Showing posts with label Vật nuôi khác. Show all posts
Showing posts with label Vật nuôi khác. Show all posts

Tuesday, April 21, 2015

Kinh nghiệm chọn và nhân giống hươu

Kinh nghiệm nuôi hươu cho thấy nếu có một con đực tốt để làm giống thì giá trị kinh doanh cao hơn nhiều so với việc cho nhung của nó. Còn hươu cái, nếu cho ra đời những hươu có đặc tính tốt thì giá trị của hươu con sẽ thường cao hơn. Do vậy những hươu giống có lý lịch đầy đủ, rõ ràng luôn được người mua đòi hỏi và có giá trị cao hơn những con không có hồ sơ và lý lịch.

1. Chọn hươu đực

Tốt nái thì tốt ổ, tốt đực tốt cả đàn. Trong chăn nuôi hươu, con đực luôn được quan tâm hàng đâu trong công tác giống. Khác với vật nuôi khác, hươu đực không chỉ để phối giống cho đàn cái mà con đực còn có vai trò quan trọng là sản xuất nhung có giá trị kinh tế và giá trị sinh học cao.


Về lý lịch: Cần chọn con đực giống từ những con bố của nó có sức khỏe tốt, có năng suất nhung cao, tốt nhất là 1 năm 2 lứa nhung, khối lượng một lần cho nhung từ 0,8 kg trở lên. Tính di truyền của con bố ổn định. Nếu con bố cho nhung nhiều, sức khỏe tốt… thì con đực là con của nó cũng có những đặc tính đó. Nếu con bố con mẹ có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt, tạp ăn thì con cũng được thừa hưởng những đặc điểm tốt từ bố mẹ. Khối lượng sơ sinh của con đực chọn phải từ 4kg trở lên.

Về ngoại hình: Trước hết phải chọn những con đực có ngoại hình nhìn tổng thể: đẹp, khỏe, cân đối và có nhiều đặc điểm của con đực. Cần phải đánh giá một cách chi tiết các chỉ tiêu sau đây:

- Hươu đực có mặt rộng, vầng trán nhô cao, hai xoáy trán cao và cách xa nhau. Cặp sừng thể hiện sức mạnh của con đực. Nếu hươu đã có sừng thì hai sừng phải tạo thành hình chữ V mà đỉnh càng rộng càng tốt. Những hươu có cặp sừng gần như song song là kém, ít nhung. Hươu đực có khuôn mặt ngắn, thô và gân guốc, mắt sáng, mí mắt dày dặn nhìn nhanh nhẹ, linh hoạt và mạnh mẽ là tốt. 

- Cổ ngắn, to trông như có yếm. Mình thon mình ngựa, lưng phẳng, chỉ lưng rõ, kết hợp hài hòa, cân đối.

- Chân ngắn vừa phải và mập, luôn đi bằng 4 móng, không đi bằng bàn chân. Những con mà hai chân sau thấp hơn hai chân trước quá nhiều, chân khẳng khiu đứng chụm lại, khấu đuôi thấp thì không bao giờ có khả năng cho nhiều nhung và khả năng phối giống cũng rất kém.

2. Chọn hươu cái

Khi chọn hươu cái, ngoài phần theo dõi lý lịch thì những đặc điểm điển hình về sinh sản của hươu cái phải được quan tâm đúng mức.

Cần chọn theo huyết thống và lý lịch, tránh cận huyết. Khi chọn phải tìm cách xác định lý lịch ít nhất là một vài đời trước đó. Có như vậy mới tránh được những nguy cơ về đồng huyết. Giá hươu cái thường đắt gấp 4-5 lần hươu đực. Chọn hươu cái phải xem kỹ con mẹ và phần  lịch sử phối giống, sinh đẻ, khả năng chăm sóc con tốt, nhiều sữa, đẻ năm một lần. Khối lượng sơ sinh của hươu cái phải từ 3kg trở lên. Ngoại hình cân đối, hài hòa giữa các phần của cơ thể theo thể trạng của giống cái. Đuôi luôn luôn phe phẩy, mắt sáng.

Đầu hươu cái nhỏ, thanh; mồm rộng, tạp ăn, vành mắt có bộ long màu nâu hoặc hung nâu. Những con có vành mắt trắng, bạc mày thì thường nuôi con kém, thậm chí không biết nuôi con. Cổ phải thon dài, đầu và cổ kết hợp hài hòa. Mặt thanh, đẹp, mắt trông sáng, nhanh nhẹn và linh hoạt. Thân hình nhìn chung phải cân đối. Lưng phẳng, chỉ lưng rõ ràng. Bụng gọn, hông rộng, mông tròn đều và nở; xương chậu to, dễ đẻ và không bị dị tật. Những con mà mông không cân đối, bên cao, bên thấp có thể bị gãy xương chậu từ nhỏ, sẽ rất khó sinh đẻ. Chân thấp vừa phải; chân sau không thấp quá so với chân trước. 

Chọn được những hươu đực, hươu cái giống có những đặc điểm tốt như đã nói ở trên thì chăn nuôi sẽ đạt được những kết quả tốt hơn. 

Chuyên gia Nguyễn Lân Hùng (Theo 100 nghề cho nông dân) (Dân Việt)

Friday, February 13, 2015

Khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống của Trùn chỉ (Limnodrilus hoffmeisteri Claparede, 1862) trên các nền đáy khác nhau trong điều kiện phòng thí nghiệm

Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích tìm ra nền đáy thích hợp cho việc nuôi sinh khối trùn chỉ (L. hoffmeisteri).

Ảnh minh họa

Tóm tắt

Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích tìm ra nền đáy thích hợp cho việc nuôi sinh khối trùn chỉ (L. hoffmeisteri). Thí nghiệm được tiến hành trong phòng thí nghiệm với 4 nghiệm thức khác nhau về nền đáy, một nghiệm thức đối chứng là bùn đáy, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Thành phần kết hợp là phân bò đã được ủ chế phẩm sinh học và cát mịn. Sau 15 ngày thí nghiệm, tỷ lệ sống cũng như tốc độ sinh trưởng của trùn chỉ cao nhất ở nghiệm thức đối chứng (tỷ lệ sống 95,0 ± 1,9%, sinh trưởng tuyệt đối 0,32 ± 0,09 mg/ngày, sinh trưởng tương đối 8,60 ± 1,56 %/ngày), tiếp đến nền đáy phối hợp 75% phân bò + 25% cát mịn (tỷ lệ sống 87,6 ± 3,2%, sinh trưởng tuyệt đối 0,31 ± 0,03mg/ngày, sinh trưởng tương đối 8,58± 0,54 %/ngày), không có ý nghĩa thống kê giữa 2 nghiệm thức này (P>0,05) và kết quả thấp nhất ở nghiệm thức kết hợp nền đáy 25% phân bò + 75% cát mịn (tỷ lệ sống 70,9 ± 6,3%, sinh trưởng tuyệt đối 0,16 ± 0,03 mg/ngày, sinh trưởng tương đối 5,68 ± 0,74%/ngày) sai khác có ý nghĩa thống kê với các nghiệm thức còn lại P<0,05. Như vậy, nên chọn chất nền là bùn hoặc có thể chọn nền đáy kết hợp 75% phân bò và 25% cát mịn để nuôi trùn chỉ.

1. Giới thiệu

Với tầm quan trọng của trùn chỉ, trên thế giới có khá nhiều đề tài nghiên cứu về khả năng nuôi sinh khối đối tượng này. Tuy nhiên, những nghiên cứu về trùn chỉ tập trung chủ yếu ở vùng ôn đới. Thông tin về nuôi sinh khối trùn chỉ (L. hoffmeisteri) chưa có ở Việt Nam. Mặc dù có dữ liệu về đặc điểm sinh học và nuôi sinh khối trùn chỉ nhưng là loài Tubifex tubifex (Đinh Thế Nhân, 1999). Nghiên cứu này nhằm báo cáo về khả năng phát triển của trùn chỉ ở nền đáy khác nhau trong điều kiện phòng thí nghiệm.


2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành nghiên cứu từ tháng 1/2013 - 3/3013, tại phòng thí nghiệm Sinh lý - Sinh thái, Trường Đại học Nha Trang - Khánh Hòa. Trùn chỉ (L.hoffmeisteri) chọn lọc từ rãnh nước thải ở Xã Vĩnh Phương - TP Nha Trang - Khánh Hòa, được nuôi giữ giống tại phòng thí và được nhân gống trước khi tiến hành thí nghiệm 2 tháng để có đủ số lượng trùn chỉ như mong muốn.

Mục đích của thí nghiệm là xác định nền đáy tối ưu cho L.hoffmeisteri. Nền đáy được phối hợp giữa phân bò đã qua ủ với với chế phẩm sinh học Balasa - N01 trước khi sử dụng 1 tháng và cát mịn với các tỷ lệ khác nhau.

Phân bò được lấy mẫu đem đi phân tích vi sinh và trứng giun sán trước khi sử dụng. Định tích các loại vi sinh vật phổ biến trong phân (Coliforms phân, Escherichia coli, Streptococcus phân, Salmonella, Vi khuẩn Vibriospp) bằng cách cấy mẫu trên các môi trường đặc trưng. Phân tích định tính trứng giun sán theo phương pháp phù nổi và gạn rửa sa lắng; định lượng bằng cách đếm trứng trên buồng đếm Mc Master.

Bùn đáy sử dụng trong nghiệm thức đối chứng  được lấy từ khu vực đã thu trùn chỉ. Bùn đáy được ray qua vợt có mắt lưới 2a = 0,5mm để loại bỏ toàn bộ các loài sinh vật không liên quan sau đó đem tiệt trùng để loại bỏ toàn bộ kén giun ít tơ còn sót lại. 

Bố trí thí nghiệm

Điều kiện thí nghiệm

Thí nghiệm để đánh giá khả năng sinh trưởng và gia tăng mật độ của trùn chỉ L.hoffmeisteri với mức phối hợp nền đáy khác nhau chúng tôi tiến hành nuôi trùn chỉ với mật độ 1con/cmtrong khay nhựa có diện tích 150cm2 (10 x 15cm). Khay nuôi trùn chỉ được cấp 2 cm nền đáy. Sau khi thả trùn, khay nuôi được đặt dưới hệ thống nước chảy nhỏ giọt trong phòng thí nghiệm. Nhiệt độ và ánh sáng tự nhiên. 

Định kỳ 3 ngày cho trùn chỉ ăn một lần, thức ăn là cám gạo, với liều lượng cho ăn bằng 15% trọng lượng cơ thể/1 ngày trước khi cho ăn thức ăn được ngâm trong nước 1 ngày trong điều kiện nhiệt độ phòng. Khi cho ăn tắt hệ thống nước chảy nhỏ giọt, cấp thức ăn vào khay nuôi sau 3 - 4 tiếng để toàn bộ thức ăn lắng xuống đáy mới cho nước chảy trở lại. 

Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức được lặp lại 5 lần. Các nghiệm thức được bố trí như sau: NT1: nền đáy 100% phân bò;  NT2: nền đáy 75% phân bò + 25% cát mịn; NT3:  nền đáy 50% phân bò + 50% cát mịn; NT4: nền đáy 25% phân bò + 75% cát mịn; NT5:  nền đáy 100% bùn đáy (nghiệm thức đối chứng)

Thí nghiệm được thực hiện trong khoảng thời gian là 15 ngày, kết thúc đợt thí nghiệm tiến hành thu toàn bộ trùn chỉ, đếm số lượng xác định tỷ lệ sống, cân trọng lượng xác định tăng trưởng tuyệt đối và tăng trưởng tương đối.

Phương pháp thu thập, tính toán và xử lý số liệu

Chỉ tiêu đánh giá

Khối lượng, mật độ của quần thể trùn chỉ được cân và đếm ở cuối mỗi chu kỳ nuôi. Cuối chu kỳ nuôi, thu toàn bộ nền đáy rây qua vợt có mắt lưới 2a = 0,5mm, sau đó đổ ra khay 600cm, dùng ống pipet thu và đếm số lượng trùn, tiếp đến loại bỏ toàn bộ chất bẩn bám vào trùn chỉ rồi đem cân trọng lượng bằng cân điện tử.

Xử lý số liệu

Số liệu đã thu thập được xử lý sơ bộ với chương trình Excel và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 18, so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức (ANOVA) sau đó sử dụng phép thử LSD để kiểm chứng.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Thành phần vi sinh vật và giun sán của phân bò trước và sau khi ủ vi sinh

Thành phần loài và mật độ vi sinh vật có trong phân trước và sau khi ủ

Kết quả phân tích ở bảng 2 cho thấy phân bò trước khu ủ nhiễm 4 loài vi khuẩn khác nhau E. coli, Vibrio spp., Streptococcus phân, Coliforms phân. Trong đó Vibrio. spp ở mức độ 107 CFU/g được xem là có cường độ nhiễm cao nhất, Coliforms phân có mật độ tế bào là 106 CFU/g, Streptococcus phân, E. coli có cường độ nhiễm thấp nhất với 104 CFU/g.

Sau khi ủ, thành phần loài và mật độ vi sinh vật trong phân bò đều giảm rõ dệt. Mẫu đem đi phân tích dương tính với một loài vi khuẩn duy nhất đó là E. coli. Mật độ của vi khuẩn này trong mẫu sau khi ủ với chế phẩm sinh học là 102 CFU/g  thấp hơn nhiều so với trước khi ủ (104 CFU/g).

 
Thành phần loài và mật độ trứng giun sán có trong phân trước và sau  khi ủ

Trong phân bò tươi chưa qua xử lý không phát hiện thấy trứng sán. Trái lại, Phân bò tươi nhiễm trứng giun xoắn đường tiêu hóa với cường độ nhiễm cao  (+++). Kết quả đếm trứng giun xoắn bằng buồng đếm Mc Master cho thấy, mật độ trứng/gam phân là 567±132. Sau thời gian 1 tháng ủ với chế phẩm sinh học Balasa -N01, mẫu phân bò đem xét nghiệm cho kết quả âm tính đối với trứng giun xoắn. Điều này cho thấy, hiệu quả về tiêu diệt mầm bệnh do kí sinh trùng có trong phân gây ra của phương pháp ủ phân với chế phẩm sinh học đạt kết quả tốt bảng 3.


Tăng trưởng và Tỷ lệ sống của quần thể trùn chỉ

3.4.1 Sinh trưởng

Sau 15 ngày nuôi, tăng trưởng của trùn chỉ bị ảnh hưởng đáng kể bởi nền đáy nuôi. Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối cũng như tăng trưởng tương đối của nghiệm thức đối chứng (NT5) là lớn nhất (0,33 ± 0,09 mg/ngày, 8,60 ± 1,56%/ngày), tiếp đến là nghiệm thức phối hợp 75% phân bò & 25% cát mịn (NT2) và phối hợp 50% phân bò & 50% cát mịn (NT3), thấp nhất là ở nghiệm thức phối hợp 25% phân bò 75% cát mịn (NT4) (0,16 ± 0,03 mg/ngày, 5,68 ± 0,74%/ngày). Sự sai khác về tốt độ tăng trưởng tương đối và tuyệt đối của trùn chỉ giữa nhóm cao nhất (TN5, NT2, NT3) và nhóm thấp nhất (NT4, NT1) có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Tuy nhiên, sự sai khác về tăng trưởng của trùn chỉ giữa nghiệm thức đối chứng với nghiệm thức thứ 2 và thứ 3 không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Điều này cho thấy có thể chọn nền đáy là bùn hoặc nền đáy có tỷ lệ phối hợp phân bò từ 50% - 75% với cát mịn để nuôi trùn chỉ. Tuy nhiên để trùn chỉ thích ứng nhanh và có thể tham gia sinh sản ngay trong thời gian nuôi ngắn nhất nên chọn nền đáy nuôi là đáy bùn. Kết quả về tăng trưởng của trùn chỉ ở nền đáy phối hợp giữ phân bò và cát mịn ít có sự khác biệt khi tăng hàm lượng phân bò từ 25% - 75%. Trái ngược với kết quả nghiên cứu của M Peter Marian (1984) khi nuôi sinh khối loài Tubifex tubifex, tốc độ tăng trưởng đã gần như gấp đôi và sau đó tăng gấp đôi, khi bổ sung các phân bò tăng từ 25 - 75%. Sự khác biệt này có thể do M Peter Marian (1984) nuôi sinh khối bằng phân bò tươi, hàm lượng dinh dưỡng cao hơn phân bò đã ủ sau một tháng. Thêm vào đó, phân bò tươi có độ mịn hơn phân bò khô, thuận lợi cho việc lấy thức ăn và chui rúc của trùn chỉ.

3.4.2 Tỷ lệ sống

Trong thời gian thí nghiệm 15 ngày, tỷ lệ sống của L. hoffmeisteri ở các nền đáy khác nhau giao động từ 74,4 - 95,0%. Tỷ lệ sống của trùn chỉ cao nhất ở nghiệm thức đối chứng (95,0 ± 1,9%), thấp nhất ở nghiệm thức phối hợp 75% cát mịn với 25% phân bò 70,9 ± 6,3%, tiếp đến là nghiệm thức có 100% phân bò làm nền đáy (74,4 ± 5,1) sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P< 0,05). Nghiệm thức phối hợp 50% phân bò với 50% cát mịn và 75% phân bò với 25% cát mịn đều có tỷ lệ sống trên trung bình 80% tương ứng là  83,9 ± 1,7%87,6 ± 3,2%, sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Kết quả về tỷ lệ sống của thí nghiệm cao hơn so với nghiên cứu của M Peter Marian (1984) về tỷ lệ sống của trùn chỉ loài (Tubifex tubifex). Tỷ lệ sống của T. tubifex ở các nền đáy khác nhau giao động từ 70 - 80% (M Peter Marian,1984

Kết thúc 15 ngày thí nghiệm, ở các nghiệm thức có nền đáy là phân bò hoặc phối hợp giữa phân bò và cát mịn chưa thấy xuất hiện trùn chỉ con và kén trùn chỉ. Ngược lại, khi thu mẫu ở nghiệm đối chứng chúng tôi đã phát hiện trùn chỉ con. Trùn con có kích thước nhỏ, cơ thể có màu hồng nhạt. Đặc biệt, trong các khay đối chứng đã xuất hiện kén. Điều này chứng tỏ sau thời gian thích ứng với môi trường nuôi nhân tạo trùn chỉ đã tham gia sinh sản vô tính một số con thành thục sinh dục đã tham gia sinh sản hữu tính.


Trùn chỉ có thể sống trong nền đáy phối hợp giữa phân bò và cát mịn (tỷ lệ sống >70%). Tuy nhiên, tỷ lệ sống của trùn chỉ ở nền đáy phối hợp giữa phân bò và cát mịn vẫn thấp hơn nền đáy đối chứng (đáy bùn). Điều khác biệt nữa, đối với nền đáy mới hoàn toàn trùn chỉ phải mất thời gian thích nghi, chưa thể tham gia sinh sản ngay trong thời gian nuôi 15 ngày.

4. Kết luận và đề xuất ý kiến

4. 1 Kết luận

- Phân bò ủ yếm khí với chế phẩm sinh học có thay đổi rõ về màu, mùi theo hướng tích cực, giảm số lượng cũng như mật độ vi sinh vật, trứng giun sán, giảm ô nhiễm môi trường. Sau khi ủ phân bò không bị nhiễm trứng giun xoắn đường ruột, sán, chỉ nhiễm vi khuẩn E. coli với mật độ 102 CFU/g, hàm lượng Protein 6,61%, Độ ẩm 7,2%, Tro 5,6%, Canxi 98,7% và Photpho 69,7%.

- Tốc độ sinh trưởng tương đối và tuyệt đối của trùn chỉ ở nghiệm thức đối chứng cao nhất (0,32 ± 0,09 mg/ngày, 8,60 ± 1,56 %/ngày), nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê so với tốc độ sinh trưởng của trùn chỉ ở nghiệm thức phối hợp 75%, 50% phân bò & 25%, 50% cát mịn tương ứng (P>0.05).

- Tỷ lệ sống của trùn chỉ từ 74,4 - 95,0%, cao nhất ở nghiệm thức đối chứng (95,0 ± 1,9%) và thấp nhất ở nghiệm thức có mức phối hợp  phân bò 25% và cát mịn 75% (70,9 ± 6,3 %). Duy nhất ở nghiệm thức đối trứng có sự xuất hiện của trùn chỉ con và kén trùn chỉ.

4.2 Đề xuất:

 - Trùn chỉ sinh trưởng và sinh sản tốt ở nền đáy bùn tuy nhiên trong nuôi nhân tạo việc cung cấp 100% đáy bùn sẽ gặp nhiều khó khăn. Do đó cần tiếp tục nghiên cứu mức phối hợp giữa bùn và cát mịn để tìm ra nền đáy nuôi thích hợp nhất.

Tài liệu tham khảo:

1. Giere, O. and Pfannkuche, O. 1982. Biology and ecology of marine oligochaete,a review. In: M. Barnes (ed.), Oceanogr. Mar. Biol.Aberdeen University Press, pp 173-308.

2. Phillips, G.R. and Buhler, D.R. 1979. Influences of dieldrin on the growth and body composition of fingerling of rainbow trout (Salmo gairdneri) fed Oregon moist pellets or Tubificid worms (Tubifex sp.). J. Fish. Res., Board Canada, 36: 77-80.

3. Marian. M. P,   T.J.  Pandian, 1984. Culture  and  harvesting  techniques  for  tubifex  tubifex, Aquaculture,  42, 303-315.

4. Wilmoth, J. H. 1967. Biology of Invertebrate. Prenticehall, Inc. Englewood Cliffs. New Yersey

5. Đinh Thế Nhân, 1999. Nghiên cứu đặc điểm sinh học và nuôi trùn chỉ (Tubifex tubifex). Tạp chí Nông Lâm Nghiệp, số 11/1999, trang 55-58

Trương Thị Bích Hồng (Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang)/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Tuesday, August 23, 2011

Một số điểm cần lưu ý trong chăn nuôi thỏ

Chăn nuôi thỏ có nhiều lợi thế do chi phí đầu tư thấp, tận dụng được các phế phụ phẩm nông nghiệp, lao động nhàn rỗi, lao động phụ. Thỏ thuộc loại đẻ khỏe, phát triển nhanh. Một thỏ mẹ nặng 4 - 5kg trong một năm có thể sản xuất ra 90 - 140 kg thịt, hiệu suất cao hơn nhiều so với các loài gia súc khác.

Ảnh minh họa

Về cơ bản, thỏ thuộc loại dễ nuôi, tuy nhiên để nuôi thỏ đạt hiệu quả cao cần chú ý các vấn đề sau đây:

1. Vấn đề thức ăn và nước uống cho thỏ

Do đặc điểm của dạ dày thỏ là co giãn tốt nhưng co bóp yếu. Manh tràng có dung tích lớn và có khả năng tiêu hóa chất xơ nhờ hệ vi sinh vật. Vì vậy, cần cho thỏ ăn nhiều thức ăn thô xanh chất lượng tốt, để vừa đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của thỏ, vừa có tác dụng chống đói và đảm bảo sinh lý tiêu hóa bình thường. Thức ăn thô xanh cho thỏ phải được rửa sạch bằng nước máy hoặc nước giếng. Những loại rau lá có hàm lượng nước lớn như bắp cải, khoai lang…, sau khi rửa cần phơi tái cho bớt nước trước khi cho thỏ ăn.

Cho thỏ ăn thức ăn nghèo chất xơ hoặc thức ăn chứa nhiều nước, thức ăn không tươi, bị dập nát dễ dẫn đến tình trạng rối loạn tiêu hóa như chướng bụng đầy hơi hoặc ỉa chảy và thỏ có thể bị chết.

Cũng cần lưu ý là thỏ thiếu nước còn nguy hiểm hơn thiếu thức ăn, đặc biệt là đối với thỏ đẻ và tiết sữa. Không cung cấp đầy đủ nước uống cho thỏ dẫn đến tình trạng thiếu sữa hoặc thậm chí thỏ mẹ ăn thịt thỏ con. Trong thời gian nuôi con nên cho thỏ mẹ uống thêm nước đường hoặc ăn mía để nhanh phục hồi cơ thể, tiết nhiều sữa và đàn con phát triển tốt.

2. Vấn đề sinh sản của thỏ

Tùy theo giống, thỏ có thể thành thục tính dục lúc 3 - 4 tháng tuổi. Để đề phòng hiện tượng cắn xé nhau và giao phối tự do, dẫn đến tình trạng giảm trọng hoặc rối loạn sinh sản, khi thỏ được 3 tháng tuổi nên nhốt riêng thỏ đực với thỏ cái.

Không nên cho thỏ phối giống ngay khi thỏ động dục lần đầu mà nên chờ đến 5 - 6 tháng tuổi, lúc thỏ đạt 75 - 80% khối lượng của thỏ trưởng thành. Cho phối giống trước 5 tháng tuổi thì đàn con đẻ ra sẽ yếu ớt, đồng thời ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và phát triển của thỏ bố mẹ.

Do đặc điểm của thỏ là trứng chỉ rụng sau khi giao phối 9 - 10 giờ nên trong thực tế, để tăng số trứng được thụ tinh và tăng số con đẻ ra, nên áp dụng phương pháp phối giống bổ sung, tức là phối lại lần thứ hai sau lần thứ nhất từ 6 đến 9 giờ.

Khi cho thỏ phối giống cũng cần chú ý là bắt thỏ cái đến lồng thỏ đực mà không nên làm ngược lại, vì khi lạ chỗ thỏ đực khó làm quen với thỏ cái và thỏ cái thường kháng lại thỏ đực.

Để tránh đồng huyết, không để thỏ đực phối với thỏ cái cùng gia đình.

3. Vấn đề làm lồng và chuồng nuôi thỏ

Cần phải làm lồng nuôi thỏ. Lồng thỏ bảo đảm phải chắc chắn, thỏ không chui lẫn đàn, tránh được chuột tấn công và chăm sóc thuận tiện.

Phải làm ổ đẻ có nắp đậy cho thỏ. Sau khi thỏ đẻ, mỗi ngày chỉ nên đưa ổ đẻ vào lồng thỏ mẹ một lần để cho con bú, tránh hiện tượng thỏ mẹ chui vào ổ ỉa đái, bới ổ và dẫm đạp lên đàn con.

Thỏ là loài gia súc nhạy cảm với các tác nhân ngoại cảnh. Thỏ có ít tuyến mồ hôi dưới da, cơ thể thải nhiệt chủ yếu qua đường hô hấp. Khi nhiệt độ không khí tăng trên 35 độ C và kéo dài, thỏ rất dễ bị cảm nóng. Do các đặc điểm này lồng nuôi thỏ cần đặt tại những vị trí thoáng, mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông.

Trong trường hợp chăn nuôi thỏ quy mô lớn cần xây dựng chuồng trại cẩn thận. Chuồng trại phải đảm bảo thông thoáng và dễ làm vệ sinh. Trong trường hợp nuôi thỏ quy mô gia đình, có thể đặt lồng dưới gốc cây có bóng mát ngoài vườn, đầu nhà, có mái che chống được mưa, nắng, gió lùa. Không nên đặt lồng thỏ trong chuồng lợn hoặc chuồng gà, vừa ngột ngạt, hôi thối, vừa dễ lây lan dịch bệnh

4. Vấn đề vệ sinh phòng trị bệnh

Thỏ là loài gia súc yếu, sức đề kháng cơ thể kém, dễ cảm nhiễm các mầm bệnh và phát triển thành dịch. Để hạn chế tối đa tổn thất kinh tế do dịch bệnh, điều rất quan trọng trong chăn nuôi thỏ là tạo ra môi trường tiểu khí hậu chuồng nuôi hợp vệ sinh và tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh. Cụ thể, hàng ngày cần làm vệ sinh lồng nuôi, chuồng nuôi; định kỳ sát trùng lồng, chuồng, máng ăn, máng uống, ổ đẻ; cần cung cấp cho thỏ đầy đủ thức ăn và nuớc uống sạch sẽ, chất lượng tốt.

Các bệnh thỏ thường mắc là bệnh bại huyết, bệnh ghẻ, bệnh cầu trùng ..v..v. Cách sử dụng các loại thuốc để phòng trị các bệnh này như sau:

- Đối với bệnh bại huyết:

Tiêm vắc xin để phòng bệnh bại huyết cho thỏ con lúc 2 tháng tuổi. Đối với thỏ sinh sản, tiêm định kỳ 6 tháng 1 lần.

- Đối với bệnh ghẻ:

Điều trị: dùng Ivermectin 0,7 ml/3kg thể trọng hoặc dùng Dextomax 0,1 ml/3kg thể trọng.

- Đối với bệnh cầu trùng:

Phòng bệnh: vệ sinh, sát trùng chuồng trại. Sử dụng thuốc Anticoc, HanE3 bằng 1/2liều điều trị.

Điều trị bệnh: thuốc Anticoc, HanE3: 0,1-0,2g/kg thể trọng.

PQQ - TTKNQG

Kỹ thuật nuôi dế

Mỗi ngày lấy khay đẻ trứng ra 1 lần và đưa khay mới vào để nhân trứng cho hôm sau. Khi đưa khay trứng vào hộp ấp (hộp nhỏ như hộp đựng mì tôm), cần chuẩn bị khăn bông thấm nước (loại khăn rửa mặt trẻ em, cỡ 10 x 10 cm), 1 cái đặt dưới đáy hộp ấp để khay trứng đè lên và 1 cái phủ trên mặt khay. Sau đó đậy nắp hộp lại, để trong thùng nuôi có che xung quanh.

Ảnh minh họa

1. Dụng cụ nuôi

Có thể tận dụng các thùng nhựa, chum, vại có đường kính từ 20 - 50 cm để nuôi dế. Sử dụng bìa cứng, phên tre hoặc tấm ván mỏng… khoét một lỗ ở giữa với đường kính 3 - 4 cm làm nắp đậy thùng nuôi.

Dụng cụ nuôi dế cần được vệ sinh sạch sẽ và xông hơi fóc-môn khử trùng trước khi nuôi.

Khay cho dế đẻ có thể làm khay chuyên dùng bằng gỗ như khuôn gói bánh chưng hình vuông cỡ 5 cm, cao 2 cm. Trong khay đẻ để một ít đất ẩm tơi, lượng đất ẩm trong khay dày khoảng 1,5 cm.

2. Kỹ thuật ấp trứng

Mỗi ngày lấy khay đẻ trứng ra 1 lần và đưa khay mới vào để nhân trứng cho hôm sau. Khi đưa khay trứng vào hộp ấp (hộp nhỏ như hộp đựng mì tôm), cần chuẩn bị khăn bông thấm nước (loại khăn rửa mặt trẻ em, cỡ 10 x 10 cm), 1 cái đặt dưới đáy hộp ấp để khay trứng đè lên và 1 cái phủ trên mặt khay. Sau đó đậy nắp hộp lại, để trong thùng nuôi có che xung quanh.

Nhiệt độ thích hợp cho ấp trứng dế từ 22 - 26oC. Cứ 3 - 4 ngày thay khăn ướt 1 lần. Sau 9 - 10 ngày, trứng bắt đầu nở. Khi trứng đã nở hết (vào ngày thứ 11) thì lấy khay ra, đưa dế con vào thùng nuôi.

3. Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng

Thức ăn cho dế là các loại cỏ hoà thảo tự nhiên và cám hỗn hợp.

Ban đầu dế con ăn ít, cần cho ăn cỏ non và bột cám tổng hợp có 17 - 21% chất đạm (tương đương cám úm gia cầm). Bột cám tổng hợp được để vào đĩa nhỏ với số lượng bằng 3% trọng lượng dế.

Cỏ cho dế ăn cần được rửa sạch. Nếu cỏ được chuẩn bị từ trước đã ráo nước thì cần phun nước cho cỏ hơi ướt rồi bó thành từng bó nhỏ cỡ bằng nắm tay (0,1 - 0,2 kg/bó) để trong thùng nuôi cho dế ăn và leo trèo. 
Cho dế ăn theo bữa, mỗi bữa cách nhau khoảng 4 - 6 giờ, chú ý vệ sinh thùng nuôi, bỏ cỏ cũ ra, đưa cỏ mới vào.

Cho dế uống nước bằng cách phun ướt cỏ non rồi đưa vào thùng nuôi, khi dế lớn có thể phun nước vào thành dụng cụ nuôi để cho uống.

Khi dế lớn cần san bớt đàn sang thùng mới, tránh mật độ nuôi quá dày.

Tỷ lệ ghép đôi giao phối là 1 đực : 1,5 - 2 cái. Mật độ nuôi là 30 – 40 con/m2

4. Địch hại

Địch hại của dế là chuột và kiến. Đề phòng kiến bằng cách tạo các rãnh nước xung quanh khu vực nuôi (đối với quy mô chăn nuôi lớn). Nếu nuôi ít có thể đặt các thùng nuôi trên giá đỡ có chân ngâm trong bát nước.

Nguyễn Quốc Tuấn (theo tờ tin KNVN 27/2010)