Saturday, August 9, 2014

Những điều cần lưu ý khi nuôi cá lóc trên bể lót bạt

Cá lóc là loài cá dễ nuôi, đem lại hiệu quả kinh tế cao nên gần đây nó đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh An Giang nói riêng. Cá lóc được nuôi với nhiều hình thức khác nhau như: Nuôi ao, lồng bè, vèo trong ao, bể lót bạt. Trong đó, mô hình nuôi bể bạt đang được nhân rộng phát triển.


Tuy dễ thực hiện nhưng cũng cần lưu ý một số điểm sau:

1. Xây dựng bể nuôi

-  Diện tích từ 10 – 100m2. Nếu diện tích lớn thì nên ngăn ra thành nhiều bể nhỏ để tiện chăm sóc và tách riêng từng cỡ khi cá phân đàn vì cá lóc là loài cá dữ, dễ ăn thịt lẫn nhau.

- Chiều cao bể khoảng 1 – 1,5m. Bố trí ống chống tràn để duy trì mức nước trong bể từ 0,8 – 1m, tránh cá thất thoát khi mưa lớn, mực nước dâng cao. Có thể xây bể chìm hoặc bể nổi nhưng bể chìm sẽ chắc chắn hơn và nhiệt độ nước trong bể ổn định hơn.

- Bể nuôi xây dựng trên mặt đất bằng phẳng và đầm nện kỹ. Đáy bể có độ dốc nghiêng về phía ống thoát nước để loại bỏ các chất cặn bã trong bể khi thay đổi nước.

- Sử dụng cao su 2 mặt để lót bể. Phải có lưới bảo vệ phía trên, tránh cá nhảy ra ngoài làm thất thoát. Nên có mái che hoặc dùng lưới che để giảm nhiệt độ nước trong bể.

- Phải có ống thoát và cấp nước riêng.

2. Con giống

Cá lóc là loài cá dữ, ăn động vật tươi sống. Sự cạnh tranh thức ăn của loài cá này rất quyết liệt vì vậy thường có sự phân đàn lớn sau thời gian nuôi ngắn nên khi thả giống nuôi cần chọn cá đồng cỡ là hết sức quan trọng và quyết định năng suất của bể nuôi.

Tiêu chuẩn chọn giống

- Nên chọn mua giống ở những nơi có uy tín hoặc cho sinh sản nhân tạo và có nguồn gốc rõ ràng.

- Đồng cỡ, không xây xát, không có triệu chứng bệnh, bơi theo đàn, có màu đặc trưng của loài.    

Chuẩn bị nguồn nước

- Trước khi thả cá 3 - 4 ngày, cấp nước vào bể nuôi ngâm - xả vài lần nhằm loại bỏ bớt mùi hóa chất của cao su.

- Cấp nước vào bể nuôi đạt mức nước sâu 0,6m và xử lý bằng một trong loại thuốc – hóa chất khử trùng nước như Avaxide, Fresh water, Virkon® A,… Sau đó nâng dần mực nước cho đạt yêu cầu từ0,8 – 1m nhằm tạo nguồn nước tốt ít mầm bệnh cho cá nhỏ phát triển.

Thả giống

- Nên thả cá giống vào lúc sáng sớm, hoặc chiều mát. Tránh thả cá vào những lúc trời nắng nóng hoặc trời có mưa sẽ gây sốc cho cá làm cá hao hụt nhiều.

- Xử lý cá giống trước khi thả cá vào bể bằng biện pháp tắm để diệt ngoại ký sinh hoặc nấm. Phương pháp tắm: Dùng vợt có chứa cá giống ngâm vào hỗn hợp muối hột và nước pha loãng theo liều lượng 2 - 3% trong thời gian 10 - 15 phút; Virkon® A 2g/ lít nước trong 5 - 10 phút hoặc thuốc có nguồn gốc Iodine theo liều lượng ghi trên bao bì. (Ví dụ như Iodine – complex của Công ty Bio).

- Tuy nhiên, khi tắm cá cần theo dõi biểu hiện của cá để có biện pháp xử lý kịp thời hạn chế gây sốc cho cá. Sau khi thả cá vào bể, tiếp tục theo dõi hoạt động của cá nếu phát hiện có hiện tượng tách đàn nên loại bỏ khỏi bể nuôi.

Mật độ:

Mật độ thả nuôi ban đầu: 120 con/m2, cỡ cá lồng 8. Sau thời gian nuôi 1 tháng sẽ lọc cá cho đồng cỡ và bố trí lại mật độ: 100con/m2.

3. Quản lý môi trường:

- Quản lý chất lượng nước rất quan trọng vì đó là nguyên nhân gây nên dịch bệnh và quyết định năng suất của mô hình nuôi. Định kỳ kiểm tra yếu tố môi trường 1 - 2 lần/tuần, hay khi cá có biểu hiện bất thường:

+ Dùng nhiệt kế kiểm tra nhiệt độ: Nhiệt độ nước thích hợp từ 28 - 320C.

+ Dùng test kiểm tra nhanh một số yếu tố môi trường như độ pH, hàm lượng O2 hòa tan, khí Ammonia…

• Độ pH: pH nước dao động 6,5 - 8; pH nước vượt qua 9 sẽ rất độc cho cá.

• Oxy hòa tan: Hàm lượng oxy hòa tan trong hệ thống nuôi > 3 mg/l. Nếu hàm lượng oxy < 2 mg/llàm cá giảm ăn và chậm lớn.

• Khí Ammonia (NH3 – N): Hàm lượng Ammonia trong bể không vượt quá 1ppm (hàm lượng cho phép trong nước nuôi thủy sản là 0,01ppm).

- Định kỳ xử lý vôi cho nguồn nước trong bể nuôi từ 7 - 10 ngày/lần với 2 - 3kg vôi/100m3 nước bể, bằng cách hòa vào nước lấy nước trong tạt đều khắp bể để hạn chế mầm bệnh.

- Vào thời điểm nguồn nước sông, kênh rạch bị ô nhiễm, nước cần cho qua bể/ao lắng 2 - 3 ngày trước khi cấp vào bể, ao nuôi. Có thể dùng Virkon® A 0,3ppm (3g/m3) sau mỗi lần thay nước mới để diệt mầm bệnh cho cá.

4. Quản lý và chăm sóc sức khỏe cá:

Trong quá trình nuôi nên định kỳ tẩy giun sán cho cá bằng Hadaclean, Veme-clean,... Thường xuyên bổ sung men tiêu hóa, vitamin, khoáng chất vào khẩu phần thức ăn (Vd: Baymix Aqualase, Aqua C Fish Plus, Grow Fish, Prozyme For Fish, Veme-Sitol,...); để cho cá hấp thụ dinh dưỡng tốt, tăng trọng nhanh hơn, tăng sức đề kháng và giảm một phần hệ số FCR.

Theo dõi biểu hiện cá nuôi nhằm phát hiện bệnh sớm và có kế hoạch điều trị hợp lý:

- Nếu thấy cá nổi trên mặt nước nhiều là nguồn nước bị ô nhiễm.

- Nếu cá nổi trên mặt nước, da sẫm màu, phản xạ kém với tiếng động là cá bị ký sinh trùng. Nên dùng muối hột 2 - 3 % tắm cá 5 - 15 phút; CuSO4 2 - 5ppm (2 – 5 gam/m3) tắm cá 5 - 15 phút, Hadaclean theo hướng dẫn của nhà sản xuất,...

- Nếu thấy cá có hiện tượng bị nấm, ký sinh trùng ký sinh nên dùng các hóa chất xử lý môi trường nước với các thành phần như Iod, CuSO4, Formol,…Liều lượng dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Quan sát khả năng bắt mồi của cá để điều chỉnh thức ăn cho phù hợp: Khi thời tiết thay đổi giảm lượng thức ăn hạn chế thức ăn thừa làm ô nhiễm nguồn nước.

Đặng Bùi Mỹ Chi/ Trung tâm Giống Thủy sản An giang

Sunday, August 3, 2014

Qui trình kỹ thuật tạm thời quản lý tổng hợp bệnh Phytophthora và bọ xít muỗi hại ca cao

Hiện nay, hai bệnh này có xu hướng phát triển và gây hại trên nhiều diện tích ca cao, làm giảm năng suất, chất lượng sản phẩm, đồng thời, làm ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng ca cao. Để giúp nông dân tăng cường quản lý hai loại dịch hại này, Cục Bảo vệ thực vật hướng dẫn Qui trình tạm thời để nông dân áp dụng.

Ảnh minh họa

Đối với bệnh Phytophthora

Nguyên nhân gây bệnh là do nấm Phytophthora gây ra, ngoài cây ca cao, nấm này còn gây hại nhiều loại cây trồng khác như dừa, điều, cao su, sầu riêng. Triệu chứng gây hại trên tất cả các bộ phận của cây ca cao, hại nặng trên quả làm ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng ca cao. Trên thân, cành, vết bệnh xuất hiện sậm màu, hơi ướt, sau chuyển sang màu nâu đỏ. Vỏ cây bị bệnh nứt ra và chảy nhựa màu vàng. Vết bệnh lan dần ra khắp thân và xâm nhập sâu vào phần gỗ. Cây bệnh nặng có thể héo và rụng lá, thân cành bị khô và chết cây. Trên lá, vết bệnh ban đầu xuất hiện trên mép và chóp lá, màu xanh tái, hơi ướt, sau lan rộng vào phía trong phiến lá rồi chuyển dần thành màu nâu, lá bị cháy khô từng mảng. Trong điều kiện ẩm ướt trên bề mặt vết bệnh có lớp nấm màu trắng. Trên quả, ban đầu xuất hiện những chấm nhỏ màu nâu, sau vết bệnh phát triển rất nhanh và chuyển sang màu đen. Các vết bệnh có thể liên kết bao kín bề mặt quả to gây thối quả, hạt lép, quả có thể bị rụng. Đặc điểm phát sinh gây hại là nấm gây bệnh có nguồn gốc trong đất, bào tử có khả năng phát tán mạnh nhờ gió, nước, cơ giới. Bệnh thường gây hại nặng vào mùa mưa, khi độ ẩm không khí cao, vườn cây rậm rạp, ẩm thấp, đọng nước.

Đối với bọ xít muỗi Helopeltis sp

Đặc điểm sinh thái, bọ xít muỗi Helopeltis sp có hình giống con muỗi nhưng kích thước lớn hơn. Cơ thể màu vàng nâu hoặc xám nhạt, dài khoảng 4-5mm, râu đầu rất dài, màu nâu, con cái trưởng thành có kích thước nhỏ hơn con đực trưởng thành. Trứng được đẻ rải rác hoặc từng cụm 2-4 quả trên đọt non, gân lá, quả; trứng nằm sâu trong biểu bì, để lộ ra 2 sợi lông dài. Ấu trùng bọ xít muỗi có màu xanh - vàng nhạt, hình thái gần giống trưởng thành nhưng di chuyển chậm. 

Triệu chứng gây hại: Bọ xít muỗi dùng vòi chích vào chồi non, lá non, cành non, cuống hoa và quả để hút nhựa. Vết chích lúc đầu có màu xám, sau bị thâm đen. Các bộ phận non bị chích thường héo khô đen, quả bị chích có nhiều vết thâm đen và phát triển dị dạng. 

Bọ xít muỗi trưởng thành và bọ non đều chích gây hại nhưng bọ non gây hại nhiều hơn bọ trưởng thành vì chúng ít di chuyển và tập trung trên từng cây hoặc một số cây liền nhau. Bọ xít muỗi thường hoạt động mạnh vào sáng sớm và chiều mát, buổi trưa trời nắng, chúng ít hoạt động mà ẩn nấp dưới tán lá, những ngày trời âm u, chúng hoạt động cả ngày. Bọ xít muỗi thường phát sinh mạnh và gây hại nặng trong mùa mưa, vườn rậm rạp, cây che bóng quá dày.

Biện pháp quản lý tổng hợp bệnh Phytophthora và bọ xít muỗi hại ca cao

Biện pháp canh tác có vai trò rất quan trọng trong việc hạn chế bệnh thối quả và bọ xít muỗi gây hại. Cần đặc biệt quan tâm áp dụng đồng bộ các giải pháp sau: 

- Đối với đất trồng, chọn đất có khả năng thoát nước tốt, vườn trồng cần được tạo rãnh thoát tránh đọng nước trong mùa mưa. Duy trì thảm cỏ, trồng cây che phủ hoặc các vật liệu thật thích hợp để che phủ nhằm cải tạo sinh thái đất, đồng thời làm nơi cư trú của thiên địch, chống xói mòn, giữ ẩm cho đất trong mùa khô. 

- Sử dụng giống chịu mặn, như TD3, TD6, TD7, TD8, TD9, TD10… Các dòng ca cao TD5, TD14 nhiễm nặng bệnh Phytophthora. 

- Mật độ trồng phù hợp theo khuyến cáo của Cục Trồng trọt, nhất là khi trồng xen với các loại cây trồng khác cùng là ký chủ của nấm Phythophthora và bọ xít muỗi. 

- Bón phân hợp lý, sử dụng phân hữu cơ hoai mục, phân vi sinh kết hợp chế phẩm sinh học để phòng trừ nấm. Không bón thừa đạm, tăng lượng kali để tăng sức đề kháng của cây đối với sâu bệnh; không sử dụng chất kích thích khi cây đang bị bệnh. 

- Tỉa cành tạo tán, vào đầu mùa mưa cần tiến hành tỉa cành tạo tán, cắt bỏ cành quá thấp để vườn thông thoáng. Chú ý, vào thời kỳ độ ẩm cao hạn chế tối đa gây vết thương cho cây để tránh nguy cơ lây nhiễm bệnh. Cần quét vôi quanh gốc 2 lần/năm, phạm vi quét cao khoảng 1m tính từ mặt đất để chống nấm bệnh xâm nhập. Thu gom lá, cành, quả bị bệnh và bọ xít muỗi gây hại không còn khả năng cho năng suất đem tiêu hủy hoặc xử lý bằng chế phẩm sinh học để tiêu diệt nguồn bệnh và sử dụng phân hữu cơ

Các biện pháp phòng, trừ

Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện bệnh sớm, có phương án xử lý kịp thời, phù hợp. Đặc biệt, chú ý những khu vườn rậm rạp, xanh tốt hoặc vào thời điểm độ ẩm không khí cao. Có thể sử dụng biện pháp sinh học, phòng trừ bệnh Phytophthora spp bằng sử dụng nấm đối kháng Trichoderma hoặc Pseudomonas để phòng trừ nấm Phytophthora spp ngay khi mới trồng và vào đầu mùa mưa để tăng cường khả năng kiểm soát nguồn nấm bệnh trong đất. Phòng trừ bọ xít muỗi, bằng cách khuyến khích nhân dân nuôi kiến đen Dolicoderus thoracicus hoặc kiến vàng Oecophylla smaragdina để kiểm soát bọ muỗi. Biện pháp hóa học, sử dụng các loại thuốc có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng. Phun phòng bệnh khi bệnh phát sinh và điều kiện ngoại cảnh thuận lợi cho bệnh phát triển gây hại. Phun bọ xít muỗi có hiệu quả cao khi chúng còn non, phun vào sáng sớm hoặc chiều mát.

Theo Cục BVTV

Saturday, August 2, 2014

Để mãng cầu ta ra trái theo ý muốn

Mãng cầu ta (hay còn gọi quả na) là cây ưa độ pH từ trung tính đến kiềm yếu (pH từ 7 - 8). Nếu đất bị chua, mỗi năm bón 60 - 80kg vôi bột/1.000m2 (tùy từng loại đất chua nhiều hay ít). Chú ý bón vôi trước hoặc sau các loại phân khác 10 - 15 ngày.

Chú ý dùng phân đạm ở từng thời điểm và liều lượng khác nhau để cho hiệu quả bón phân cao nhất.

Thời kỳ kiến thiết cơ bản trong 3 năm đầu cần bón nhiều đạm để cây sinh trưởng thân, lá tốt. Bón NPK tỷ lệ 2:1:1. Cứ 1 - 2 tháng bón một lần khi thời tiết mưa ẩm. Mỗi cây bón 0,1 - 0,2kg urê + 0,05 - 0,1kg kali + 0,2 - 0,5kg super lân. Bón cách gốc 30 - 50cm. Phân chuồng bón 30 - 50kg, cách gốc 50 - 60cm vào hai hốc đối xứng.

Sau đó, trong thời kỳ kinh doanh thì bón làm 3 đợt trong năm. Đợt 1 vào tháng 2 với tỷ lệ NPK là 1:1:1. Đợt 2 vào tháng 6, tỷ lệ NPK là 1:1:2 và đợt 3 sau khi thu quả tháng 9, tỷ lệ NPK là 2:1:1. Lượng phân bón ít hay nhiều tùy cây lớn hay nhỏ. Trung bình mỗi cây bón 0,5 - 1kg urê + 0,5 - 1kg kali + 2 - 4kg super lân + 30 - 50kg phân chuồng mỗi năm. Bón theo tán cây, thành 4 hốc đối xứng nhau, độ sâu lấp phân 3 - 5cm.

Thông thường mãng cầu ta sau khi cho thu hoạch khoảng 3 vụ thì trái nhỏ dần, cây cao khó hái trái. Để có quả to mập cần đốn trẻ lại từ năm thứ 5 trở đi, sau đó cứ 3 năm đốn một lần. Lần đốn đầu cách mặt đất 0,5m, những lần sau cách lần trước 0,2 - 0,3m.

Để có mãng cầu bán đúng vào dịp tết, có thể xử lý ra hoa theo phương pháp sau: Khoảng vào đầu tháng 9 tiến hành tuốt lá kết hợp với tỉa bỏ những cành lá sâu bệnh và cành nhỏ vô hiệu. Chú ý trước khi lặt lá phải bón phân, tưới nước trước đó 1 - 2 tháng và lặt bỏ toàn bộ trái đã ra trong vụ thuận để cây nuôi cành, tạo quả về sau. Sau khi lặt lá xong phải tiến hành làm cỏ kết hợp xới xáo và bón phân, tưới nước (nhưng phải để hạn 7 - 10 ngày cho cây thuận lợi phân hóa mầm hoa tốt nhất). Đồng thời kết hợp với phun thuốc để phòng ngừa sâu bệnh và thuốc kích thích tạo điều kiện cây ra hoa. Nên bón phân có hàm lượng đạm thấp, lân và kali cao. Nếu bón phân đạm nhiều cây sẽ ra đọt non làm giảm khả năng phân hóa tạo mầm hoa.

ThS Khánh Thị Bích Thủy/ Dân Việt

Cách nuôi tôm thẻ chân trắng hiệu quả

Tôm thẻ chân trắng là loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, bởi thời gian nuôi ngắn, mật độ nuôi cao, tốc độ tăng trưởng nhanh, sức đề kháng tốt, cường độ bắt mồi khoẻ, năng suất lớn, thích hợp với các hình thức nuôi thâm canh và bán thâm canh.

Sục nước cho tôm tăng lượng ôxy hòa tan trong nước và giúp cân bằng nhiệt độ nước ở các độ sâu khác nhau trong toàn bộ ao.


Cách điều chỉnh độ pH nuôi tôm

Trong nuôi tôm thẻ, việc đo đạc các yếu tố môi trường hàng ngày để sớm phát hiện những biến động bất thường và điều chỉnh cho kịp thời là điều hết sức quan trọng. Nhất là trong thời điểm nắng nóng như hiện nay làm cho nhiệt độ nước ao tăng, tảo bùng phát mạnh làm pH nước ao tăng cao (vào buổi chiều) và gây thiếu ôxy hòa tan vào ban đêm hoặc sáng sớm.

Nhiệt độ và pH tăng cao sẽ làm tăng độc tính của Ammonia, đặc biệt là đối với các ao vừa mới bị "sụp" tảo (chết tảo hàng loạt). Khi hàm lượng NH3 tăng, gặp điều kiện pH tăng >9 có thể sẽ làm cho thân tôm có màu hồng và cũng có thể làm tôm chết. Trong trường hợp này, bà con cần áp dụng các biện pháp như sau:

- Thay nước 30 - 40% để loại bỏ bớt một lượng tảo, vi khuẩn, chất hữu cơ lơ lửng...). Nước thay phải có chất lượng tốt, đã qua xử lý trong ao lắng.

- Sử dụng ngay các sản phẩm có chứa chất Yucca schidigera để hấp thu nhanh NH3, giảm "sốc" cho tôm, nhất là vào thời điểm tôm lột xác. Sản phẩm có chứa Yucca schidigera hiện có rất nhiều trên thị trường, nhưng khi mua cần lưu ý chỉ mua sản phẩm của những công ty lớn, có thương hiệu, có uy tín lâu năm trên thị trường thì chất lượng mới đảm bảo, dùng mới có hiệu quả. Đối với Zeolite, nhiều tài liệu công bố kết quả nghiên cứu cho thấy Zeolite chỉ có hiệu quả hấp thụ khí độc trong môi trường nước có độ mặn thấp (< 10 ppt). Vì vậy bà con cần lưu ý khi sử dụng.

- Giảm pH bằng cách sử dụng chế phẩm sinh học, kết hợp với mật đường (rỉ đường). Chế phẩm sinh học nên xử lý định kỳ 1 lần/ 1 tuần. Rỉ đường có thể sử dụng ngày cách ngày cho đến khi thấy pH giảm xuống dưới 8 (vào buổi chiều) là được. Chế phẩm sinh học cũng cần lựa chọn sản phẩm của các công ty lớn, có uy tín lâu năm được người nuôi tôm tin dùng. Thành phần chủ yếu chứa các chủng vi khuẩn Bacillus.

Cách điều trị bệnh ở tôm

Mặc dù nuôi tôm thẻ chân trắng phải đầu tư khá lớn nhưng kinh nghiệm, sự am hiểu của bà con về đối tượng này còn khá hạn chế. Khi thấy tôm trong ao có các dấu hiệu như giảm ăn, đường ruột không có thức ăn hoặc đứt khúc, phân lỏng, nhão, gan tụy thay đổi màu sắc chuyển sang màu vàng nhạt hoặc màu xanh, thể tích khối gan tụy nhỏ lại, có tôm chết trong nhá (vó) thì nhiều khả năng là tôm đã bị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND hay còn gọi là Hội chứng chết sớm - EMS).

Cần phải xử lý ngay lập tức khi phần lớn đàn tôm trong ao còn ăn mồi. Việc xử lý, điều trị đối với bệnh này cần phải tiến hành song song cả 2 cách- trộn thuốc cho tôm ăn và xử lý diệt khuẩn trong nước ao nuôi.

- Đối với diệt khuẩn nước ao nuôi- không nên dùng các loại hóa chất có thể làm chết tảo như BKC, Chlorine, Protectol GDA, TCCA... mà chỉ nên dùng các loại hóa chất như Virkon A, Iodine.

- Đối với việc dùng thuốc trộn vào thức ăn cho tôm ăn: Cần lưu ý là tuyệt đối không nên dùng Oxytetracycline hoặc các sản phẩm có chứa Oxytetracycline. Lý do không phải vì Oxytetracycline là loại thuốc bị cấm sử dụng (cho đến nay Oxytetracycline là loại thuốc được khuyến cáo hạn chế sử dụng), mà chính là vì Oxytetracycline không có tác dụng điều trị khỏi bệnh hoại tử gan tụy cấp tính. Đó cũng chính là nguyên nhân vì sao trong 2 năm qua, người nuôi sử dụng Oxytetracycline vừa tạt xuống ao, vừa trộn vào thức ăn cho tôm ăn mà tôm vẫn chết. Một số trường hợp có thể thấy tôm ngừng chết trong khoảng thời gian 10 - 15 ngày, nhưng sau đó lại bị chết trở lại. Tình trạng như vậy cứ tiếp diễn, tái đi, tái lại để rồi cuối cùng khi thu hoạch tỷ lệ sống không còn được bao nhiêu, người nuôi càng kéo dài, càng theo đuổi thì càng bị thiệt hại nghiêm trọng hơn.

Để nuôi tôm thẻ chân trắng đạt hiệu quả kinh tế cao, cần thường xuyên tham khảo tài liệu hướng dẫn kỹ thuật quản lý môi trường, quản lý sức khỏe tôm trong ao nuôi.

Khi phát hiện tôm trong ao nuôi có những dấu hiệu bất thường thì điều đầu tiên phải làm là kiểm tra thật kỹ các yếu tố môi trường. Nếu tất cả đều nằm trong phạm vi tốt thì có thể nghĩ đến vấn đề bệnh.

Trong trường hợp này, trước khi tiến hành xử lý cần tham vấn ý kiến của những người có nhiều kinh nghiệm, có kiến thức chuyên môn sâu về nuôi trồng thủy sản - đặc biệt là nuôi tôm - để từ đó có cách giải quyết, xử lý phù hợp nhất, vừa đảm bảo mang lại hiệu quả cao trong phòng, trị bệnh, vừa đảm bảo hiệu quả về mặt kinh tế, vệ sinh môi trường, an toàn sinh học.

Nguyễn Nhứt (Viện nghiên cứu và nuôi trồng thủy sản miền Nam)/ Dân Việt