Monday, July 6, 2015

Sử dụng phân bón để lúa mùa đạt hiệu quả cao

Nông dân cần phải theo dõi và quan sát kỹ diễn biến thời tiết diễn ra trong cả vụ cũng như thời điểm bón để điều chỉnh, chọn lựa loại NPK hay phân đơn cho hợp lý.

Ảnh minh họa

Hiện nay, thị trường phân bón nông nghiệp rất đa dạng và phong phú. Ngoài các loại phân đơn (đạm urê, supe lân, kali) còn có phân tổng hợp NPK nên việc lựa chọn phân bón nào và sử dụng ra sao để đạt hiệu quả là vấn đề quan trọng đối với nông dân.

Phân bón gốc cho cây trồng thuộc nhóm khó tiêu (sau khi bón vào đất, phân cần phân giải thành chất dễ tiêu thì cây trồng mới hấp thu được). Quá trình phân giải này nhanh hay chậm phụ thuộc vào độ ẩm và nhiệt độ. Do đó, việc bón phân cho lúa vụ mùa sẽ nhanh thấy kết quả hơn ở vụ xuân. Độ ẩm, nhiệt độ càng cao quá trình phân giải phân càng thuận lợi và diễn ra nhanh hơn, cây trồng hấp thu phân bón được sớm hơn. Ngược lại, nếu độ ẩm và nhiệt độ càng thấp, quá trình phân giải chậm dẫn tới cây trồng chậm được cung cấp dinh dưỡng. Muốn đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng phân bón cho lúa mùa, nông dân cần phải theo dõi và quan sát kỹ diễn biến thời tiết diễn ra trong cả vụ cũng như thời điểm bón để điều chỉnh, chọn lựa loại NPK hay phân đơn cho hợp lý:

+ Đối với bón lót: Nếu lúc làm đất cấy lúa vụ mùa gặp thời tiết có mưa to, thậm chí phải tháo nước đi mới gieo cấy được hoặc nắng nóng liên tục kéo dài, nhiệt độ ban ngày trên 36 độ C thì cần ưu tiên sử dụng bón phân hỗn hợp NPK mà không bón phân đơn để tránh thất thoát phân bón, nhất là nguyên tố đạm. Vì nếu bón urê thì khả năng do rửa trôi hoặc bay hơi lớn hơn nhiều phân hỗn hợp NPK.

Nếu thời tiết lúc bón lót thuận lợi thì có thể sử dụng phân đơn để bón sao cho cân đối và hiệu quả (bón phân vùi sâu từ 6-8cm vào đất).

+ Bón thúc đẻ nhánh: Căn cứ vào diễn biến thời tiết cũng như thời điểm bón lót. Cần bón phân đơn nếu thời tiết mưa thuận gió hòa. Được như vậy, cây lúa sẽ nhanh có dinh dưỡng để hấp thu giúp lúa đẻ nhánh nhanh và tập trung ngay giai đoạn đầu của quá trình đẻ nhánh, làm tăng số bông hữu hiệu và tăng năng suất sau này. Nếu thời điểm này có mưa hoặc nắng nóng kéo dài thì sử dụng phân NPK để bón thúc đẻ.

 Lưu ý: Nếu sử dụng phân hỗn hợp NPK bón cho lúa đẻ nhánh cần bón sớm hơn so với bón phân đơn vì phân hỗn hợp phân giải chậm hơn phân đơn (bón vào lúc lúa có 3 lá thật đối với lúa gieo thẳng và bén rễ hồi xanh đối với lúa cấy mạ dược).

+ Bón thúc đòng: Không nên sử dụng phân hỗn hợp NPK để bón cho lúa mùa giai đoạn này vì một tầng đất canh tác lúc này đã chai cứng, khả năng thẩm thấu và phân giải của các viên phân hỗn hợp rất khó và chậm. Cây lúa hút dinh dưỡng giai đoạn này cũng không nhanh bằng giai đoạn lúa còn con gái do bộ rễ đã ăn sâu. Nên sử dụng các loại phân đơn (đạm và kali) để bón theo tỷ lệ thích hợp (trông cây mà bón) sẽ đạt hiệu quả cao hơn.

+ Bón nuôi hạt: Cây lúa từ thời kỳ trổ bông đến thu hoạch có thời gian là 1 tháng. Đây là thời gian huy động tất cả nguồn dinh dưỡng từ rễ, thân, lá đòng về bông để làm hạt. Năng suất lúa cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn này, nhất là các giống lúa lai (lúa lai từ trổ bông đến thu hoạch hút kali cao gấp hơn 2 lần lúa thuần). Vì vậy, muốn có năng suất cao, nông dân cần phải bón phân cho lúa vào giai đoạn này. Tốt nhất nên sử dụng các loại phân kali sun phát hay còn gọi là kali trắng phun trực tiếp trên bông lúc lúa thấp thoi trỗ hoặc sau trỗ 1 tuần với liều lượng 2 lạng/2 bình phun/lần/sào.

KS. Trần Thị Liên - Trạm Khuyến nông Nam Sách - tỉnh Hải Dương

Giải pháp phòng bệnh đảm bảo năng suất lươn nuôi cao

Tuy lươn là đối tượng dễ nuôi, nhưng hầu hết giống đều đánh bắt từ thiên nhiên chưa được thuần hoá, do vậy khi nuôi lươn bà con nông dân cần áp dụng các giải pháp phòng bệnh ngay từ khi thả giống.

Các nguyên nhân phát sinh bệnh trên lươn: Con giống yếu, có sẵn mầm bệnh, bị xây xát trong quá trình vận chuyển; Nhiệt độ thay đổi đột ngột; Môi trường nước ô nhiễm do mầm bệnh, ký sinh trùng, hoặc dư thừa thức ăn; Cho lươn ăn thức ăn ôi thiu; Nuôi mật độ dày.

Theo các nhà khoa học, nên định kỳ thay nước trong bể, quản lý tốt và tránh dư thừa thức ăn là các yếu tố quan trọng nhất mà người nuôi lươn cần chú ý. Một số bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị cho lươn mà bà con nông dân nên chú ý như sau:

Bệnh sốt nóng

Triệu chứng: Nhiệt độ nước tăng lên, nước nhớt do lươn tiết dịch nhờn. Lươn quấn vào nhau, đầu sưng phồng, chết hàng loạt.  Nguyên nhân chính: Do mật độ dày, oxy hòa tan thấp, thức ăn thừa làm môi trường ô nhiễm, theo thông tin từ báo Nông nghiệp Việt Nam. 


Nắm rõ cách phòng trị bệnh cho lươn để đảm bảo năng suất thu hoạch. Ảnh minh họa

Phòng, xử lý và điều trị: Giảm mật độ nuôi, san lươn sang bể khác, thay nước, thêm nước mát vào bể, nâng cao mực nước trong bể, thả bèo, che mát sau đó dùng Anti Shock liều 1 ký/1.000 m3 tạo đều trong bồn nuôi lươn, thả cá trê để ăn thức ăn thừa.

Khi phát hiện bệnh có thể dùng các sản phẩm có nguồn gốc iod hoặc có tính sát trùng để ngâm tắm. Phun dung dịch phèn xanh (sulphate đồng) 0,07%, 5 ml/m3 nước. Vớt lươn chết khỏi ao, thay nước, thay đất nếu ô nhiễm nặng.

Bệnh nấm thuỷ mi

Triệu chứng: Các đám sợi hình bông bám vào mình hay trứng. Nguyên nhân chính là do ký sinh trùng. Phòng, xử lý và điều trị: Trước khi nuôi sát trùng bể bằng vôi. Hoà Sodium bicarbonate với nước tỉ lệ 0,4 phần ngàn, tưới khắp bể nuôi.

Tắm lươn bằng nước muối hay bằng Bio Green Cut liều 1 ppm (tức 1 lít/1.000 m3 nước ), sau đó trộn Bio Oxocol liều 5 gr/kg thức ăn và cho ăn liên tục từ 3 - 5 ngày sẽ trị được bệnh nấm thuỷ mi trên lươn. Ngâm trứng lươn vào dung dịch xanh Methylen.

Bệnh tuyến trùng:

Dấu hiệu bệnh: Do ký sinh trùng đường ruột gây nên, chúng bám vào niêm mạc phá hoại mô, hình thành bào nang gây viêm ruột sưng đỏ. Nếu bệnh nặng, hậu môn lươn bị sưng đỏ, chúng sẽ chết dần.


Bà con nông dân cần áp dụng các giải pháp phòng bệnh ngay từ khi thả giống. Ảnh minh họa

Phòng bệnh: Thức ăn cho lươn ăn cần phải được rửa sạch, nấu chín nguồn lây lan. Định kỳ 3 - 5 ngày/lần, trộn men tiêu hóa vào thức ăn cho lươn ăn với liều lượng 5 - 10 g/kg thức ăn. 

Trị bệnh: Dùng các sản phẩm thuốc thú y thủy sản diệt nội ký sinh trùng của để trộn vào thức ăn cho lươn ăn với liều lượng và cách cho ăn như hướng dẫn trên bao bì.

Bệnh nhiễm trùng huyết:

Dấu hiệu bệnh: Da sẫm màu từng vùng ở bụng. Xuất hiện từng mảng đỏ trên cơ thể. Hoại tử đuôi, xuất hiện các vết thương trên lưng, các khối u trên bề mặt cơ thể. Mắt lồi, mờ đục và phù ra. Xoang bụng chứa dịch, nội tạng hoại tử.

Phòng bệnh: Tránh làm xây xát lươn, vệ sinh bể nuôi đúng kỹ thuật, tránh môi trường nước nuôi bị ô nhiễm, nuôi với mật độ vừa phải, cung cấp đầy đủ hàm lượng ôxy... Dùng thuốc tím (KMnO4­) tắm lươn với liều lượng 4 - 5 g/m3 nước. Định kỳ xử lý 7 ngày/lần

Trị bệnh: Trộn thuốc Oxytetracyline hoặc Streptomycin vào thức ăn với liều lượng 50 - 70 mg/kg thể trọng lươn, cho ăn 5 - 7 ngày.

Bệnh đốm đỏ

Dấu hiệu bệnh: Xuất huyết từng đốm nhỏ trên da, chung quanh miệng và nắp mang, phía mặt bụng. Bề mặt cơ thể có thể chảy máu, tuột nhớt nhưng không xuất huyết vây và hậu môn.

Phòng bệnh: Giảm mật độ nuôi, thay nước hoặc định kỳ 5 - 7 ngày/lần tắm lươn bằng thuốc tím (KMnO4­) với liều lượng 3 - 5 g/m3

Trị bệnh: giống như bệnh nhiễm trùng huyết. 

Theo Ths. Nguyễn Văn Triều, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ.

Thái Hà (vietq)

Hạ nhiệt cho tôm, cá mùa hè

Cá, tôm là động vật thuộc nhóm máu lạnh nên điều kiện nhiệt độ môi trường nước ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của chúng. Sau đây là một số biện pháp chống nóng cho cá, tôm nuôi vào mùa hè nhằm hạn chế tối đa những thiệt hại có thể xảy ra:

Hạ nhiệt cho tôm, cá mùa hè. Ảnh: IT

Đối với nuôi cá ruộng: 

Cần đảm bảo lượng nước đầy đủ, tránh nước rò rỉ bằng cách đầm nén chặt bờ. Đào mương và tạo các chỗ trũng trong ruộng làm nơi trú ẩn cho cá vào những ngày nắng nóng kéo dài và cũng là nơi tập trung cho cá ăn, thu hoạch cá. Nếu là ruộng nhỏ, đào một chỗ trũng, nếu là ruộng to đào 2-3 chỗ trũng ở giữa ruộng hoặc rìa ruộng, diện tích chỗ trũng chiếm 2-3% tổng diện tích ruộng. Tạo hệ thống mương hình dấu cộng (+) hoặc hình chữ nhật để nối thông giữa các chỗ trũng, mương rộng 0,5m, độ sâu 0,4 - 0,5 m.

Đối với ao hồ nuôi cá tôm: 

Cần tẩy dọn sạch sẽ, nạo vét bùn, chỉ để lượng bùn vừa phải, sau đó phơi nắng đáy ao thật kỹ trước khi đưa vào nuôi.

- Mật độ cá, tôm không nên quá dày để đảm bảo môi trường đủ ôxy.

- Cho cá, tôm ăn nên áp dụng biện pháp 4 định: định chất lượng, định số lượng, định thời gian và định địa điểm, nếu thức ăn hàng ngày thừa phải vứt bỏ.

- Trong vận chuyển cá tôm phải chọn thời tiết có nhiệt độ thích hợp, nếu nhiệt độ quá cao, phải có biện pháp xử lý hạ nhiệt khi vận chuyển. Nhiệt độ nước chệnh lệch trong vận chuyển không quá 2 - 50C, đối với cá, tôm cỡ lớn, đối với con giống, không quá 2-40C.

Thường xuyên theo dõi sự biến đổi của môi trường để bơm nước sạch vào ao, nên dùng máy sục khí để kịp thời bổ sung ôxy cho ao ương nuôi.

Vạn Xuân (Trang Trại Việt)

Sunday, July 5, 2015

Cách chữa bệnh loét da quăn tai ở trâu bò

Bệnh do virus gây hoại tử thượng bì viêm mạc nhiều cơ quan, viêm mủ mắt gây mù lòa, đường hô hấp từ mũi đến phổi, lở loét, viêm ruột mãn tính, da rụng từng mảng đầy sẹo.... ở trâu bò. Con vật khỏi bệnh đều bị di chứng nặng không còn khả năng cày kéo.

Đặc điểm bệnh:


Sau khi khỏi bệnh, con vật mang nhiều di chứng nặng như mù mắt, viêm đường ruột mãn tính, gầy yếu... không dùng vào cày kéo được. Trong thú y hiện chưa có thuốc đặc trị, cũng chưa có vaccin có hiệu quả, thường người ta chủ trương giết thịt (nếu bệnh nhẹ) hoặc chôn bỏ nếu bệnh nặng tránh lây lan cho người ăn thịt. Thuốc đông y dùng sớm khi bệnh mới phát, điều trị tấn công mạnh, có thể ức chế virus ngăn bệnh tiến triển.... 

Triệu chứng:

 - Mắt: Sưng đỏ có mủ gây mù.

- Mũi: Thở dốc, thở ngáy, chảy nước trong rồi đặc lại hóa mủ, thối, có khi có máu.

- Miệng: Lưỡi loét rất đau, chảy dãi nhiều.

- Phân: Lúc đầu táo bón, khi chuyển tả thì chết. Đái ít, có máu mủ.

- Da: Mụn loét, hoại tử, da rụng từng mảng, tai nhiều sẹo và quăn queo. Sốt cao từng cơ, run rẩy.

- Thần kinh: Chân nhấc lên bỏ xuống rồi liệt hai chân sau, con vật ủ rũ, co giật, động kinh…

Cách phân biệt, nhận biết: 

- Trâu bò bị loét da quắn tai, loét hoại tử rụng từng mảng, tai đầy sẹo quăn queo, động kinh.

- Trâu bò bị bệnh nhiệt thán, có ung thư ở cổ, mông, ngực, không loét, da và có nhiều mồ hôi, nghiến răng gục đầu.

- Trâu bò bị lở mồm long móng, da có nhiều mụn mủ, móng chân sưng đau, bốn chân như giã gạo.

Chữa bệnh:

 - Rễ vông vang 16g, dã hòa 20g, đình lịch tử 16g, xuyên tâm liên 30g, câu đằng 20g - sắc kỹ 2 nước, cho uống/cho 1 bò lớn hay bò nhỡ. Tác dụng: ức chế virus, hạ sốt, chống viêm mũi - phổi - ruột - tiết niệu, trợ thần kinh.

- Hoàng cầm 20g, huyền sâm 30g, sinh địa 20g, hoàng kỳ 20g, xuyên khung 16g, cam thảo 16g - sắc kỹ cho uống.

- Địa cốt bì 20g, tang bạch bì 20g, sinh bạch thược 30g, uất kim 20g, phục thần 16g - sắc kỹ cho uống.

- Thanh cao 30g, tri mẫu 16g, cát cánh 16g, đan bí 16g, kim ngân 20g, cẩu tích 16g - sắc kỹ cho uống.

- Hoàng liên 30g, hoàng cúc 12g, khổ sâm 20g, đan sâm 20g, diên hồ sách 20g - sắc kỹ cho uống.

- Phối hợp dùng thuốc hóa dược: Nhỏ mũi bằng nước uống sắc trên đây.

- Bôi các vết loét ngoài da: Bột lưu huỳnh 100g nấu tan chảy, thêm bột kim ngân 40g trộn đều, bôi 2-3 lần/ngày.

- Nhỏ mắt: Gentamycin - Dexamethason.

- Tiêm bắp: Chloramphenicol-Analgin... Theo hướng dẫn của thú y.

 Phòng bệnh: Chủ yếu là vệ sinh, chăm sóc, tiêu độc đối với trâu bò bệnh và môi trường.

Thanh Vân (Trang trại Việt)

Kỹ thuật trồng cây Atiso đơn giản cho năng suất, lợi nhuận cao

Nhờ những cách gây giống cũng như kỹ thuật trồng cây Atiso hiện đại, ngày nay người ta có thể trồng cây Atiso ở khắp nơi, ngay trong những vùng có khí hậu không hợp.

Cây Atiso xuất phát từ miềm nam Âu châu. Chúng mọc và phát triển cách đây hàng bao trăm năm trên những vùng đất phì nhiêu có nhiều ánh nắng. Với kỹ thuật trồng cây Atiso đơn giản, hiện nay mọi người có thể dễ dàng áp dụng trồng ở mọi nơi cho năng suất, thu nhập cao.

Atiso ngày nay xuất xứ từ hai nguồn gốc: green và globe. Green Atiso mọc rất mạnh, hợp với khí hậu lạnh. Mùi vị của chúng bù lại không được đậm đà như loại globe Atiso, loại có màu hơi tím ở lá cuống bông. Một trong những loại được yêu chuông nhất ngày nay là loại green globe Atiso, được ghép vào thế kỷ 19 từ hai loại kể trên. 

Đất trồng

Về đất trồng, Atiso thích hợp với điều kiện đất nhiệt trung bình, hàm lượng hữu cơ 5 - 7%, giữ ẩm và thoát nước tốt. Ẩm độ đất trong vụ khô cần trên 80%, tuy nhiên nếu ẩm độ đất quá cao và kéo dài trong vụ mưa sẽ dễ gây bệnh chết cây con.

Kỹ thuật trồng cây Atiso đơn giản lại cho năng suất cao nên vào vụ mùa người dân thu được lợi nhuận rất cao

Độ pH thích hợp là 6 - 6,5. Đối với điều kiện đất Đà Lạt thì hàng năm phải bón vôi để duy trì độ pH ổn định, nhất là vùng đất thấp. Đất trồng nên chọn đất nhẹ đến trung bình (đất podzolic vàng đỏ), loại đất tốt, thoát nước, giữ ẩm tốt. Nên thực hiện chế độ thâm canh, hay trồng hai vụ liên tiếp, sẽ giảm năng suất và sâu bệnh nhiều.

Tốt nhất nên luân canh với các cây họ đậu, rau và hoa. Đất trồng được bón bằng phân chuồng đã ủ hoai mục và super lân, vôi bột. Quy cách luống ươm: 1,2 - 1,3m; trồng: 4 - 5 hàng, cây x cây: 15 - 20cm.

Cách trồng

Trồng Atiso bằng cây con: Một vài loại Atiso đẻ cây non, người ta chỉ cần tách những cây non ra và trồng. Trồng Atiso bằng hạt: Gieo hạt vào mùa xuân, nên dùng đất nhiều chất mùn tốt để tránh hột giống bị hư. Sau khi mọc được hai lá thì trồng trồng cây non vào bịch và cứ hai tuần tưới một lần.

Cây Atiso không chịu lạnh và chỉ hợp với khí hậu dịu mát. Nên chú ý đến khoảng cách trồng cây Atiso. Một cây Atiso lớn có đường kính gần 4 thước. Do vậy, không nên trồng Atiso quá dày. Khoảng cách tối thiểu phải là 1,2 thước. Trồng quá dày làm gió không thổi luồng được và sẽ cây dễ bị bệnh nấm sương.

Nếu thực hiện đúng kỹ thuật trồng cây Atiso, cây sẽ trổ nụ sau khi trồng khoảng từ 90 -100 ngày

Vì là loại cây nhiều mùa cho nên đất trồng phải được bón đầy đủ phân và ít cày bới. Nồng độ pH ở vào khoảng 6-8 là tốt nhất, Atiso sẽ trổ nụ sau khi trồng khoảng từ 90 -100 ngày. Trong năm đầu mỗi nhánh chỉ cho khoảng 2 bông. Những năm kế tiếp mỗi nhánh có thể trổ đến 12 nụ và cứ như vây liên tiếp từ 4 - 7 năm.

Chăm sóc

Sau khi trồng phủ cỏ khô để giữ ẩm và tưới nước 2 lần/ngày (nếu trời nắng). Giữ ẩm sau 7 - 10 ngày dỡ bỏ lớp che phủ ra. Sau cây hồi sinh bén rễ sử dụng DAP, NPK 16-16-8 để bón thúc 2 lần.

Khi bắt đầu trổ nụ, nên để ý để có thể thu hoạch đúng thời điểm

Có thể sử dụng các loại phân bón lá để phun xịt cây con sinh trưởng tốt. Chú ý không nên sử dụng chế độ bón phân đạm cao sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cây con. Để phòng trừ sâu bệnh cho vườn ươm định kỳ 7 ngày/lần xịt các loại thuốc như: rovral, moncerew, zineb, topsin và các loại thuốc sâu như: sumicidin, pegasus…

Thu hoạch

Khi bắt đầu trổ nụ, nên để ý để có thể thâu hoạch đúng thời điểm. Ðộ lớn vừa đủ trước khi lá bông bắt đầu mở. Trễ quá nụ sẽ bị cứng và trở nên như gỗ. Cắt nụ với cuống có độ dài từ 3 - 5 cm. Cuống của Atiso có vị như nụ, vì vậy không nên vứt bỏ. Sau khi thâu hoạch, nên cắt cuống đến tận chân và bón phân để thúc cây trổ mầm mới. 

Bích Phượng (Vietq T/h)

Kỹ thuật trồng măng cụt cho năng suất vượt trội

Trái măng cụt có giá trị kinh tế cao và có thị trường xuất khẩu rất lớn. Ở Việt Nam, trái măng cụt có giá trị dinh dưỡng cao nên được nhiều người ưa thích. Vì vậy, bà con nên nắm vững kỹ thuật trồng cây măng cụt cho năng suất cao nhất.

Măng cụt thuộc cây ăn quả nhiệt đới được trồng nhiều ở Thái Lan, Mã lai, Phi luật tân, Indonesia và Việt nam. Măng cụt là loại trái cây được nhiều người ưa chuộng và dược xem như là nữ hoàng của cây ăn trái nhiệt đới bởi lẽ dáng trái đẹp và chứa nhiều chất bổ dưỡng. Dưới đây là những kỹ thuật trồng cây măng cụt đúng cách nhất cho năng suất vượt trội.

Kỹ thuật trồng cây măng cụt đúng cách sẽ cho thu hoạch cao nhất

Giống và kỹ thuật nhân giống

Măng cụt có thể được nhân giống bằng cách ghép đọt hoặc gieo hạt. Phương pháp ghép không đạt hiệu quả cao do cây con có tỉ lệ hao hụt rất lớn; cây ghép cho trái nhỏ và ít hơn so với cây trồng bằng hạt.

Gieo hạt là phương pháp nhân giống phổ biến của măng cụt. Măng cụt đậu trái không thụ phấn, hạt măng cụt được phát triển từ phôi cái nên cây trồng từ hạt có đặc tính giống như cây mẹ.

Cách gieo hạt: Hạt măng cụt mau mất sức nẩy mầm, do đó không nên dự trữ hạt lâu. Chọn hạt to, nặng > 1g từ những trái mặng cụt chín. Rửa sạch hạt va gieo vào bầu đất hoặc liếp ươm.

Vật liệu của bầu hoặc liếp ươm là tro trấu, bột sơ dừa hoặc cát mịn trộn phân hữu cơ. Thường xuyên tưới nước giữ ẩm, 20 - 30 ngày sau hạt sẽ nẩy mầm. Khi cây lớn thì chuyển sang bầu lớn chú ý không làm tổn thương rễ vì rễ măng cụt không có lông hút và rất yếu.

Mật độ khoảng cách

Măng cụt có tán cây lớn, tán là sum xuê, do đó nên trồng thưa cây cách nhau 7 - 10m. Mật độ 100 - 200 cây/ha, với khoảng cách trồng nầy cây sẽ giao tán sau 30 năm trồng.  

Chuẩn bị mô

Mô cần được chuẩn bị 1-2 tháng trước khi trồng. Mô hình tròn có đường kính 0,6 - 0,8m, cao 0,3 - 0,5m tùy theo địa hình cao hay thấp. Đất mô nên trộn với 10 - 20 kg phân chuồng hoai và 200g phân NPK 15-15-15. 4.

Kỹ thuật trồng

Khi cây con được 2 năm tuổi thì đem đi trồng, lúc này cây có 12-13 cặp lá và 1 cành cấp 1, khoét lỗ trên mô vừa với bầu đất, nhẹ nhàng đặt cây vào, lấp đất ngang mặt bầu, cắm cọc giữa cây không bị đổ ngã. Khi đặt cây cần cẩn thận để không bị hư rễ.

Làm cỏ, trồng xen

Có thể dùng một số cây ngắn ngày làm cây trồng xen trong vườn cây măng cụt để góp phần hạn chế cỏ dại phát triển. Việc trồng xen cần bảo đảm cây trồng xen không cạnh tranh nước và dinh dưỡng với cây măng cụt.

Cần chăm bón, tưới nước đúng thời điểm

Trong những năm đầu khi cây chưa khép tán, cỏ dại sẽ phát triển mạnh, nên diệt cỏ bằng phương pháp thủ công, hoặc dùng máy cắt cỏ, khi cần thiết có thể diệt cỏ bằng thuốc hoá học như: Glyphosate, Gramoxone,...

Tưới nước

Măng cụt là cây có nhu cầu nước rất lớn, nhất là giai đoạn cây con và cây đang mang trái vì sau khi trổ (tháng 12 dương lịch) là thời kỳ không mưa. Do đó, cần phải tưới nước cách ngày cho cây nhất là ở giai đoạn sau khi trổ hoa, trái.

Thu hoạch

Hái trái lúc trái có màu hồng, khi hái phải thật cẩn thận và tránh sự va chạm mạnh trên trái nhằm giảm đến mức thấp nhất sự xây xát. Nên dùng dụng cụ có túi vải để hái trái, tránh để trái rơi tự do trên mặt đất làm xay xát vỏ trái... 

Bích Phượng (Vietq T/h)

Hệ thống lọc nước bằng cá rô phi giúp tăng năng suất tôm nuôi

Nuôi cá rô phi trong ao lắng là một phương pháp vệ sinh nước trước khi nuôi tôm, giảm bớt tối đa sự phát sinh mầm bệnh xảy ra trong ao tôm, giúp tăng năng suất tôm nuôi.

Theo thông tin từ Đài PT-TH Sóc Trăng, môi trường vùng nuôi xuống cấp sau nhiều năm nuôi liên tục, quy trình nuôi thâm canh tăng mạnh thì ít nhất giải pháp nuôi cá rô phi trong ao lắng sẽ góp phần giảm bớt lượng thuốc, hóa chất đưa xuống ao nuôi. Cá rô phi còn giúp giảm áp lực khí độc dưới đáy ao nuôi tôm, như các nhà khoa học nhận định: “cá rô phi là máy lọc nước sinh học” cho ao nuôi tôm.

Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Chủ tịch Hiệp hội Tôm Mỹ Thanh cho biết: “Môi trường xuống cấp nghiêm trọng, ở đây nhiều bà con trong hiệp hội cũng đã nuôi cá rô phi ghép trong ao nuôi, lấy nước nuôi cá rô phi để nuôi tôm thời gian vừa qua bà con làm rất hiệu quả. Tuy nhiên đây là biện pháp nuôi để ổn định môi trường, hạn chế thuốc hóa chất nhất là môi trường nước trong ao rất tốt, ít tốn chi phí để xử lý”.

Thạc sĩ Lâm Ánh Tiên - Phó Trưởng Phòng Kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông Sóc Trăng cho biết thêm: “Các nhà khoa học cũng đã chứng minh được hình thức nuôi cá phi trong ao, nuôi lồng, nuôi cá lấy nước nuôi tôm thì lợi ích khá lớn vì nguồn nước này có chứa các loại vi khuẩn có lợi. Nuôi ghép cá phi sẽ làm giảm các độc tố đáy ao tôm, như khí NH3 gây ô nhiễm nền đáy ao. Mặt khác khi lấy nguồn nước này thì các chất lơ lững trong ao nuôi rất hạn chế, có lợi cho nuôi tôm”.

Nuôi cá rô phi trong ao lắng là một phương pháp vệ sinh nước trước khi nuôi tôm, giảm bớt tối đa sự phát sinh mầm bệnh xảy ra trong ao tôm. Theo thống kê thì ao nuôi cá rô phi có màu nước tốt, ít tảo tàn, môi trường ổn định. Cá rô phi có khả năng làm xanh nước, giảm sự phát triển vi sinh vật.

Cá rô phi là máy lọc nước sinh học” cho ao nuôi tôm, góp phần tăng năng suất. Ảnh minh họa

Hơn nữa, cá rô phi còn sử dụng xác tôm, cá, động vật thủy sản chết, từ nguồn nước lấy vào hệ thống ao lắng, nhằm hạn chế sự phát tán của sinh vật gây bệnh từ ngoài vào hệ thống nuôi. Như vậy, nuôi cá rô phi trong ao lắng để có nguồn nước chất lượng tốt, dùng trong ao nuôi tôm hạn chế tối đa sự phát triển mầm bệnh.

Ao lắng nuôi cá rô phi có diện tích 20 - 25% diện tích mặt nước nuôi để dự trữ, chủ động nguồn nước có chất lượng phục vụ hệ thống nuôi tôm. Ao nuôi có diện tích 60 - 70% diện tích, còn lại là ao chứa nước thải.

Thiết kế ao theo kiểu tuần hoàn. Nước ao nuôi sau khi thay được chảy sang ao nước thải; ở đây nước được lắng cặn một phần, sau đó được bơm sang ao lắng. Ở ao lắng cá rô phi hoạt hóa để có chất lượng tốt cung cấp lại cho ao nuôi. Trước khi nuôi, cần tiến hành các bước cải tạo và chuẩn bị ao theo đúng  tiêu chuẩn kỹ thuật.

Khi chuẩn bị ao nuôi cần đầm, nén kỹ hoặc lót bạt để chống rò rỉ nước. Mật độ cá rô phi ít nhất 4 - 5 con/m2, không cho cá ăn trong suốt quá trình nuôi. Cá rô phi được nuôi trong ao lắng ít nhất một tháng trước khi thả tôm giống để ổn định môi trường nước. Cấp nước từ ao lắng vào cung cấp cho hệ thống nuôi tôm đến khi mực nước đạt 1,2 - 1,5 m.

Khi cấp nước vào ao nuôi, dùng lưới chắn cá có kích thước mắt lưới 2a = 5mm. Trong quá trình nuôi, định kỳ bổ sung nguồn nước từ ao lắng vào ao nuôi một tuần một lần. Sau khi cấp nước từ ao lắng vào hệ thống nuôi, cần bổ sung nước vào hệ thống ao lắng, để có thời gian cá rô phi hoạt hóa, để có nước đảm bảo chất lượng cung cấp cho ao nuôi tôm, theo thông tin từ Tạp chí Thủy sản Việt Nam. 

Thái Hà (Vietq)