Showing posts with label Bón phân - Phun thuốc. Show all posts
Showing posts with label Bón phân - Phun thuốc. Show all posts

Monday, July 6, 2015

Sử dụng phân bón để lúa mùa đạt hiệu quả cao

Nông dân cần phải theo dõi và quan sát kỹ diễn biến thời tiết diễn ra trong cả vụ cũng như thời điểm bón để điều chỉnh, chọn lựa loại NPK hay phân đơn cho hợp lý.

Ảnh minh họa

Hiện nay, thị trường phân bón nông nghiệp rất đa dạng và phong phú. Ngoài các loại phân đơn (đạm urê, supe lân, kali) còn có phân tổng hợp NPK nên việc lựa chọn phân bón nào và sử dụng ra sao để đạt hiệu quả là vấn đề quan trọng đối với nông dân.

Phân bón gốc cho cây trồng thuộc nhóm khó tiêu (sau khi bón vào đất, phân cần phân giải thành chất dễ tiêu thì cây trồng mới hấp thu được). Quá trình phân giải này nhanh hay chậm phụ thuộc vào độ ẩm và nhiệt độ. Do đó, việc bón phân cho lúa vụ mùa sẽ nhanh thấy kết quả hơn ở vụ xuân. Độ ẩm, nhiệt độ càng cao quá trình phân giải phân càng thuận lợi và diễn ra nhanh hơn, cây trồng hấp thu phân bón được sớm hơn. Ngược lại, nếu độ ẩm và nhiệt độ càng thấp, quá trình phân giải chậm dẫn tới cây trồng chậm được cung cấp dinh dưỡng. Muốn đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng phân bón cho lúa mùa, nông dân cần phải theo dõi và quan sát kỹ diễn biến thời tiết diễn ra trong cả vụ cũng như thời điểm bón để điều chỉnh, chọn lựa loại NPK hay phân đơn cho hợp lý:

+ Đối với bón lót: Nếu lúc làm đất cấy lúa vụ mùa gặp thời tiết có mưa to, thậm chí phải tháo nước đi mới gieo cấy được hoặc nắng nóng liên tục kéo dài, nhiệt độ ban ngày trên 36 độ C thì cần ưu tiên sử dụng bón phân hỗn hợp NPK mà không bón phân đơn để tránh thất thoát phân bón, nhất là nguyên tố đạm. Vì nếu bón urê thì khả năng do rửa trôi hoặc bay hơi lớn hơn nhiều phân hỗn hợp NPK.

Nếu thời tiết lúc bón lót thuận lợi thì có thể sử dụng phân đơn để bón sao cho cân đối và hiệu quả (bón phân vùi sâu từ 6-8cm vào đất).

+ Bón thúc đẻ nhánh: Căn cứ vào diễn biến thời tiết cũng như thời điểm bón lót. Cần bón phân đơn nếu thời tiết mưa thuận gió hòa. Được như vậy, cây lúa sẽ nhanh có dinh dưỡng để hấp thu giúp lúa đẻ nhánh nhanh và tập trung ngay giai đoạn đầu của quá trình đẻ nhánh, làm tăng số bông hữu hiệu và tăng năng suất sau này. Nếu thời điểm này có mưa hoặc nắng nóng kéo dài thì sử dụng phân NPK để bón thúc đẻ.

 Lưu ý: Nếu sử dụng phân hỗn hợp NPK bón cho lúa đẻ nhánh cần bón sớm hơn so với bón phân đơn vì phân hỗn hợp phân giải chậm hơn phân đơn (bón vào lúc lúa có 3 lá thật đối với lúa gieo thẳng và bén rễ hồi xanh đối với lúa cấy mạ dược).

+ Bón thúc đòng: Không nên sử dụng phân hỗn hợp NPK để bón cho lúa mùa giai đoạn này vì một tầng đất canh tác lúc này đã chai cứng, khả năng thẩm thấu và phân giải của các viên phân hỗn hợp rất khó và chậm. Cây lúa hút dinh dưỡng giai đoạn này cũng không nhanh bằng giai đoạn lúa còn con gái do bộ rễ đã ăn sâu. Nên sử dụng các loại phân đơn (đạm và kali) để bón theo tỷ lệ thích hợp (trông cây mà bón) sẽ đạt hiệu quả cao hơn.

+ Bón nuôi hạt: Cây lúa từ thời kỳ trổ bông đến thu hoạch có thời gian là 1 tháng. Đây là thời gian huy động tất cả nguồn dinh dưỡng từ rễ, thân, lá đòng về bông để làm hạt. Năng suất lúa cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn này, nhất là các giống lúa lai (lúa lai từ trổ bông đến thu hoạch hút kali cao gấp hơn 2 lần lúa thuần). Vì vậy, muốn có năng suất cao, nông dân cần phải bón phân cho lúa vào giai đoạn này. Tốt nhất nên sử dụng các loại phân kali sun phát hay còn gọi là kali trắng phun trực tiếp trên bông lúc lúa thấp thoi trỗ hoặc sau trỗ 1 tuần với liều lượng 2 lạng/2 bình phun/lần/sào.

KS. Trần Thị Liên - Trạm Khuyến nông Nam Sách - tỉnh Hải Dương

Wednesday, April 1, 2015

Phân lân, những điều cần biết

Trên một số loại đất ở nước ta, lân trở thành yếu tố gây hạn chế năng suất cây trồng. Đặc biệt ở các tỉnh phía Nam, thiếu lân không những làm cho năng suất cây trồng giảm mà còn hạn chế hiệu quả của phân đạm.     

Ảnh minh họa
Hiệu suất của phân lân khá cao. Trên một số loại đất ở Tây Nguyên, bón 1 kg cho hiệu quả thu được 4,3 – 7,5 kg cà phê nhân. Ở các vùng đất phèn mới khai hoang, hiệu suất của phân lân càng cao hơn, 1 kg P mang lại 90 kg thóc, ở mức bón 40 – 60 kg/ha.

Bón quá nhiều phân lân trong nhiều trường hợp có thể làm cho cây bị thiếu một số nguyên tố vi lượng. Vì vậy, cần bón thêm phân vi lượng, nhất là Zn.

Phôtphat nội địa

Là loại bột mịn, màu nâu thẫm hoặc đôi khi có màu nâu nhạt. Tỷ lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi rất nhiều, từ 15 - 25%. Loại phân thường có trên thị trường có tỷ lệ là 15 – 18%.

Trong phân phôtphat nội địa, phần lớn các hợp chất lân nằm ở dạng khó tiêu đối với cây trồng. Phân có tỷ lệ vôi cao, cho nên có khả năng khử chua.

Vì lân ở dạng khó tiêu, cho nên phân chỉ dùng có hiệu quả ở các chân đất chua. Ở đất không chua, hiệu lực của loại phân này thấp ; dùng bón cho cây phân xanh có thể phát huy được hiệu lực. Chỉ nên dùng để bón lót, không dùng để bón thúc.

Khi sử dụng có thể trộn với phân đạm để bón, nhưng trộn xong phải đem bón ngay, không được để lâu. Dùng để ủ với phân chuồng rất tốt.

Phân phôtphat nội địa ít hút ẩm, ít bị biến chất, cho nên có thể cất giữ được lâu. Vì vậy, bảo quản tương đối dễ dàng.

Phân apatit

Là loại bột mịn, màu nâu đất hoặc màu xám nâu. Tỷ lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi nhiều.

Thường chia thành 3 loại: loại apatit giàu có trên 38% lân; loại phân apatit trung bình có 17 – 38% lân ; loại phân apatit nghèo có dưới 17% lân.

Loại apatit giàu thường được sử dụng để chế biến thành các loại phân lân khác, còn loại trung bình và loại nghèo mới được đem nghiền thành bột để bón cho cây. Phần lớn lân trong phân apatit ở dưới dạng cây khó sử dụng.

Tỷ lệ vôi cao nên có khả năng khử chua cho đất, được sử dụng tương tự như phôtphat nội địa. Sử dụng và bảo quản tương đối dễ dàng vì phân ít hút ẩm và ít biến chất.

Supe lân

Là loại bột mịn màu trắng, vàng xám hoặc màu xám thiếc. Một số trường hợp supe lân được sản xuất dưới dạng viên.

Trong supe lân có 16 – 20% lân nguyên chất. Ngoài ra còn có chứa một lượng lớn thạch cao, một lượng khá lớn axit, vì vậy phân có phản ứng chua.

Phân dễ hoà tan trong nước cho nên cây dễ sử dụng, thường phát huy hiệu quả nhanh, ít bị rửa trôi. Có thể dùng để bón lót hoặc bón thúc đều được.

Phân này có thể sử dụng để bón ở các loại đất trung tính, đất kiềm, đất chua đều được. Tuy nhiên, ở các loại đất chua nên bón vôi khử chua trước khi bón supe lân. Có thể dùng để ủ với phân chuồng.

Nếu supe lân quá chua, cần trung hoà bớt độ chua trước khi sử dụng bằng phôtphat nội địa hoặc apatit. Đất chua nhiều dùng 15 – 20% apatit để trung hoà, đất chua ít dùng 10 – 15%. Nếu dùng tro bếp để trung hoà độ chua của supe lân thì dùng 10 – 15%, còn dùng vôi thì tỷ lệ là 5 – 10%.

Phân supe lân thương phát huy hiệu quả nhanh, cho nên để tăng hiệu lực của phân, người ta thường bón tập trung, bón theo hốc, hoặc sản xuất thành dạng viên để bón cho cây. Đặc biệt, có thể dùng supe lân để kích thích cây ra rễ.

Supe lân ít hút ẩm, nhưng nếu cất giữ không cẩn thận phân có thể bị nhão và vón thành từng cục. Phân có tính axit nên dễ làm hỏng bao bì và dụng cụ đong đựng bằng sắt.

Tecmô phôtphat (phân lân nung chảy, lân Văn Điển):

Phân có dạng bột màu xanh nhạt, gần như màu tro, có óng ánh.

Tỷ lệ lân nguyên chất trong tecmô phôtphat là 15 – 20%. Ngoài ra trong phân còn có canxi 30%, một ít thành phần kiềm, chủ yếu là magiê 12 – 13%, có khi có cả kali.

Tecmô phôtphat có phản ứng kiềm, cho nên không nên trộn lẫn với phân đạm vì dễ làm cho đạm bị mất.

Phân không tan trong nước, nhưng tan được trong axit yếu. Cây sử dụng dễ dàng. Có thể sử dụng để bón lót hoặc bón thúc đều tốt.

Tecmô phôtphat phát huy hiệu lực tốt ở các vùng đất chua, vì phân có phản ứng kiềm. Sử dụng có hiệu quả trên các vùng đất cát nghèo, đất bạc màu vì phân chứa nhiều vôi, có các nguyên tố vi lượng và một ít kali. Thường được bón rải, ít khi bón tập trung và ít được sản xuất dưới dạng viên.

Tecmô phôtphat ít hút ẩm, luôn ở trong trạng thái tơi rời và không làm hỏng dụng cụ đong đựng.

Phân lân kết tủa

Phân có dạng bột trắng, nhẹ, xốp trong giống như vôi bột. Phân có tỷ lệ lân nguyên chất tương đối cao, đến 27 – 31%. Ngoài ra trong thành phần của phân có một ít canxi.

Phân này được sử dụng tương tự như tecmô phôtphat. Phân ít hút ẩm cho nên bảo quản dễ dàng.

Nguồn: giatieu/Cục trồng trọt

Lưu ý khi sử dụng phân bón tổng hợp

Để giúp nông dân mua các sản phẩm phân bón tổng hợp (NPK) bảo đảm chất lượng và sử dụng hiệu quả, xin chia sẻ một số kinh nghiệm như sau:

Ảnh minh họa

Nên mua sản phẩm có thương hiệu, uy tín. Khi mua, cần xem kỹ nhãn mác, bao bì, hạn sử dụng và công dụng của mỗi loại phân bón. 

Khi mua phân bón nông dân cần nhận biết được loại nào sản xuất nhờ công nghệ tạo hạt bằng hơi nước, loại nào sản xuất nhờ công nghệ chảo quay. Cách nhận biết như sau:

+ Công nghệ chảo quay tạo ra viên phân tròn vo, hạt to nhỏ không đều nhau, bề mặt viên phân bị rỗ, không nhẵn bóng. Trong khi phân bón tổng hợp tạo hạt bằng hơi nước thì viên phân tròn nhưng tròn dẹt, các hạt đồng đều nhau về kích thước, bề mặt viên phân nhẵn bóng, bóp không bị vỡ...

+ Các loại phân nhuộm màu thì có thể phân biệt bằng cách: Lấy búa ghè vỡ viên phân, nếu lõi và ngoài viên có màu đồng nhất thì viên phân đó được tạo hạt bằng hơi nước. Nếu lõi viên phân và bên ngoài vỏ viên khác màu nhau thì phân đó được tạo bằng công nghệ chảo quay.

+ Với các loại phân bón kém chất lượng được làm bằng xỉ than và than bùn thì người mua cần nhận biết bằng cách: cầm một viên phân lên và bóp mạnh, nếu phân bị vỡ vụn thì là loại kém chất lượng, hàm lượng dinh dưỡng rất thấp.

Lưu ý:

 - Khi sử dụng phân bón tổng hợp tưới cho cây trồng nên đổ một lượng nước nhất định sao cho vừa đủ ngập lượng phân cần đem bón. Để phân ngấm nước và tan ra thành một dung dịch nhão (từ 3-5 giờ) rồi mới đem phân đi tưới. Không bỏ từng nắm phân vào thùng nước đầy rồi khoắng. Làm như vậy các viên phân không thể tan hết được do áp lực của nước và không đủ thời gian ngấm.

- Phân tổng hợp chuyên dùng cho rau màu thì có thể bón được cho cây lúa nhưng phân bón tổng hợp cho lúa thì không nên bón cho cây rau màu vì trong phân bón cho lúa lượng kali có trong đó là kali clorua (KCL) tốt cho cây lúa nhưng khi bón cho cây rau màu thì sản phẩm thu được hay bị nứt, vỡ, bộ rễ cây màu thường bị chun lại, kém phát triển do có chứa gốc clo.  

- Nên lựa chọn từng chủng loại phân dùng cho từng thời kỳ phát triển khác nhau của cây trồng đã ghi trên nhãn mác, tránh tình trạng phân thúc đẻ nhánh, ra lá lại dùng cho thời kỳ làm đòng, làm hạt, tạo củ và ngược lại. 

Với các loại phân tổng hợp giàu lân, đạm dễ tiêu như DAP chỉ dùng để bón lót cho lúa hoặc rau màu và phân cần được bón vùi vào trong đất cách xa gốc từ 5-10 cm. Không nên bón sát hạt hoặc gốc cây mới gieo trồng sẽ làm cây chết xót. Không nên dùng DAP để bón thúc cho cây vì sản phẩm rất giàu lân (46% lân dễ tiêu). Liều lượng đối với loại phân này khi sử dụng để lót cho cây trồng nông dân cần chú ý đọc kỹ hướng dẫn ghi trên bao bì. 

KS. Trần Thị Liên (Trạm Khuyến nông Nam Sách)

Sunday, March 22, 2015

Khắc phục lỗi sử dụng thuốc diệt cỏ

Thuốc trừ cỏ cho lúa cấy và gieo thẳng nếu sử dụng theo đúng hướng dẫn trên bao bì thì sẽ phát huy hết tác dụng.

Ảnh minh họa

Thế nhưng, ở vụ chiêm xuân này, không ít ruộng ở các địa phương nông dân đã phải phun đi phun lại mà một số loại cỏ vẫn không sạch.

3 loại cỏ không sạch là cỏ hoa đầu, cỏ năn, cỏ vẩy ốc. 

Nguyên nhân: 

Do thời tiết diễn biến theo hướng thuận lợi cho cỏ phát triển hoặc kỹ thuật làm đất và điều tiết nước tưới chưa bảo đảm theo yêu cầu. Do nông dân chưa tuân thủ nghiêm theo hướng dẫn về liều lượng và thời điểm phun thuốc trừ cỏ hoặc hoạt chất trong thuốc không có tính năng diệt trừ nhóm cỏ đó. 

Biện pháp khắc phục:

- Duy trì mực nước thường xuyên từ 2 - 3 cm nhằm khống chế sự tiếp tục nứt nanh nảy mầm của cỏ dại, thuận lợi cho sự đẻ nhánh và hấp thu dinh dưỡng của cây lúa.

- Nếu cỏ dại chỉ mọc theo từng đám gềnh trên mặt ruộng, với diện tích ít thì có thể làm cỏ bằng tay rồi vùi sâu.

- Nếu cỏ dại mọc với diện tích lớn, đều khắp cả ruộng thì căn cứ theo diện tích để mua thuốc và phun trừ kịp thời. Nên sử dụng thuốc DuPont Ally20WG loại gói 1,5 gr; hòa cả gói với khoảng 2 lít nước và lắc kỹ rồi pha đầy cho 2 bình loại 12 lít, phun đều cho 1,5 - 2 sào, phun thấp tay bằng mặt lá lúa, vào chiều mát không mưa.

KS. Nguyễn Hữu Vân/ Báo Hải Dương

Friday, March 20, 2015

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có nguồn gốc sinh học đã và đang được chú trọng trong sản xuất nông nghiệp.

Ảnh minh họa

Các thuốc này không những làm cho sâu bệnh không tăng tính kháng mà còn giảm ô nhiễm thực phẩm, môi trường, nông sản an toàn và sản xuất bền vững. Xin được giới thiệu và hướng dẫn nông dân một số chế phẩm thuốc BVTV vi sinh có trên thị trường hiện nay cũng như lưu ý khi sử dụng: 

+ Chế phẩm từ vi khuẩn: Thuốc trừ sâu vi sinh BT thuộc nhóm trừ sâu sinh học, có nguồn gốc vi khuẩn, phổ diệt sâu rộng hữu hiệu đối với sâu cuốn lá, sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang, sâu ăn tạp... Sâu khi ăn phải thuốc sẽ ngừng ăn sau vài giờ và chết sau 1 - 3 ngày. Các loại sản phẩm thương mại có trên thị trường như Vi-BT 32000WP, 16000WP; BT Xentary 35WDG, Firibiotox, Delfin WG( 32BIU), An Huy IU/mg WP, Crymax 35WP, Aztron 35000DF... 

+ Chế phẩm từ nấm: Sản phẩm thuốc trừ sâu sinh học với hoạt chất Abamectin và Emamectin benzoate. Diệt trừ được các loại sâu như sâu vẽ bùa, nhện, sâu tơ, sâu xanh, bọ trĩ, bọ phấn. Đây là nhóm thuốc có tác dụng diệt sâu nhanh, phân hủy nhanh và ít độc với con người, môi trường. Một số thuốc thông dụng là Binhtox 1.8EC, Abasuper3.6EC, Sertin 5.0EC, Sisau 4.5EC và Agun 5WDG, Golnitor 50WDG, Emaben 2.0EC, Susuper 1.9EC...

Ngoài ra, các thuốc có hoạt chất Validamycin A, được chiết xuất từ nấm men Streptomyces. Đây là nhóm thuốc trừ bệnh có nguồn gốc kháng sinh đặc trị các bệnh khô vằn trên lúa, bệnh nấm hồng trên cao su, bệnh chết rạp cây con trên cà chua, khoai tây, thuốc lá, bông vải... Một số thuốc trong nhóm này là  Vivadamy, Vanicide, Vali, Tung vali 5SC, Vida 3SC, Validan 5DD. Thuốc Stepguard 50SP, Poner 40SP,… trừ bệnh thối nhũn. 

+ Chế phẩm từ virus: Tiêu biểu là nhóm sản phẩm chiết xuất từ virus NPV. Đây là loại virus có tính rất chuyên biệt, chỉ lây nhiễm và tiêu diệt sâu xanh da láng  rất hiệu quả trên một số cây trồng như bông, đậu đỗ, ngô, hành, nho...

+ Chế phẩm từ tuyến trùng: Tuyến trùng EPN của nhóm tuyến trùng ký sinh và gây bệnh cho côn trùng được coi là tác nhân có nhiều triển vọng bởi có khả năng diệt sâu nhanh, phổ diệt sâu rộng, an toàn cho người, động vật và không gây khả năng "kháng thuốc" ở sâu hại. Các sản phẩm của nhóm này là từ Biostar-1 đến Biostar-6, trong đó Biostar-3 và Biostar-5 được sản xuất hàng trăm lít để thử nghiệm rộng rãi trên đồng ruộng.

+ Chế phẩm từ pheromone và hormon:

- Pheromone: Là một nhóm chế phẩm sinh học có tác dụng dẫn dụ giới tính, được sử dụng rộng rãi trong hệ thống BVTV cây trồng. Với đặc điểm chuyên tính cao với từng lọai sâu hại nên rất an toàn với sản phẩm, sinh vật có ích và môi trường. Ở Việt Nam hiện nay, việc ứng dụng pheromone được tập trung đối với một số côn trùng hại rau ăn lá như: Sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang...và trừ côn trùng hại cây ăn quả như: Ruồi đục quả, sâu đục vỏ cam quýt...Các thuốc hiện có là  Sofri Protein 10DD, Entro- Pro 150DD,...

- Hormon là những chất được dùng để biến đổi sự phát triển và ngăn cản côn trùng biến thái từ tuổi nhỏ sang tuổi lớn hoặc ép buộc chúng phải trưởng thành từ rất sớm có hiệu quả chậm nhưng hiệu lực kéo dài. Các thuốc nhóm này gồm Trigard 75WP, Rimon 10EC,... trừ dòi đục lá, sâu tơ.

Lưu ý: Các thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học thường không thể phun chung với các loại thuốc hóa học và cần phải bảo quản tốt cũng như ngày sản xuất còn chưa quá lâu (thuốc trong hạn sử dụng) mới phát huy tác dụng cao trong BVTV. Vì vậy, khi mua và sử dụng các loại thuốc này nông dân cần đọc kỹ nhãn mác và sử dụng theo hướng dẫn in trên bao bì. 

KS. Trần Thị Liên (Trạm Khuyến nông Nam Sách)

Monday, March 9, 2015

Lưu ý khi phun thuốc BVTV

Việc sử dụng thuốc hóa học, sinh học... để trừ sâu được nông dân ưu tiên áp dụng vì những tiện lợi, tác dụng của nó. Song vì không có kiến thức khoa học chuyên sâu, chủ yếu sử dụng theo kinh nghiệm nên còn nhiều hạn chế. 

Phun thuốc BVTV cần tuân thủ nguyên tắc "4 đúng"

Xin lưu ý một số vấn đề như sau: 

+ Sử dụng thuốc khi đến ngưỡng: Khác với bệnh hại cây trồng, sâu hại là những đối tượng sinh vật bằng mắt thường có thể nhìn rõ nên ta biết khi chúng xuất hiện trên ruộng đồng, mật độ nhiều hay ít, nông dân có thể đếm được. 

Chính vì vậy, nguyên tắc đúng là phải trừ sâu khi đến ngưỡng (là mức sâu ở mật độ đó làm sụt giảm năng suất cây trồng). Không phòng sâu hay cứ nhìn thấy có sâu là phun hoặc khi sâu gây hại xong rồi lại đi phun thuốc quá muộn lúc sâu đẫy sức hay đã vào nhộng. 

Ví dụ: Đối với loài sâu tơ gây hại cây họ hoa thập tự thì ngưỡng phun trừ thuốc phải là 20 con/m2 khi cây còn nhỏ. Đối với cây đã lớn, ngưỡng phòng trừ là 30 con/m2

+ Thời điểm trừ sâu, sâu dễ chết nhất: Đó là lúc sâu non tuổi còn nhỏ (sâu mới nở) nên không có khả năng kháng thuốc. Muốn biết được đúng thời điểm này, việc làm cần thiết là thăm đồng theo dõi bướm. Đa số các loài sâu thì bướm vũ hóa và đẻ trứng 2 - 3 ngày, pha trứng thường kéo dài từ 6 - 10 ngày. 

Cần theo dõi bướm vũ hóa tập trung vào những ngày nào để tính toán thời điểm trứng nở thành sâu non tuổi 1. Lúc phun sâu ở giai đoạn này hầu như không nhìn thấy sâu non hoặc nhìn thấy thì rất khó đếm được. Vì vậy, khi điều tra pha bướm cần phải biết được mật độ bướm trung bình có bao nhiêu con/m2. Đồng thời, biết rõ loài bướm sâu này đẻ trung bình được bao nhiêu trứng mỗi con cái, để từ đó ước lượng, dự đoán được lượng sâu non/m2. Muốn làm được điều này bà con cần tham gia đầy đủ các buổi học nghề về trồng trọt ở địa phương tổ chức. 

+ Khi hòa thuốc sâu có nên cộng với thứ gì làm sâu chết nhanh? Nhiều nông dân khi đi phun thuốc sâu thường có thói quen và truyền tai nhau cho thêm rượu vào bình thuốc đã hòa để làm sâu chết nhanh. Vì họ cho rằng, sâu bị say rượu nên dễ chết hơn. Hoặc khi phun trừ rệp sáp, nhiều người có thói quen thêm xà phòng vào bình thuốc để lớp sáp trên mình rệp dễ phá vỡ. 

Những thói quen này đều sai khoa học và làm cho hiệu lực của thuốc bị giảm đi. Vì rượu và xà phòng về bản chất đều là các bazơ (có tính kiềm) nên khi phối trộn với các loại thuốc sâu có tính axit thì đều gây ra phản ứng bất lợi (dung dịch kết tủa hoặc bay hơi...). 

Vì thế, khi hòa thuốc sâu vào bình để phun không nên trộn 2 thứ dung môi trên. Chỉ sử dụng rượu trong trường hợp hòa thuốc Dipterex để trừ bọ xít. Vì thuốc này rất khó tan trong nước nếu hòa đơn lẻ thuốc. Muốn thuốc tan nhanh hơn nên hòa thuốc vào khoảng 1 lít nước trước rồi đổ khoảng 20 ml rượu trắng vào dung dịch thuốc đã hòa khuấy tan đều rồi đỏ vào bình và cho thêm nước đến mức quy định. 

Chú ý: 

+ Các loại thuốc trừ rầy rệp hiện nay do các công ty khi SX thuốc đã cho các dung môi có lợi cho việc trừ sâu sẵn vào trong thuốc để diệt sâu hiệu quả hơn. Vì vậy, nông dân không cần phối trộn thêm thứ gì khi pha thuốc. 

+ Khác với nhiều loài sâu khác (chỉ pha sâu non mới gây hại cây trồng), các loài rầy, rệp và bọ nhảy thì cả 2 pha (trưởng thành và sâu, rầy non) đều có khả năng gây hại. 

Riêng loài bọ nhảy sọc cong vỏ lạc hại rau thập tự thì trưởng thành là những con bọ đen ăn giỗ lá trên cây, dưới đất, sâu non lại cắn phá làm cụt hết rễ rau thậm chí làm cây chết héo vì đứt hết rễ. Cho nên, khi phun thuốc trừ bọ nhảy nông dân cần phải cùng lúc diệt cả 2 pha này (phun thuốc trên thân lá đồng thời phun đẫm cả gốc cây rau). 

+ Để phát huy hiệu lực của thuốc và làm sâu không kháng thuốc (nhờn thuốc), nông dân cần phun vào chiều mát (ngày có nắng) hoặc vào lúc tạnh ráo (ngày có mưa). Đồng thời, cần hòa thuốc đúng theo nhãn mác hướng dẫn ghi trên bao bì. Không nên tăng nồng độ, liều lượng sẽ làm cho thuốc dần dần mất hiệu lực (sâu kháng thuốc). 

+ Khác với thuốc trừ bệnh, thuốc trừ sâu khi phun cho cây trồng có thể phối trộn được với phân bón lá có chứa đạm nhằm một mặt diệt sâu, mặt khác, bổ sung dinh dưỡng cho cây nhanh hồi phục sau khi bị sâu gây hại... 

+ Một số loài sâu có tính kháng thuốc cao (sâu tơ, bọ nhảy, rầy, rệp, nhện đỏ...) cần phun kép 2 lần cách nhau 3 - 4 ngày mới có hiệu quả trừ sâu. Riêng loài bọ nhảy có khả năng bay nhảy nhanh thì khi phun người phun cần phải đi theo đường vòng xuyến xoáy chôn ốc để đồn bọ nhảy vào giữa sẽ diệt được nhiều hơn... 

+ Một số loài sâu thì pha gây hại lại nằm sâu trong thân, lá cây (sâu đục thân, dòi đục lá, sâu đục quả...) cần lựa chọn các loại thuốc trừ sâu có tính nội hấp và lưu dẫn mới nhằm diệt được sâu triệt để. 

+ Không nên phun thuốc trừ sâu khi đã phát hiện ra cây bị sâu hại nhưng quá muộn. Ví dụ, thấy dòi đục lá cà chua thành các đường ngoằn nghèo nhưng quan sát trên lá cây không còn dòi nữa thì coi như đã muộn không nên phun nữa.

Liên Trần/ Báo Nông nghiệp Việt Nam

Wednesday, May 7, 2014

Ủ phân hữu cơ

Bón phân chuồng cho cây trồng tốt nhất nên bón lót, không nên bón thúc hoặc rải bề mặt luống dễ làm mất phân và cây trồng khó hấp thu được.

Qua theo dõi thực tế ở nhiều vùng SX rau màu tại miền Bắc, nông dân do không chăn nuôi hoặc đã xử lý chất thải (làm biogas) nên không tích lũy được phân chuồng để bón ruộng. Họ tìm đến các trang trại nuôi gà để mua phân. Song, hầu hết các chủ trang trại đều dọn chuồng và tích phân trong các vỏ bao cám sẵn có.


Cho nên, nông dân sau khi mua phân về, tiện thể họ đựng luôn trong bao dứa như vậy rồi chất chồng các bao lên nhau thành đống.

Nhà thì sơ sài để phân dầm mưa dãi nắng cho nhanh tơi xốp. Có hộ lại cẩn thận quá hóa sai, dùng ni lông bọc kín đống các bao phân vừa để đỡ mùi hôi thối, vừa để “giữ” được dinh dưỡng trong phân.

Trước thực trạng này, xin khuyến cáo bà con một số biện pháp sau:

- Trước hết bà con cần nắm rõ, để tốt cho cây trồng, phân chuồng cần được ủ hoai mục. Vì phân được ủ, hạt cỏ dại, mầm mống bệnh cây và côn trùng sẽ bị tiêu diệt, vừa thúc đẩy quá trình phân huỷ chất hữu cơ, đẩy nhanh quá trình khoáng hoá để khi bón vào đất phân hữu cơ có thể nhanh chóng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây.

- Muốn cho quá trình phân giải của phân chuồng được diễn ra nhanh và hiệu quả lại dễ áp dụng trong điều kiện nông hộ, phải đảm bảo đủ 3 yếu tố: Nhiệt độ, ẩm độ và oxy. Trong đó, ẩm độ và oxy có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đống phân sau này.

Nếu đủ ẩm (60 - 70%) và có oxy lưu thông được vào đống phân - phân không nén, các chất độc phân giải được thoát ra ngoài, quá trình phân giải của phân nhanh hơn, nên nông dân sớm có phân hoai mục bón ruộng (1 - 1,5 tháng).

Ngược lại, nếu môi trường trong đống phân yếm khí (thiếu oxy) - nén phân, vi sinh vật có ích ít hoạt động, phân sẽ phân giải chậm hơn.

Nông dân phải chờ thời gian kéo dài (5 - 6 tháng) mới có phân hoai mục để bón. Tuy nhiên, cách đánh đống không nén phân thì lượng đạm sau khi phân giải thành NH3 (nhẹ hơn không khí) sẽ dễ bị bay hơi mất.

- Để thúc đẩy cho phân chuồng phân giải nhanh hơn và không bị mất nhiều đạm nên trộn vào đống phân một lượng vôi tả từ 1 - 1,5% và khoảng 2% lân supe. Đồng thời phủ lên đống phân một lớp bùn dày 2 - 3 cm để đạm bay hơi sẽ tích tụ vào bùn.

Mặt khác, việc dùng bùn để chát sẽ giúp cho oxy lưu thông được vào phân tốt hơn. Các chất độc sản sinh ra trong quá trình phân giải các chất hữu cơ cũng thoát được ra ngoài dễ dàng...

-Tuyệt đối không được dùng ni lông che phủ hay rơm rạ hoặc đựng trong bao dứa để ngoài tự nhiên như nông dân thường làm sẽ không tốt cho đống phân ủ.

Nguồn phân gà là nguồn phân giàu đạm nhất trong các loại phân chuồng (lượng đạm nguyên chất chiếm 1,63%). Do đó, muốn giữ được lượng đạm quý hiếm này, nông dân cần mua phân ngay sau khi chủ hộ chăn nuôi vừa quét dọn chuồng rồi đem về nhà đổ dồn đánh đống.

Do lượng đạm nguyên chất cao, các chất dinh dưỡng trong cám theo phân ra ngoài vẫn còn nhiều nên thời gian ủ phân gà cần phải lâu hơn các loại phân khác. Thông thường, nếu áp dụng cách ủ không nén phân, không sử dụng men ủ và đảo 1 lần/tháng thì thời gian ủ tối thiểu phải từ 2 - 2,5 tháng mới cho phân hoai mục.

Không bón phân tươi hoặc phân chuồng đang phân hủy sẽ làm cho cây dễ bị ngộ độc hữu cơ và chết.

Khi dỡ đống phân ra để bón ruộng cần đập nhỏ lớp bùn, đảo đều vào phân rồi đem đi bón. Vì đạm bay hơi ra sẽ tích tụ lại bùn.

Bón phân chuồng cho cây trồng tốt nhất nên bón lót, không nên bón thúc hoặc rải bề mặt luống dễ làm mất phân và cây trồng khó hấp thu được.

Trần Thị Liên/ nongnghiep.vn

Thursday, May 1, 2014

Nấm đối kháng Trichoderma

Đây là loại nấm hoại sinh có khả năng ký sinh và đối kháng trên nhiều loại nấm gây bệnh cây trồng.

Trichoderma là loại nấm sống phổ biến trong các loại đất, nơi có nhiều dinh dưỡng, chất hữu cơ…nhất là xung quanh vùng rễ của cây.

Ảnh minh họa

Trichoderma sinh trưởng và phát triển mạnh tại vùng rễ, một số giống nếu được xử lý với hạt giống có thể sống trên bề mặt rễ ngay cả khi rễ mọc sâu xuống đất hàng mét và tồn tại tới 18 tháng sau khi xử lý.

Phân loại

Trichoderma thuộc nhóm nấm Bất toàn (Deuteromycetes) không có giai đoạn sinh sản hữu tính, sinh sản vô tính bằng bào tử. Trichoderma đến nay, đã xác định có 33 giống, mỗi giống có mỗi đặc tính riêng. Ở Việt Nam, ĐH Nông nghiệp Cần Thơ, ĐH Nông Lâm TP HCM, Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.HCM đã phân lập được một số chủng như T.harzianum, T. viride, T.lignorum, T.koningil…

Công dụng

- Nấm ký sinh: Trichoderma có khả năng khống chế, cạnh tranh và tiêu diệt nhiều loại nấm gây bệnh thối rễ, chết rạp cây con, xì mủ…trên cây trồng như Pythium, Rhizoctonia, Fusarium, Phytophthora, Sclerotium… bằng cách tiết ra một enzym làm tan vách tế bào của các loại nấm gây hại, sau đó Trichoderma xâm nhập và hút dinh dưỡng của các loại nấm hại làm các loại nấm gây hại bị chết.

- Một số giống Trichoderma giúp cây trồng phát triển nhiều rễ, ra rễ mạnh hơn, nhiều hơn và mọc sâu hơn (sâu 1m dưới mặt đất) do đó làm cho cây trồng tăng chính chống chịu hạn và tính đổ ngã. Ngoài ra nghiên cứu cho thấy trên rễ cây bắp nếu xử lý dòng nấm Trichoderma T.22 thì nhu cầu cây bắp cần ít hơn 40% đạm so với cây không xử lý nấm Trichoderma.

- Phân giải hữu cơ: Trichoderma được xem như nhà máy SX enzym phân giải chất xơ cellulose và các enzym phân giải các hợp chất khác (chitin, protein, pectin, amylopectin…). Do đó Trichoderma thường được trộn chung với chất thải hữu cơ, vỏ cà phê, dư thừa thực vật sau thu hoạch để đẩy nhanh quá trình phân hủy các chất hữu cơ thành các đơn chất dinh dưỡng giúp cây hấp thụ dễ dàng.

Nghiên cứu của Trung tâm Cây ăn quả Long Định (thuộc Viện Nghiên cứu cây ăn quả Miền Nam- SOFRI): Các nghiên cứu ngoài đồng cho thấy nấm Trichoderma phun phòng bệnh thán thư trái non, tuy không có khác biệt với các nghiệm thức hóa học khác, tuy nhiên hạn chế sự phát triển của nấm bệnh và không gây ảnh hưởng đến môi trường và thiên địch...

- Phân hữu cơ sinh học: Nhờ các đặc tính trên mà thường được trộn chung với các loại phân hữu cơ (phân chuồng) và các chế phẩm sinh học…bón vào đất để hạn chế bệnh hại và cải tạo tính chất vật lý, hóa học của đất giúp đát tơi xốp, thoáng khí, nhiều chất mùn, tăng độ phì, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật có ích và vi sinh vật đối kháng phát triển, hạn chế phân bón hóa học và thuốc BVTV, giúp tăng cường khả năng phát triển, phục hồi bộ rễ.

- Ứng dụng trong công nghệ SX cây trồng kháng bệnh: Một số gen lấy từ chủng Trichoderma harzianum được cấy vào cây trồng giúp cây kháng được nhiều nấm bệnh như bệnh đốm vòng, khảm, chết rạp cây con.

- Tính mẫn cảm với thuốc BVTV: Trichoderma thể hiện tính kháng thuốc với phần lớn các hóa chất nông nghiệp bao gồm cả thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh. Dù rằng tính kháng thuốc này ở các chủng Trichoderma có khác nhau. Tuy nhiên một số tài liệu khuyến cáo không dùng chung Trichoderma với sản phẩm có hoạt chất Carbendazim và Benomyl.

Một số nghiên cứu và ứng dụng ở VN

Nghiên cứu tại ĐH Cần Thơ: Bổ sung phân bón hữu cơ với Trichoderma (Trico – DHCT 5g/cây) và vôi (1,7 tấn CaO/ha) giúp giảm bệnh chảy mủ do Phytophthora palmivora, ngoài ra còn giúp tăng năng suất và chất lượng trái.

- Tưới (Trico – DHCT 5g/cây) + vôi (200 g/gốc) + phân vô cơ 300 g/gốc, 2/3 DAP, 1/3 KCL) + phân hữu cơ (10 kg/ gốc) giúp chặn đứng bệnh thối rễ trên cây cam sành (Trà Ôn, Vĩnh Long), cây sinh trưởng mạnh trở lại.

- Tưới (Trico - DHCT 10 kg/ha) + vôi (50 kg/ha x 2 lần cách nhay 15 ngày) +Ca - Chlorine (2 phần ngàn) + phân bò hoai (10 tấn/ha) giúp giảm được bệnh vi khuẩn cây xà lách xoong trên nhiều vụ nối tiếp nhau…

ThS Huỳnh Kim Ngọc/ nongnghiep.vn

Monday, April 28, 2014

Sử dụng phân bón hiệu quả trên đất phèn

Để sử dụng phân bón hiệu quả thì cần phải chú ý bón phân đáp ứng theo nhu cầu của cây.

Các nhà khoa học khuyến cáo nông dân nên sử dụng phân bón theo 6 đúng để đạt hiệu quả cao

Đó là nội dung diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp với chủ đề “Nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón trên đất phèn vùng ĐBSCL” do Trung tâm KNQG phối hợp với Sở NN-PTNT Hậu Giang tổ chức tại TP Vị Thanh ngày 24/4. Tham dự diễn đàn có các nhà quản lý, nhà khoa học đến từ các viện, trường và 250 nông dân ĐBSCL.

Đến với diễn đàn, nông dân được nghe các nhà khoa học báo cáo kết quả các đề tài nghiên cứu về cách xử lý phèn, mặn trong canh tác nông nghiệp, cách sử dụng phân bón hiệu quả cho các loại cây trồng khác nhau.

Trong báo cáo đề dẫn, TS Phan Huy Thông, GĐ Trung tâm KNQG cho biết, ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất của cả nước, cung cấp tới 90% lượng gạo xuất khẩu của VN nhưng diện tích đất đai phù sa ngọt màu mỡ, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp chỉ khoảng 1,2 triệu ha, còn lại gần 2,5 triệu ha đất bị nhiễm phèn, mặn; riêng diện tích đất bị nhiễm phèn là 1,6 triệu ha (chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên).

Phần lớn đất phèn ở ĐBSCL tập trung ở vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau và Tây sông Hậu. Trong đất phèn có một số độc tố với hàm lượng rất cao làm kìm hãm sự phát triển của cây trồng, dẫn đến năng suất thấp và không ổn định. Chính vì vậy, việc cải tạo đất phèn và nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón trên đất phèn là nhu cầu cấp bách nhằm cải thiện điều kiện SX, nâng cao thu nhập cho người dân.

Trong tham luận của mình, TS Nguyễn Đăng Nghĩa, GĐ Trung tâm Nghiên cứu đất, phân bón & môi trường phía Nam (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa) cho biết, “thủ phạm” gây ra đất phèn là do độc tố nhôm (Al) và sắt (Fe) xuất hiện với hàm lượng là nồng độ khá cao. Nếu mặt đất phèn mà có nước màu vàng, nổi váng màu đỏ là do sắt gây ra (nông dân gọi là phèn nóng); còn nước trong xanh, đất quanh bờ màu xám là do nhôm gây ra (phèn lạnh).

Nhiễm phèn làm cho môi trường đất bị chua và 2 độc tố nhôm, sắt làm hạn chế sự sinh trưởng của cây. Vì vậy, cần phải cải tạo đất phèn trước khi đưa vào SX và phải chú ý một số biện pháp kỹ thuật đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón trên đất phèn. Vì phân bón quyết định đến 40% năng suất cây trồng.

Trước hết là thiết kế đồng ruộng và kỹ thuật làm đất. Nếu canh tác lúa nước thì có kênh, mương và đánh rãnh trên ruộng để xả phèn. Nếu canh tác cây trồng cạn thì lên liếp để hạ phèn. Sử dụng giống và nhóm cây trồng thích ứng với đất phèn. Đối với lúa nên chọn các giống kháng phèn hoặc chống chịu phèn, còn cây trồng cạn thích hợp canh tác trên đết phèn là mía, khoai mỡ, chuối, bắp, mè và một số cây lâm nghiệm như tràm, bạch đàn…

TS. Phan Huy Thông phát biểu kết luận diễn đàn

Chọn kỹ thuật canh tác phù hợp nhằm hạn chế phèn như “ém phèn, né lũ”, sạ ngầm, điều tiết nước ruộng hợp lý; xây dựng quy trình bón phân hợp lý, hiệu quả. Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón trên đất phèn thì trước khi bắt tay vào mùa canh tác mới thì phải chú trọng sử dụng sử dụng các chất cải thiện độ pH và làm giảm các độc tố trong đất. Các chất được dùng phổ biến hiện nay là vôi, Dolomite, Secpentin, phosphorite, Biochar (than hoạt tính), các chế phẩm sinh học, bón lót phân hữu cơ…

Một số nông dân hỏi về cách phân biệt lúa bị ngộ độc hữu cơ và ngộ độc phèn. Theo các nhà khoa học, ngộ độc phèn rễ lúa có màu vàng, còn ngộ độc hữu cơ rễ lúa màu đen và có mùi hôi.

Một số người còn cho biết, có nơi nông dân sử dụng xi măng để xử lý phèn cũng mang lại hiệu quả, vậy có nên làm theo cách này? Các nhà khoa học khuyến cáo tuyệt đối không được dùng xi măng để sử lý phèn vì sẽ làm chai đất mà lên dùng vôi để xử lý.

Còn TS Chu Văn Hách (Viện Lúa ĐBSCL) thì cho rằng, thực tế ở ĐBSCL hiện nay vẫn còn nhiều nông dân đầu tư phân bón kém hiệu quả, nguyên nhân do còn nặng về kinh nghiệm truyền thống, không thấy được yếu tố hạn chế trong đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, cụ thể là đất bị chua do độ pH thấp.

Để sử dụng phân bón hiệu quả thì cần phải chú ý bón phân đáp ứng theo nhu cầu của cây. Chẳng hạn trong canh tác lúa mà bón phân đợt đầu quá trễ (lên đến 12 - 15 ngày sau sạ) làm cho bộ rễ kém phát triển hoặc dứt phân đợt 3 quá sớm (34 - 35 ngày sau sạ) làm cho lá lúa bị vàng sớm ở giai đoạn sau trỗ do thiếu dinh dưỡng. Bón phân không cân đối giữa các nguyên tố đa lượng N, P, K hoặc là bón ở lượng cao cho cả 3 đợt dưới dạng hỗn hợp NPK nên gây lãng phí.

“Để có một vụ mùa hiệu quả trên đất phèn thì cần thực hiện các biện pháp quản lý tổng hợp và đồng bộ nhằm giảm thiểu yếu tố do ngộ độc phèn gây ra như sử dụng giống chịu phèn, giải pháp thủy lợi (dùng nước rẽ phèn), bón phân theo nguyên tắc 6 đúng (đúng loại, đúng lượng, đúng thời điểm, đúng phương pháp, đúng mùa vụ, đúng loại đất), bón lót vôi và lân từ đầu vụ, Biochar (than sinh học)… hạn chế sử dụng các loại phân có chứa chất gây chua”, TS Chu Văn Hách khuyến cáo.

Tại diễn đàn, nông dân đã đặt gần 50 câu hỏi cho các nhà quản lý, nhà khoa học giải đáp. “Sử dụng phân bón trên đất phèn sắt và phèn nhôm có gì khác nhau?”, ông Trần Văn Dũng, nông dân huyện Vị Thủy, Hậu Giang đặt câu hỏi.

Vấn đề này được PGS,TS. Mai Thành Phụng, Trung tâm KNQG giải đáp, cả đất bị phèn sắt và phèn nhôm đều cần được xử lý (rửa phèn) trước thì bón phân mới hiệu quả. Đất phèn rất nghèo lân nên cần bón lót các loại lân nung chảy trước khi xuống giống. Nhưng ngược lại, đất phèn giàu chất hữu cơ nên không cần bón thêm phân hữu cơ.

Đ.T.Chánh/ nongnghiep.vn