Saturday, February 14, 2015

Mạ non héo từng chòm

Hiện nay, có nhiều ô mạ non ở các địa phương miền Bắc bị héo từng chòm khiến bà con nông dân lo lắng.  

Mạ non của một hộ nông dân ở Nam Sách (Hải Dương) bị héo chòm

Mạ đang ở giai đoạn từ 2,5 - 4 lá và bùn gieo vẫn giữ độ ẩm bình thường, nhưng có biểu hiện héo từng chòm và loang rộng nhanh. Kiểm tra không thấy các loại rầy, rệp và vết bệnh do vi sinh vật gây hại. Tuy nhiên, nhổ lên thấy bộ rễ đen và kém phát triển. 

Nguyên nhân: Do thời gian sau gieo thời tiết luôn diễn biến nhiệt độ thấp, biên độ nhiệt ngày đêm và ẩm độ không khí luôn cao. Nền gieo, chất lượng bùn và đảo trộn không đồng đều. 

Biện pháp khắc phục: Mở nylon che úm vào ban ngày có thời tiết ấm. Khẩn trương chuyển ngay ô mạ đó ra giữa ruộng định cấy. Tạo nền bùn mới rồi nhấc cả ô mạ đó đặt vào, quây úm nylon và điều chỉnh nhiệt như ban đầu. Dùng chế phẩm siêu ra rễ (HPC - 97R) loại 15 gr pha ở tỷ lệ 1/2 gói với 6 lít nước, phun đẫm đều cho 50 m2 mạ; phun 2 lần liên tục, lần sau lần 1 từ 1 - 2 ngày.

Nguyễn Hữu Vân/ nongnghiep.vn

Friday, February 13, 2015

Khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống của Trùn chỉ (Limnodrilus hoffmeisteri Claparede, 1862) trên các nền đáy khác nhau trong điều kiện phòng thí nghiệm

Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích tìm ra nền đáy thích hợp cho việc nuôi sinh khối trùn chỉ (L. hoffmeisteri).

Ảnh minh họa

Tóm tắt

Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích tìm ra nền đáy thích hợp cho việc nuôi sinh khối trùn chỉ (L. hoffmeisteri). Thí nghiệm được tiến hành trong phòng thí nghiệm với 4 nghiệm thức khác nhau về nền đáy, một nghiệm thức đối chứng là bùn đáy, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Thành phần kết hợp là phân bò đã được ủ chế phẩm sinh học và cát mịn. Sau 15 ngày thí nghiệm, tỷ lệ sống cũng như tốc độ sinh trưởng của trùn chỉ cao nhất ở nghiệm thức đối chứng (tỷ lệ sống 95,0 ± 1,9%, sinh trưởng tuyệt đối 0,32 ± 0,09 mg/ngày, sinh trưởng tương đối 8,60 ± 1,56 %/ngày), tiếp đến nền đáy phối hợp 75% phân bò + 25% cát mịn (tỷ lệ sống 87,6 ± 3,2%, sinh trưởng tuyệt đối 0,31 ± 0,03mg/ngày, sinh trưởng tương đối 8,58± 0,54 %/ngày), không có ý nghĩa thống kê giữa 2 nghiệm thức này (P>0,05) và kết quả thấp nhất ở nghiệm thức kết hợp nền đáy 25% phân bò + 75% cát mịn (tỷ lệ sống 70,9 ± 6,3%, sinh trưởng tuyệt đối 0,16 ± 0,03 mg/ngày, sinh trưởng tương đối 5,68 ± 0,74%/ngày) sai khác có ý nghĩa thống kê với các nghiệm thức còn lại P<0,05. Như vậy, nên chọn chất nền là bùn hoặc có thể chọn nền đáy kết hợp 75% phân bò và 25% cát mịn để nuôi trùn chỉ.

1. Giới thiệu

Với tầm quan trọng của trùn chỉ, trên thế giới có khá nhiều đề tài nghiên cứu về khả năng nuôi sinh khối đối tượng này. Tuy nhiên, những nghiên cứu về trùn chỉ tập trung chủ yếu ở vùng ôn đới. Thông tin về nuôi sinh khối trùn chỉ (L. hoffmeisteri) chưa có ở Việt Nam. Mặc dù có dữ liệu về đặc điểm sinh học và nuôi sinh khối trùn chỉ nhưng là loài Tubifex tubifex (Đinh Thế Nhân, 1999). Nghiên cứu này nhằm báo cáo về khả năng phát triển của trùn chỉ ở nền đáy khác nhau trong điều kiện phòng thí nghiệm.


2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành nghiên cứu từ tháng 1/2013 - 3/3013, tại phòng thí nghiệm Sinh lý - Sinh thái, Trường Đại học Nha Trang - Khánh Hòa. Trùn chỉ (L.hoffmeisteri) chọn lọc từ rãnh nước thải ở Xã Vĩnh Phương - TP Nha Trang - Khánh Hòa, được nuôi giữ giống tại phòng thí và được nhân gống trước khi tiến hành thí nghiệm 2 tháng để có đủ số lượng trùn chỉ như mong muốn.

Mục đích của thí nghiệm là xác định nền đáy tối ưu cho L.hoffmeisteri. Nền đáy được phối hợp giữa phân bò đã qua ủ với với chế phẩm sinh học Balasa - N01 trước khi sử dụng 1 tháng và cát mịn với các tỷ lệ khác nhau.

Phân bò được lấy mẫu đem đi phân tích vi sinh và trứng giun sán trước khi sử dụng. Định tích các loại vi sinh vật phổ biến trong phân (Coliforms phân, Escherichia coli, Streptococcus phân, Salmonella, Vi khuẩn Vibriospp) bằng cách cấy mẫu trên các môi trường đặc trưng. Phân tích định tính trứng giun sán theo phương pháp phù nổi và gạn rửa sa lắng; định lượng bằng cách đếm trứng trên buồng đếm Mc Master.

Bùn đáy sử dụng trong nghiệm thức đối chứng  được lấy từ khu vực đã thu trùn chỉ. Bùn đáy được ray qua vợt có mắt lưới 2a = 0,5mm để loại bỏ toàn bộ các loài sinh vật không liên quan sau đó đem tiệt trùng để loại bỏ toàn bộ kén giun ít tơ còn sót lại. 

Bố trí thí nghiệm

Điều kiện thí nghiệm

Thí nghiệm để đánh giá khả năng sinh trưởng và gia tăng mật độ của trùn chỉ L.hoffmeisteri với mức phối hợp nền đáy khác nhau chúng tôi tiến hành nuôi trùn chỉ với mật độ 1con/cmtrong khay nhựa có diện tích 150cm2 (10 x 15cm). Khay nuôi trùn chỉ được cấp 2 cm nền đáy. Sau khi thả trùn, khay nuôi được đặt dưới hệ thống nước chảy nhỏ giọt trong phòng thí nghiệm. Nhiệt độ và ánh sáng tự nhiên. 

Định kỳ 3 ngày cho trùn chỉ ăn một lần, thức ăn là cám gạo, với liều lượng cho ăn bằng 15% trọng lượng cơ thể/1 ngày trước khi cho ăn thức ăn được ngâm trong nước 1 ngày trong điều kiện nhiệt độ phòng. Khi cho ăn tắt hệ thống nước chảy nhỏ giọt, cấp thức ăn vào khay nuôi sau 3 - 4 tiếng để toàn bộ thức ăn lắng xuống đáy mới cho nước chảy trở lại. 

Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức được lặp lại 5 lần. Các nghiệm thức được bố trí như sau: NT1: nền đáy 100% phân bò;  NT2: nền đáy 75% phân bò + 25% cát mịn; NT3:  nền đáy 50% phân bò + 50% cát mịn; NT4: nền đáy 25% phân bò + 75% cát mịn; NT5:  nền đáy 100% bùn đáy (nghiệm thức đối chứng)

Thí nghiệm được thực hiện trong khoảng thời gian là 15 ngày, kết thúc đợt thí nghiệm tiến hành thu toàn bộ trùn chỉ, đếm số lượng xác định tỷ lệ sống, cân trọng lượng xác định tăng trưởng tuyệt đối và tăng trưởng tương đối.

Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu

Chỉ tiêu đánh giá

Khối lượng, mật độ của quần thể trùn chỉ được cân và đếm ở cuối mỗi chu kỳ nuôi. Cuối chu kỳ nuôi, thu toàn bộ nền đáy rây qua vợt có mắt lưới 2a = 0,5mm, sau đó đổ ra khay 600cm, dùng ống pipet thu và đếm số lượng trùn, tiếp đến loại bỏ toàn bộ chất bẩn bám vào trùn chỉ rồi đem cân trọng lượng bằng cân điện tử.

Xử lý số liệu

Số liệu đã thu thập được xử lý sơ bộ với chương trình Excel và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 18, so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức (ANOVA) sau đó sử dụng phép thử LSD để kiểm chứng.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Thành phần vi sinh vật và giun sán của phân bò trước và sau khi ủ vi sinh

Thành phần loài và mật độ vi sinh vật có trong phân trước và sau khi ủ

Kết quả phân tích ở bảng 2 cho thấy phân bò trước khu ủ nhiễm 4 loài vi khuẩn khác nhau E. coli, Vibrio spp., Streptococcus phân, Coliforms phân. Trong đó Vibrio. spp ở mức độ 107 CFU/g được xem là có cường độ nhiễm cao nhất, Coliforms phân có mật độ tế bào là 106 CFU/g, Streptococcus phân, E. coli có cường độ nhiễm thấp nhất với 104 CFU/g.

Sau khi ủ, thành phần loài và mật độ vi sinh vật trong phân bò đều giảm rõ dệt. Mẫu đem đi phân tích dương tính với một loài vi khuẩn duy nhất đó là E. coli. Mật độ của vi khuẩn này trong mẫu sau khi ủ với chế phẩm sinh học là 102 CFU/g  thấp hơn nhiều so với trước khi ủ (104 CFU/g).

 
Thành phần loài và mật độ trứng giun sán có trong phân trước và sau  khi ủ

Trong phân bò tươi chưa qua xử lý không phát hiện thấy trứng sán. Trái lại, Phân bò tươi nhiễm trứng giun xoắn đường tiêu hóa với cường độ nhiễm cao  (+++). Kết quả đếm trứng giun xoắn bằng buồng đếm Mc Master cho thấy, mật độ trứng/gam phân là 567±132. Sau thời gian 1 tháng ủ với chế phẩm sinh học Balasa -N01, mẫu phân bò đem xét nghiệm cho kết quả âm tính đối với trứng giun xoắn. Điều này cho thấy, hiệu quả về tiêu diệt mầm bệnh do kí sinh trùng có trong phân gây ra của phương pháp ủ phân với chế phẩm sinh học đạt kết quả tốt bảng 3.


Tăng trưởng và Tỷ lệ sống của quần thể trùn chỉ

3.4.1 Sinh trưởng

Sau 15 ngày nuôi, tăng trưởng của trùn chỉ bị ảnh hưởng đáng kể bởi nền đáy nuôi. Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối cũng như tăng trưởng tương đối của nghiệm thức đối chứng (NT5) là lớn nhất (0,33 ± 0,09 mg/ngày, 8,60 ± 1,56%/ngày), tiếp đến là nghiệm thức phối hợp 75% phân bò & 25% cát mịn (NT2) và phối hợp 50% phân bò & 50% cát mịn (NT3), thấp nhất là ở nghiệm thức phối hợp 25% phân bò 75% cát mịn (NT4) (0,16 ± 0,03 mg/ngày, 5,68 ± 0,74%/ngày). Sự sai khác về tốt độ tăng trưởng tương đối và tuyệt đối của trùn chỉ giữa nhóm cao nhất (TN5, NT2, NT3) và nhóm thấp nhất (NT4, NT1) có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Tuy nhiên, sự sai khác về tăng trưởng của trùn chỉ giữa nghiệm thức đối chứng với nghiệm thức thứ 2 và thứ 3 không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Điều này cho thấy có thể chọn nền đáy là bùn hoặc nền đáy có tỷ lệ phối hợp phân bò từ 50% - 75% với cát mịn để nuôi trùn chỉ. Tuy nhiên để trùn chỉ thích ứng nhanh và có thể tham gia sinh sản ngay trong thời gian nuôi ngắn nhất nên chọn nền đáy nuôi là đáy bùn. Kết quả về tăng trưởng của trùn chỉ ở nền đáy phối hợp giữ phân bò và cát mịn ít có sự khác biệt khi tăng hàm lượng phân bò từ 25% - 75%. Trái ngược với kết quả nghiên cứu của M Peter Marian (1984) khi nuôi sinh khối loài Tubifex tubifex, tốc độ tăng trưởng đã gần như gấp đôi và sau đó tăng gấp đôi, khi bổ sung các phân bò tăng từ 25 - 75%. Sự khác biệt này có thể do M Peter Marian (1984) nuôi sinh khối bằng phân bò tươi, hàm lượng dinh dưỡng cao hơn phân bò đã ủ sau một tháng. Thêm vào đó, phân bò tươi có độ mịn hơn phân bò khô, thuận lợi cho việc lấy thức ăn và chui rúc của trùn chỉ.

3.4.2 Tỷ lệ sống

Trong thời gian thí nghiệm 15 ngày, tỷ lệ sống của L. hoffmeisteri ở các nền đáy khác nhau giao động từ 74,4 - 95,0%. Tỷ lệ sống của trùn chỉ cao nhất ở nghiệm thức đối chứng (95,0 ± 1,9%), thấp nhất ở nghiệm thức phối hợp 75% cát mịn với 25% phân bò 70,9 ± 6,3%, tiếp đến là nghiệm thức có 100% phân bò làm nền đáy (74,4 ± 5,1) sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P< 0,05). Nghiệm thức phối hợp 50% phân bò với 50% cát mịn và 75% phân bò với 25% cát mịn đều có tỷ lệ sống trên trung bình 80% tương ứng là  83,9 ± 1,7%87,6 ± 3,2%, sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Kết quả về tỷ lệ sống của thí nghiệm cao hơn so với nghiên cứu của M Peter Marian (1984) về tỷ lệ sống của trùn chỉ loài (Tubifex tubifex). Tỷ lệ sống của T. tubifex ở các nền đáy khác nhau giao động từ 70 - 80% (M Peter Marian,1984

Kết thúc 15 ngày thí nghiệm, ở các nghiệm thức có nền đáy là phân bò hoặc phối hợp giữa phân bò và cát mịn chưa thấy xuất hiện trùn chỉ con và kén trùn chỉ. Ngược lại, khi thu mẫu ở nghiệm đối chứng chúng tôi đã phát hiện trùn chỉ con. Trùn con có kích thước nhỏ, cơ thể có màu hồng nhạt. Đặc biệt, trong các khay đối chứng đã xuất hiện kén. Điều này chứng tỏ sau thời gian thích ứng với môi trường nuôi nhân tạo trùn chỉ đã tham gia sinh sản vô tính một số con thành thục sinh dục đã tham gia sinh sản hữu tính.


Trùn chỉ có thể sống trong nền đáy phối hợp giữa phân bò và cát mịn (tỷ lệ sống >70%). Tuy nhiên, tỷ lệ sống của trùn chỉ ở nền đáy phối hợp giữa phân bò và cát mịn vẫn thấp hơn nền đáy đối chứng (đáy bùn). Điều khác biệt nữa, đối với nền đáy mới hoàn toàn trùn chỉ phải mất thời gian thích nghi, chưa thể tham gia sinh sản ngay trong thời gian nuôi 15 ngày.

4. Kết luận và đề xuất ý kiến

4. 1 Kết luận

- Phân bò ủ yếm khí với chế phẩm sinh học có thay đổi rõ về màu, mùi theo hướng tích cực, giảm số lượng cũng như mật độ vi sinh vật, trứng giun sán, giảm ô nhiễm môi trường. Sau khi ủ phân bò không bị nhiễm trứng giun xoắn đường ruột, sán, chỉ nhiễm vi khuẩn E. coli với mật độ 102 CFU/g, hàm lượng Protein 6,61%, Độ ẩm 7,2%, Tro 5,6%, Canxi 98,7% và Photpho 69,7%.

- Tốc độ sinh trưởng tương đối và tuyệt đối của trùn chỉ ở nghiệm thức đối chứng cao nhất (0,32 ± 0,09 mg/ngày, 8,60 ± 1,56 %/ngày), nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê so với tốc độ sinh trưởng của trùn chỉ ở nghiệm thức phối hợp 75%, 50% phân bò & 25%, 50% cát mịn tương ứng (P>0.05).

- Tỷ lệ sống của trùn chỉ từ 74,4 - 95,0%, cao nhất ở nghiệm thức đối chứng (95,0 ± 1,9%) và thấp nhất ở nghiệm thức có mức phối hợp  phân bò 25% và cát mịn 75% (70,9 ± 6,3 %). Duy nhất ở nghiệm thức đối trứng có sự xuất hiện của trùn chỉ con và kén trùn chỉ.

4.2 Đề xuất:

 - Trùn chỉ sinh trưởng và sinh sản tốt ở nền đáy bùn tuy nhiên trong nuôi nhân tạo việc cung cấp 100% đáy bùn sẽ gặp nhiều khó khăn. Do đó cần tiếp tục nghiên cứu mức phối hợp giữa bùn và cát mịn để tìm ra nền đáy nuôi thích hợp nhất.

Tài liệu tham khảo:

1. Giere, O. and Pfannkuche, O. 1982. Biology and ecology of marine oligochaete,a review. In: M. Barnes (ed.), Oceanogr. Mar. Biol.Aberdeen University Press, pp 173-308.

2. Phillips, G.R. and Buhler, D.R. 1979. Influences of dieldrin on the growth and body composition of fingerling of rainbow trout (Salmo gairdneri) fed Oregon moist pellets or Tubificid worms (Tubifex sp.). J. Fish. Res., Board Canada, 36: 77-80.

3. Marian. M. P,   T.J.  Pandian, 1984. Culture  and  harvesting  techniques  for  tubifex  tubifex, Aquaculture,  42, 303-315.

4. Wilmoth, J. H. 1967. Biology of Invertebrate. Prenticehall, Inc. Englewood Cliffs. New Yersey

5. Đinh Thế Nhân, 1999. Nghiên cứu đặc điểm sinh học và nuôi trùn chỉ (Tubifex tubifex). Tạp chí Nông Lâm Nghiệp, số 11/1999, trang 55-58

Trương Thị Bích Hồng (Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang)/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Thursday, February 5, 2015

Phòng trị bệnh xuất huyết trên cá rô phi

Cá rô phi là đối tượng có khả năng kháng bệnh tốt. Tuy nhiên trong thời gian gần đây thì bệnh xuất huyết đang gây trở ngại, khó khăn cho nghề sản xuất giống và nuôi thương phẩm loài cá này.

Tác nhân gây bệnh

Bệnh xuất huyết trên cá rô phi do một số các loài vi khuẩn như Aeromonas sp, Pseudomonas sp… gây nên. Đây là những chủng vi khuẩn gram âm, có dạng hình que, di động, có khả năng gây tan huyết, phá hủy các mô cơ.

Dấu hiệu

Cá bị bệnh có hiện tượng ăn kém hoặc bỏ ăn, da có màu đen sạm, bơi lội chậm chạm, thường nằm gần bờ ao hoặc các cống nước. Ngoài ra, cá có biểu hiện ngứa ngáy, phản ứng mạnh với các tác nhân bên ngoài. Trên thân có nhiều đốm đỏ; da, mang, hậu môn bị xuất huyết. Góc vây, hàm dưới của nắp mang bị tụ máu thành những lớp màu đỏ. Xoang bụng bị xuất huyết nội tạng.

Xuất huyết da và gốc vây 

Phân bố và lan truyền bệnh

Bệnh xuất hiện ở khắp các giai đoạn phát triển của cá. Bệnh thường xảy ra khi cá bị sốc hay trong thời tiết bất lợi, chuyển mùa. Đặc biệt, bệnh phát triển mạnh trong môi trường nước nuôi bị nhiễm bẩn, lượng khí độc tích lũy nhiều dưới đáy ao, hàm lượng ôxy hòa tan thấp.

Bệnh lây truyền theo chiều ngang, lây trực tiếp từ con khỏe sang con yếu hoặc bệnh có thể lây lan theo nguồn nước cấp.

Gan xung huyết 

Não tụ máu 

Phòng bệnh

Tiến hành các biện pháp phòng bệnh tổng hợp cho cá. Chọn cá giống khỏe mạnh, vận chuyển giống cẩn thận, không xây xát.

Nuôi lồng: Cần vệ sinh lồng nuôi sạch sẽ, loại bỏ rong rêu, chất bẩn bám làm tăng dòng chảy lưu thông, vớt phân cá, xác cá để tránh tích lũy mầm bệnh.

Nuôi ao: Cần cải tạo ao theo đúng quy chuẩn kỹ thuật trước và sau mỗi vụ nuôi, định kỳ 15 - 20 ngày bón vôi với liều lượng 2 - 3 kg/100 m². Kiểm soát lượng phân động vật bón xuống ao đặc biệt là những ngày trời nắng nóng. Cần có biện pháp bảo đảm hàm lượng ôxy hòa tan, đặc biệt vào những ngày thời tiết bất thường, đứng gió.

Hạn chế lấy nước từ ngoài vào hệ thống nuôi cá rô phi khi vùng nuôi xảy ra dịch. Ương nuôi với mật độ thích hợp. Hạn chế hoạt động đánh bắt, kéo lưới, làm xây xát, tổn thương cá.

Bổ sung vitamin C, vitamin tổng hợp cho cá với liều lượng 30 mg/kg thức ăn, một tuần/lần. Ngoài ra có thể sử dụng tỏi tươi, xay nhuyễn, kín với liều lượng 3 - 5 g /kg thức ăn, 1 tuần/lần.

Xuất huyết mang 

Trị bệnh

Bệnh được chữa trị trong giai đoạn đầu phát hiện bệnh bằng kháng sinh kết hợp với xử lý môi trường nước nuôi.

Một số loại kháng sinh có thể sử dụng để trị bệnh xuất huyết trên cá rô phi:

Nếu bệnh trên cá rô phi giống có thể sử lý bằng phương pháp tắm với Oxytetracylin, nồng độ 25 - 50 ppm hoặc Streptomycin, nồng độ 30 - 50 ppm.

Cá thịt xử lý bằng phương pháp trộn Sulphamid với thức ăn, liều lượng 150 - 200 mg/kg cá/ngày. Thuốc phối chế KN-O4-12 liều dùng 2 - 4 g/kg cá/ngày.

Sử dụng thuốc để trị bệnh cho cá liên tục trong khoảng 5 - 7 ngày. Riêng đối với kháng sinh từ ngày thứ 3 trở đi, liều lượng có thể giảm 1/3 - 1/2 lượng thuốc kháng sinh.

Trong thời gian điều trị bệnh lượng thức ăn giảm còn khoảng 1/2 - 2/3 lượng thức ăn thông thường. Sau khi điều trị bệnh bằng kháng sinh có thể sử dụng một số loại men vi sinh để ổn định vi khuẩn đường ruột cho cá. 

Việc sử dụng thuốc kháng sinh trị bệnh cho cá cần lưu ý, vì sử dụng kháng sinh liên tục với liều lượng cao dần sẽ gây hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn và ảnh hưởng đến kháng sinh tồn dư trong thịt cá.

Nguyễn Nhung/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Monday, February 2, 2015

Phòng trị bệnh héo vàng cho quất cảnh

Kết quả phân tích mẫu đất và rễ của 5 mẫu cây quất bị héo vàng đều ghi nhận nấm Fusarium sp. ở tất cả các đĩa phân lập với tần suất xuất hiện từ 54,29 - 75,56%.

Triệu chứng điển hình của bệnh héo vàng trên quất cảnh

Theo phản ánh của Hội Nông dân phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội, nhiều vườn quất cảnh bị héo vàng và chết khô gây thiệt hại rất lớn cho người dân. Ngay sau đó, Viện BVTV cử cán bộ đến hiện trường điều tra, lấy mẫu về phân tích. Kết quả cho thấy quất bị bệnh héo vàng gây hại. 

Triệu chứng: Ban đầu toàn cây lá hơi vàng, rũ xuống giống bị thiếu nước. Khi tưới nước và chăm sóc thì cây tươi trở lại. Sau vài ngày cây tiếp tục héo, lá vàng, khô, rụng lá và quả. Sau đó cây bị khô cành rồi chết. Phần rễ cây bị bệnh có lớp vỏ ngoài bị thối. Phần lõi gỗ ở trong bị biến màu vàng nâu, không phân rõ ranh giới giữa phần bệnh và phần khỏe. Tỷ lệ bệnh trên đồng ruộng từ 10-15%

Nguyên nhân: Kết quả phân tích mẫu đất và rễ của 5 mẫu cây quất bị héo vàng đều ghi nhận nấm Fusarium sp. ở tất cả các đĩa phân lập với tần suất xuất hiện từ 54,29 - 75,56%. Chưa ghi nhận được nấm Phytophthora ̣sp. ở các mẫu phân tích. 

Như vậy, tác nhân gây bệnh héo vàng trên cây quất cảnh là nấm Fusarium sp. Các nơi đất thấp làm cây bị ngập úng sau các đợt mưa to không được thoát nước kịp thời đã làm cho các rễ tơ bị tổn thương, tạo điều kiện cho nấm Fusarium sp. (có sẵn trong đất sau nhiều năm trồng quất liên tục) xâm nhập, phát triển và gây hại. 

Biện pháp phòng trị: 

- Đào mương, xẻ rãnh thoát nước tốt trong mùa mưa nhằm tránh ngập úng cục bộ trong vườn. Không trồng cây quá dày, tạo điều kiện thông thoáng, giảm độ ẩm trong vườn nhằm hạn chế sự phát sinh và lây lan của nấm bệnh. 

- Vệ sinh đồng ruộng: Thường xuyên thăm vườn, nhổ bỏ thu gom cây bị héo vàng, đưa ra khỏi vườn, tiêu hủy và xử lý đất bằng vôi bột với lượng 1-2 kg/gốc

- Biện pháp sinh học: Trộn chế phẩm sinh học Trichoderma với phân vi sinh, phân hữu cơ hoai mục để phòng trừ nấm gây bệnh trong đất. 

- Biện pháp hóa học: Sử dụng một số loại thuốc như Viben C 50WP, Bendazol 50WP, Aliette 80WP. Có thể sử dụng kết hợp với một số loại thuốc kích thích ra rễ tưới cho cây.

Công Hào/ nongnghiep.vn

Sunday, February 1, 2015

Trồng dưa chuột

Lúc này là lúc trồng dưa chuột cho vụ chính. Vì vậy, bà con cần chuẩn bị đủ các điều kiện để làm một vụ dưa chuột cho năm mới.

Dưa chuột có thể ăn tươi như rau sống hoặc xào, trộn xa lát, muối chua, muối mặn hoặc đóng hộp. Nó giàu vitamin và các chất khoáng. Vào mùa hè, khi ăn quả dưa chuột ta thấy mát và tỉnh táo như các loại nước giải khát khác. Gần đây, dưa chuột còn được xuất khẩu. Người ta muối mặn hoặc đóng hộp để xuất đi cho các nước. Nhiều vùng đã có truyền thống trồng dưa chuột. Thu nhập của bà con rất khá. Dưa chuột mà trồng đúng kỹ thuật có thể cho năng suất 50-60 tấn/ha. Có giống chỉ sau 35 ngày đã bắt đầu cho thu. Nói chung, nó nhanh cho quả và cho quả nhiều đợt. Vì vậy, đất đai, phân, nước phải phù hợp và đảm bảo ở mức tối ưu thì cây mới cho năng suất tốt nhất.



Dưa chuột ưa đất màu mỡ, tơi xốp và có độ chua trung tính. Tốt nhất là đất thịt nhẹ, cát pha. Điều quan trọng là phải được luân canh triệt để. Tốt nhất là luân canh với lúa.

Nó là cây thân leo nên phải bắc giàn. Ta làm giàn chữ A, cọc dài 1,5-2m. Khoảng 35-40cm ta buộc thêm 1 thanh ngang theo dọc luống để giữ cho giàn được vững chắc. Rễ dưa chuột vừa yếu lại vừa ăn nông. Vì vậy, phải chú ý giữ cho lớp đất mặt luôn luôn ẩm, không bị khô hạn và cũng không được để bị úng.

Dưa chuột ưa khí hậu ấm áp, ôn hòa và khô ráo. Nó rất sợ bị sương giá. Nhiệt độ xuống dưới 10 độ C là cây chậm sinh trưởng. Nó là cây ưa sáng ngày ngắn. Vụ này là thích hợp. Nó có thể trồng vào vụ xuân hè (tháng 2-3) và vụ thu đông (tháng 9-10). Ở miền Trung thì nên chậm hơn nửa tháng. Còn ở phía Nam thì nên trồng vào mùa khô (tháng 12-2). Cần lưu ý, yêu cầu về phân bón của dưa chuột khác với các loại rau. Nó cũng cần đủ NPK nhưng lượng kali phải cao hơn. Người ta cho biết, dưa chuột dùng nhiều nhất là kali, sau đó tới đạm rồi mới tới lân. Khi cây bắt đầu ra trái thì ta cần giảm dần lượng đạm. Thậm chí, nếu thừa đạm, cây có thể sẽ bị rụng nụ, rụng hoa và dễ bị nhiễm sâu bệnh. Tốt nhất vẫn là bón đủ phân hữu cơ hoai mục cho cây.

Phải chú ý xới xáo, làm cỏ thường xuyên cho ruộng dưa. Cố gắng giữ cho đất luôn tơi xốp và thông thoáng. Riêng với dưa chuột, ta tưới rãnh tốt hơn là tưới phun lên lá. Người ta cho rằng, nếu lá bị ướt thì dễ bị nhiễm bệnh hơn. Vì vậy, nếu tưới phun thì ta tưới vào sáng sớm để lá có thể khô đi trong ngày chứ không nên tưới phun vào chiều tối.

Dưa chuột cũng hấp dẫn nhiều loại sâu và bệnh như sâu xám, sâu đục quả, rệp, rệp đỏ, ruồi đục quả, ruồi đục lá, bọ trĩ, bọ xít nâu... và các bệnh như sương mai, phấn trắng và khảm lá. Ta cố gắng giữ gìn vệ sinh đồng ruộng, tỉa bỏ lá già, lá bị bệnh và tạo môi trường thông thoáng. Nên thực hiện nghiêm chỉnh chương trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM). Nếu buộc phải dùng tới thuốc hóa học thì phải tuân theo chỉ dẫn của nơi sản xuất.

Nên thu hoạch dưa vào đúng thời điểm khi cánh hoa héo được 7-10 ngày. Còn với dưa chuột bao tử thì thu khi hoa héo khoảng 3 ngày và mỗi ngày thu 1-2 lần. Cố gắng giữ cho quả dưa không bị xây xát và giập nát.

Chuyên gia Nguyễn Lân Hùng phụ trách Email: 1001cachlaman@gmail.com (Dân Việt)