn bị cũng như ao nuôi vỗ cá bố mẹ, nhưng không gây màu nước ao, không bón phân vô cơ hoặc hữu cơ.

Độ sâu của ao từ 1,2 - 1,5 m.

2.2. Giai xử lý

Giai dùng để xử lý cá bột là giai mau có cỡ mắt lưới 1 mm.

Diện tích của giai tối thiểu là 0,81 m2 và tối đa là 5,4 m2.

Kích cỡ của giai có thể là: 0,9 x 0,9 x 0,9 (m) hoặc: 1,8 x 3,0 x 0,9 (m).

Độ sâu ngập nước của giai là 0,6 m.

2.3. Mật độ cá bột khi xử lý

Mật độ tối thiểu của cá bột xử lý là 10 con/lít và tối đa là 15 con/lít. Thời gian xử lý là 21 ngày. Với giai có diện tích 0,81 m2 ta có thể thả được 5.000 - 7.500 cá bột/giai. Giai có diện tích 5,4 m2 ta có thể thả được 30.000 - 45.000 cá bột/giai.

2.4. Thời gian xử lý

Thời gian xỷ lý cá bột là 21 ngày

2.5. Chăm sóc cá và quản lý

Cá bột được cho ăn bằng thức ăn có khả năng đực hóa giới tính đực. Lượng thức ăn hàng ngày được tính như Bảng:



Để xác định được lượng thức ăn cần thiết cho cá bột đang được xử lý cân mẫu vào ngày thứ 5 của mỗi chu kỳ cho ăn, phải cân mẫu tối thiểu khối lượng của 200 cá thể, mẫu phải được cân bằng cân điện tử để đảm bảo độ chính xác. Ta có thể tính được lượng thức ăn theo công thức sau:

A= (p x k ) x q / 200

Trong đó: A: là khối lượng thức ăn của lần sau.

P: khối lượng của mẫu.

K: số lượng cá thả ban đầu.

Q: tỷ lệ % thức ăn theo quy trình.

Trong thời gian xử lý đơn tính, 10 ngày thay giai một lần để đoản bảo độ thông thoáng, tránh trường hợp tảo bám vào giai làm hạn chế lưu thông nước trong và ngoài giai. Khi cá thiếu ôxy sẽ kém ăn và hao hụt lớn, tỷ lệ chuyển giới tính sẽ không cao.

Thường xuyên theo dõi bệnh cá vì nuôi cá ở mật độ cao thường hay mắc bệnh ký sinh trùng (như trùng bánh xe, sán lá đơn chủ) để có biện pháp xử lý kịp thời.

Sau khi cá bột được nuôi đủ 21 ngày (gọi tắt là 21 ngày tuổi) đưa cá ra ương nuôi tiếp trong ao đất hoặc trong giai bằng thức ăn tổng hợp bình thường (không có hoóc môn 17 alpha Methyl Testosterone ).

3. Kết quả

Áp dụng quy trình công nghệ này tỷ lệ sống cá 21 ngày tuổi 70 - 75%. Kích cỡ đạt 15.000 - 10.000 cá thể/kg. Tỷ lệ đực trong quần đàn đạt trên 95%.

ThS Xuân Kỳ/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Sunday, March 22, 2015

Kỹ thuật nuôi cá rô phi đơn tính

Kỹ thuật nuôi cá rô phi đơn tính thương phẩm không có gì phức tạp. Tuy nhiên, muốn nuôi đạt kết quả cao bạn cần tuân thủ nghiêm các qui trình kỹ thuật.

1. Chuẩn bị ao nuôi:

Là khâu quan trọng để tạo ra nhiều thức ăn tự nhiên cho cá trong suốt vụ nuôi.

- Đối với ao nuôi luân canh, xen vụ, một vụ tôm-một vụ cá với mật độ 1-2 con/m2 thì việc chuẩn bị ao nuôi trở nên đơn giản, nhưng chú ý đến vấn đề diệt cá tạp, rắn nước. Có thể bón thêm vôi sống được xay trực tiếp từ đá vôi, vỏ sò, ốc … số lượng từ 300-500 kg/ha và phân hữu cơ (phân heo, gà, trâu, bò …) ủ thật hoai, bón lót vào nền đáy ao từ 300-500 kg/ha.

Ao nuôi cá rô phi

- Đối với các ao nuôi tăng sản, mật độ từ 5-7 con/m2 trở lên, thời gian nuôi kéo dài, việc chuẩn bị ao cần làm kỹ các khâu dọn bùn dơ, phơi nắng 5-7 ngày, cày xới nền đáy. Lượng vôi và phân bón nhiều hơn so với mật độ nuôi thưa và phải bón bổ sung thêm trong quá trình nuôi.

2. Gây màu nước:

Sau khi thu hoạch tôm và công việc bón vôi, phân, diệt tạp đưụơc thực hiện xong, đóng khung lưới lọc cá tạp và cho nước vào 30-40 cm sau 4-5 ngày nước lên màu xanh nhạt, xanh vàng hoặc xanh lá chuối thì tiếp tục cấp nước vào ao đạt mực 1m và chuẩn bị thả cá giống.

Nuôi cá rô phi trong ao, đìa nuôi tôm cần chú ý:

- Nên tận dụng lại các nguồn nước thải ra từ các ao nuôi tôm vì nguồn nước này chứa nhiều loại tảo là nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào cho cá rô phi.

- Có thể nuôi cá rô phi trong ao nước ngọt hoặc ao ương 1-2 tháng với mật độ dày (15-20 con/m2) vào thời điểm tháng 6,7. Đến khi thu tôm (tháng 9,10) chuyển số cá này sang ao nuôi tôm, cá sẽ lớn nhanh, rút ngắn được thời gian nuôi.

3. Cá giống:

Cá giống đạt các tiêu chuẩn :

-  Hình dạng cân đối, không dị hình, không xây xát.  

-  Màu sắc tươi sáng, bơi lội nhanh.

Khi thả cá ta phải để bao, túi chứa cá xuống ao từ 15-20 phút, sau đó đổ cá ra các thau, chậu để thuần dưỡng mặn. Thêm nước mặn từ từ vào thau, chậu để tăng dần sau 1 giờ tăng lên 2-3‰ (độ mặn) và tăng dần đến khi bằng độ mặn của nước ao.

- Nên thả cá giống vào buổi sáng hoặc chiều mát. Tránh thả cá vào buổi trưa hoặc trời nắng gay gắt, cá giống vừa phải chống chịu với nhiệt độ cao vừa phải thích nghi với độ mặn làm cho các bị và hao hụt sau khi mới thả.

Đối với ao đìa có độ mặn từ 15‰ trở xuống thì không cần phải thuần dưỡng mà có thể thả cá giống trực tiếp xuống.  

4. Mật độ nuôi:

Khi mới thả cá giống có trọng lượng 0,5 - 1 gam/con tương đương với 1000 - 2000 con/kg. Cá giống có thể thả nuôi trong ao nhỏ với mật độ 15 - 20 con/m2, sau một tháng chuyển sang ao lớn hơn, giảm mật độ xuống còn 7 - 10 con/m2 và sau 2 tháng có thể chuyển sang ao có mật độ nuôi phù hợp 2 - 3 con/m2.

-  Trong điều kiện bình thường nuôi luân canh một vụ tôm, một vụ cá có thể nuôi ở mật độ 2 - 3 con/m2.

-Trong điều kiện chăm sóc quản lý tốt và quản lý tốt có thể nuôi ở mật độ 3 - 5 con/m2.

-  Trong nuôi tăng sản, có máy quạt nước có thể nuôi ở mật độ 5 - 10 con/m2

5. Cho cá ăn:

  Sử dụng thức ăn tự chế biến gồm các thành phần:

- Cá tạp, cá vụn, cua, ghẹ nhỏ hoặc các chế phẩm từ các lò mổ gia súc: 40-50%

- Bột bắp, bột mì, bột khoai lang, bột gạo: 20-30%

- Cám gạo: 10-20%

- Bã đậu nành, đậu phộng: 10-20%

+ Cách chế biến : Các thành phần trên được nấu chín, trộn với cám gạo, xay đùn ra sợi, phơi ráo và cho ăn hết trong ngày.

+ Cho ăn: 02 lần mỗi ngày:

- Sáng vào lúc 5-6 giờ và

- Chiều vào lúc 17-18 giờ.

+ Lượng thức ăn :

- Tháng đầu : lượng thức ăn trong tháng bằng 3-5% trọng lượng đàn cá.

- Tháng thứ 2: lượng thức ăn trong ngày bằng 2-3% trọng lượng đàn cá.

- Tháng thứ 3 trở đi: lượng thức ăn trong ngày bằng 0,5-1% trọng lượng cá.

+ Trong nuôi cá rô phi cần chú ý kết hợp cho ăn với việc bón phân hữu cơ sẽ gia tăng năng suất cá nuôi.

- Để tạo thức ăn tự nhiên phong phú có thể bón phân hữu cơ (thường là phân heo, gà, vịt, trâu, bò ...) và phân vô cơ (Urê, N.P.K…) hai loại phần này được dùng kết hợp hoặc riêng lẻ tuỳ điều kiện màu mỡ của từng ao nuôi.

Ví dụ : Cho ăn kết hợp bón phân gà (đã ủ hoai) ở mức độ 5kg phân khô/ha/ngày và bón 5ngày/tuần sẽ cho kết quả tốt.

Việc tạo ra thức ăn tự nhiên tốt (màu nước đậm, mật độ tảo dày) hoặc những ao đìa giàu dinh dưỡng được xem là biện pháp hữu hiệu nhất để tăng năng suất cá nuôi trong ao, đìa.

6. Chăm sóc quản lý: 

Hàng ngày quan sát rò rỉ xung quanh bờ ao, khung lưới cống và hoạt động của cá.

- Nếu thấy cá nuôi nổi đầu từ lúc sáng sớm thì phải cung cấp thêm nước.

- Định kỳ 10-15 ngày kiểm tra cá bằng chài, cân đong tự tăng trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn của cá hàng ngày.

7. Thu hoạch:

Sau khi nuôi 5-6 tháng, cá đạt trọng lượng 0,5 - 0,6 kg/con, có thể thu hoạch cá thịt, có hai cách thu.

- Thu tỉa : tháo nước ao cạn ở mức nước 40 - 50cm, kéo lưới thu tỉa cá lớn.

- Thu sạch : kéo lưới bắt nhiều lần sau đó bơm cạn bắt hết số cá còn lại.

Kết luận: Cá rô phi dễ nuôi, có khả năng thích nghi tốt với sự biến đổi của môi trường. Chúng ăn các loại tảo, động vật nhỏ, mùn bã hữu cơ làm sạch môi trường trong ao nuôi.

Nuôi cá rô phi đơn tính trong ao nuôi tôm vụ đông xuân vừa tạo ra thu nhập cho người nuôi tôm, đồng thời tạo sản phẩm ý nghĩ cho xã hội, đó là nguồn đạm tươi sống cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu./.

VOV/Tạp chí thuỷ sản

Thursday, February 5, 2015

Phòng trị bệnh xuất huyết trên cá rô phi

Cá rô phi là đối tượng có khả năng kháng bệnh tốt. Tuy nhiên trong thời gian gần đây thì bệnh xuất huyết đang gây trở ngại, khó khăn cho nghề sản xuất giống và nuôi thương phẩm loài cá này.

Tác nhân gây bệnh

Bệnh xuất huyết trên cá rô phi do một số các loài vi khuẩn như Aeromonas sp, Pseudomonas sp… gây nên. Đây là những chủng vi khuẩn gram âm, có dạng hình que, di động, có khả năng gây tan huyết, phá hủy các mô cơ.

Dấu hiệu

Cá bị bệnh có hiện tượng ăn kém hoặc bỏ ăn, da có màu đen sạm, bơi lội chậm chạm, thường nằm gần bờ ao hoặc các cống nước. Ngoài ra, cá có biểu hiện ngứa ngáy, phản ứng mạnh với các tác nhân bên ngoài. Trên thân có nhiều đốm đỏ; da, mang, hậu môn bị xuất huyết. Góc vây, hàm dưới của nắp mang bị tụ máu thành những lớp màu đỏ. Xoang bụng bị xuất huyết nội tạng.

Xuất huyết da và gốc vây 

Phân bố và lan truyền bệnh

Bệnh xuất hiện ở khắp các giai đoạn phát triển của cá. Bệnh thường xảy ra khi cá bị sốc hay trong thời tiết bất lợi, chuyển mùa. Đặc biệt, bệnh phát triển mạnh trong môi trường nước nuôi bị nhiễm bẩn, lượng khí độc tích lũy nhiều dưới đáy ao, hàm lượng ôxy hòa tan thấp.

Bệnh lây truyền theo chiều ngang, lây trực tiếp từ con khỏe sang con yếu hoặc bệnh có thể lây lan theo nguồn nước cấp.

Gan xung huyết 

Não tụ máu 

Phòng bệnh

Tiến hành các biện pháp phòng bệnh tổng hợp cho cá. Chọn cá giống khỏe mạnh, vận chuyển giống cẩn thận, không xây xát.

Nuôi lồng: Cần vệ sinh lồng nuôi sạch sẽ, loại bỏ rong rêu, chất bẩn bám làm tăng dòng chảy lưu thông, vớt phân cá, xác cá để tránh tích lũy mầm bệnh.

Nuôi ao: Cần cải tạo ao theo đúng quy chuẩn kỹ thuật trước và sau mỗi vụ nuôi, định kỳ 15 - 20 ngày bón vôi với liều lượng 2 - 3 kg/100 m². Kiểm soát lượng phân động vật bón xuống ao đặc biệt là những ngày trời nắng nóng. Cần có biện pháp bảo đảm hàm lượng ôxy hòa tan, đặc biệt vào những ngày thời tiết bất thường, đứng gió.

Hạn chế lấy nước từ ngoài vào hệ thống nuôi cá rô phi khi vùng nuôi xảy ra dịch. Ương nuôi với mật độ thích hợp. Hạn chế hoạt động đánh bắt, kéo lưới, làm xây xát, tổn thương cá.

Bổ sung vitamin C, vitamin tổng hợp cho cá với liều lượng 30 mg/kg thức ăn, một tuần/lần. Ngoài ra có thể sử dụng tỏi tươi, xay nhuyễn, kín với liều lượng 3 - 5 g /kg thức ăn, 1 tuần/lần.

Xuất huyết mang 

Trị bệnh

Bệnh được chữa trị trong giai đoạn đầu phát hiện bệnh bằng kháng sinh kết hợp với xử lý môi trường nước nuôi.

Một số loại kháng sinh có thể sử dụng để trị bệnh xuất huyết trên cá rô phi:

Nếu bệnh trên cá rô phi giống có thể sử lý bằng phương pháp tắm với Oxytetracylin, nồng độ 25 - 50 ppm hoặc Streptomycin, nồng độ 30 - 50 ppm.

Cá thịt xử lý bằng phương pháp trộn Sulphamid với thức ăn, liều lượng 150 - 200 mg/kg cá/ngày. Thuốc phối chế KN-O4-12 liều dùng 2 - 4 g/kg cá/ngày.

Sử dụng thuốc để trị bệnh cho cá liên tục trong khoảng 5 - 7 ngày. Riêng đối với kháng sinh từ ngày thứ 3 trở đi, liều lượng có thể giảm 1/3 - 1/2 lượng thuốc kháng sinh.

Trong thời gian điều trị bệnh lượng thức ăn giảm còn khoảng 1/2 - 2/3 lượng thức ăn thông thường. Sau khi điều trị bệnh bằng kháng sinh có thể sử dụng một số loại men vi sinh để ổn định vi khuẩn đường ruột cho cá. 

Việc sử dụng thuốc kháng sinh trị bệnh cho cá cần lưu ý, vì sử dụng kháng sinh liên tục với liều lượng cao dần sẽ gây hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn và ảnh hưởng đến kháng sinh tồn dư trong thịt cá.

Nguyễn Nhung/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Thursday, October 23, 2014

Giữ cá rô phi qua đông

Cá rô phi thường chịu lạnh rất kém, khi nhiệt độ nước thấp hơn 12 độ C kéo dài vài ngày thì cá sẽ bị chết rét. 

Ảnh minh họa

Miền Bắc có mùa đông giá lạnh nên mùa vụ sinh sản của cá rô phi chỉ bắt đầu khi thời tiết ấm áp vào cuối tháng 3.

Do đó, người nuôi muốn chủ động cho mình được nguồn giống thả vào tháng 3 và 4 thì cần phải có những biện pháp lưu giữ giống cá rô phi qua đông thật tốt.

Chọn ao: Địa điểm xây dựng ao khuất gió mùa Đông Bắc là tốt nhất. Bờ ao chắc chắn, giữ được mức nước trong ao luôn ổn định. Ao phải có cống cấp và thoát nước riêng biệt. Diện tích ao 200 - 1.000 m2. Nguồn nước trong ao 1,8 - 2,5 m. Nguồn nước cấp cho ao phải sạch và chủ động.

Tháo cạn nước, vét bùn và vệ sinh ao. Dùng vôi bột bón với lượng 8 - 10 kg/100 m2 để bón cho ao. Nước cấp vào ao thì phải có lưới lọc. Có thể thả thêm bèo Tây khoảng 20 - 30% mặt thoáng của ao hoặc làm mái che cho ao (khung được làm bằng các vật liệu cứng như tre, nứa… mái che được làm bằng bạt ni lông màu trắng).

Thời gian đưa cá vào ao trú đông từ 15/11 - 15/12 hằng năm. Nên chọn thời điểm nắng ấm để đưa cá vào ao trú đông. Lưu ý không đánh bắt, vận chuyển và thả cá khi nhiệt độ xuống dưới 20 độ C.

Chọn giống và thả: Chọn cá giống kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, không bị dị hình, dị tật, không có dấu hiệu bệnh lý. Cá bơi thăng bằng, hoạt động nhanh nhẹn, bơi chìm trong nước theo đàn. Nên tắm cho cá bằng dung dịch nước muối 2 - 3% trong vòng 5 - 10 phút. Ngâm túi vận chuyển cá xuống ao trong vòng 10 - 15 phút sau đó mới thả cá từ từ ra ao.

Mật độ thả: Cỡ cá giống 3 - 5 gr/con có thể thả với mật độ 10 - 30 con/m2. Nếu ao có máy sục khí có thể thả 40 - 50 con/m2.

Quản lý: Thường xuyên theo dõi mức nước ở trong ao, nếu thấy hao hụt nước phải bổ sung nước sạch vào ao ngay. Theo dõi hoạt động của cá và bệnh cá để có biện pháp xử lý kịp thời. Vệ sinh ao thường xuyên. Nếu cho cá ăn thức ăn xanh cần vớt hết thức ăn cũ trước khi cho ăn thức ăn mới. Định kỳ 15 ngày/lần bón vôi với lượng 1 kg/100 m3 nước (hòa vôi vào nước và té đều khắp ao).

Trong suốt thời gian cá trú đông không dùng lưới đánh bắt để tránh xây xát, dẫn tới cá bị nhiễm bệnh và chết.

Chăm sóc: Cho cá ăn 1 - 1,5 % trọng lượng cá trong ao/ngày. Ngày cho cá ăn 1 - 2 lần vào lúc thời tiết ấm áp từ 10 - 14 giờ. Thức ăn cho cá là loại thức ăn công nghiệp (độ đạm 22 - 26%), hoặc thức ăn tự chế (10% bột cá nhạt, 30% khô đỗ, 60% cám gạo).

Những ngày nhiệt độ nước ao thấp hơn 17 độ C không cho cá ăn mà tranh thủ những ngày nắng ấm sau mỗi đợt gió mùa thì cho ăn nhiều hơn. Tuyệt đối không dùng phân hữu cơ bón cho ao để đảm bảo môi trường ao sạch.

Sau khi cá trú đông xong cần cho ăn tích cực trong 10 - 15 ngày để thu hoạch. Lượng cho ăn 3 - 5% trọng lượng cá ở trong ao.

Bệnh nấm thủy mi: Cá bơi lờ đờ xung quanh ao, bằng mắt thường có thể nhìn thấy nấm thủy mi bám trên cơ thể cá như những búi bông màu trắng, nhìn rõ nhất khi cá ở trong nước.

Luôn giữ môi trường trong sạch, giữ cho cá không bị xây xát, không kéo lưới hoặc vận chuyển khi nhiệt độ xuống dưới 20 độ C. Khi cá bị bệnh có thể dùng dung dịch muối 3% hoặc dung dịch thuốc tím 20 mg/lít tắm cho cá trong thời gian 15 phút.

Bệnh trùng bánh xe: Khi cá bị mắc bệnh trên thân, vây cá có nhiều nhớt, màu hơi trắng đục, ở dưới nước thấy rõ hơn so với khi bắt cá lên cạn. Da cá chuyển màu xám, thường xuyên nổi từng đàn lên mặt nước, một số con tách đàn bơi quanh bờ ao. Nếu cá bị bệnh nặng trùng bám dày ở vây, mang, phá hủy các tơ mang, khiến cá bị ngạt thở, ở mang đầy nhớt và có màu bạc trắng. Cá bơi lội không định hướng và chết.

Dùng nước muối 2 - 3 % tắm cho cá trong vòng 5 - 10 phút hoặc dùng sunphat đồng nồng độ 3 - 5 gr/m3 nước tắm cho cá trong vòng 5 - 15 phút. Dùng sunphat đồng phun trực tiếp xuống ao với nồng độ 0,5 - 0,7 gr/m3 nước. Sau khi phun thuốc 2 - 3 ngày thì tiến hành thay nước mới để cải thiện môi trường trong ao nuôi.

Trước khi thu hoạch phải chuẩn bị dụng cụ đánh bắt và phương tiện vận chuyển. Nên thu toàn bộ.

Hồ Hữu Sơn/ nongnghiep.vn