Friday, January 16, 2015

Quản lý ao nuôi tôm đất phèn

Đất phèn gây khó cho người nuôi tôm. Quản lý tốt đất ao nhiễm phèn là một phương pháp quản lý đặc trưng. Căn cứ vào đặc điểm ao, nắm được trọng điểm, quản lý cẩn thận sẽ thành công.

Chọn ao nuôi

Có thể phơi ao vào mùa xuân, thu, để đảm bảo nền đáy ao nuôi tôm tốt. Từng bước xử lý trong nuôi tôm đều rất quan trọng, mỗi bước đều cần có thời gian, do vậy việc chọn ao nuôi vào mùa xuân nên hoàn thành trước Tết.

Cải tạo đáy ao

- Phơi đáy ao: Là phương pháp cải tạo đáy ao tốt nhất mà không tốn kém; cũng là cách diệt khuẩn tốt nhất, tiết kiệm nhất. Mỗi năm, sau khi thu hoạch, nên kịp thời tháo nước để phơi đáy ao, cho lớp bùn đen tầng đáy ao ôxy hóa chuyển thành màu trắng. Thời gian phơi ao không dưới một tháng.

- Ngâm đáy: Sau khi phơi, tiến hành ngâm đáy ao, rửa những chất có hại trong ao, lần ngâm đầu tiên 7 - 10 ngày.

- Sau khi ngâm, phơi, tháo cạn nước rải vôi, cày bừa: Ao đáy cát sử dụng 52 kg/1.000 m2; đáy ao đất, cát sử dụng 112 kg/1.000 m2; đáy ao đất sử dụng 150 kg/1.000 m2; sau đó cày bừa đáy ao.

- Cày bừa trộn lẫn vôi với đất đáy ao, nâng cao độ thấm cho tầng đáy, nâng cao độ pH đất tầng đáy.

- Cày lật đất đáy 10 - 15 cm để phơi, ôxy hóa triệt để. Khoảng 10 ngày sau lại cho nước vào ngâm tiếp.

Tốt nhất nên ngâm rửa ao nhiều lần. Thông qua nhiều lần cày, phơi, ngâm, sẽ loại bỏ được mùi hôi trong đáy ao, khôi phục được môi trường lành mạnh.

Trước khi thả giống khoảng 45 ngày, nên tháo cạn nước; chỗ trũng, có nước, nên dùng TCCA tạt khắp ao, để diệt khuẩn tôm, cá, cua, tạp.

Sau khi diệt chết tôm, cá, cua ba ngày, sử dụng Bacilus nồng độ cao (BIO-BESTOT) để xử lý, hoạt hóa đáy ao.

Cày bừa cải tạo đáy ao nuôi tôm - Ảnh: Trần Út 
Phòng tính phèn cao

Polysulfide, kim loại nặng cao, giai đoạn đầu vụ nuôi dễ bị nhiễm lại phèn, không những ảnh hưởng đến sự ổn định của môi trường nước mà khi gặp điều kiện môi trường ôxy thấp sẽ dễ chuyển thành chất có hại H2S, ảnh hưởng lớn đến tôm.

Phòng hiện tượng nhiễm lại phèn, nên kết hợp sử dụng phương pháp nâng cao ôxy, sử dụng vôi nung, cung cấp dinh dưỡng, sử dụng vi khuẩn quang hợp (EM). Ngoài ra, trong quá trình cải tạo ao, rải canxi, magie, photpho; đây cũng là một phương pháp tốt, sử dụng canxi, magie, photpho không tan trong nước nhưng tan trong môi trường axit yếu.

Có thể sử dụng phương pháp nén phèn của người trồng lúa để nén phèn: Dùng canxi, magie, photpho 5 kg/1.000 m3, ao đáy đất cát sử dụng 3.5 kg/1.000 m3. Ao đáy cát sử dụng 2 kg/1.000 m3.

Cấp nước và gây màu nước

Cấp nước: Cấp một lần đủ nước (1.3 - 1.5 m), một ao xử lý nước, một ao nuôi tôm. Nếu khu vực ao nuôi có nước thì mỗi ngày có thể thêm 10 cm nước, khi bơm nước nên bơm qua túi lọc 80, phòng tôm, cá, cua ngoài theo nước vào.

Sau khi cấp nước 2 ngày, tạt diệt tạp, Saponin, TCCA để diệt cá, tôm, cua tạp, đồng thời diệt khuẩn môi trường nước.

Nuôi nước: Sau khi diệt khuẩn khoảng 3 ngày, tiến hành cung cấp dinh dưỡng, sử dụng LIFE-HC, BIO-ALGAE 1 kg/1.000 m3 để bổ sung nguyên tố vi lượng, Ammonium bicarbonate, Calcium superphosphate, Bacilus (sử dụng theo hướng dẫn) EM (sử dụng theo hướng dẫn) vi khuẩn quang hợp (sử dụng theo hướng dẫn), sử dụng trong thời gian 8  - 10 giờ ngày trời đẹp. Từ khi bổ sung dinh dưỡng, mỗi ngày bật lượng quạt nước buổi trưa 2 giờ, buổi tối từ 10 giờ đến 6 giờ hôm sau, để cân bằng lượng ôxy, vi khuẩn, tảo, tạo điều kiện hình thành hệ thống sinh thái tuần hoàn, nhanh chóng ổn định chất lượng nước.

Chú ý: Khi độ pH lên mức đỉnh, có thể trong 1 - 2 ngày bắt đầu giảm. Căn cứ vào mức pH lên cao để quyết định sử dụng lượng nguyên tố vi lượng. Ví dụ, độ pH đạt mức 9.2 lượng dùng phải giảm 1/2, nếu pH 9.3 trở lên lượng dùng nên giảm 1/3, nếu độ pH 8.8 - 9.1 cần cung cấp lượng dinh dưỡng 2/3, nếu độ pH dưới 8.8 thì vẫn tiếp tục liều dùng bình thường.

- Thời gian đầu: Cấp dinh dưỡng, gây màu thường xuất hiện độ pH cao, hiện tượng độ trong cao cũng xuất hiện, cho thấy thời điểm đó chất lượng nước chưa ổn định; qua phơi ao và sử dụng vôi, các độc tố trong đáy ao đã được xử lý hết, bình thường phải sử dụng 5 - 6 lần chất khoáng, nguyên tố vi lượng mới được ổn định. Cũng có thể sử dụng sản phẩm Sodium subsulfite (Na2S2O3) để giải độc, sau khi chất lượng nước ổn định, và kiểm tra độ pH đạt 8.5 - 8.6 mới bắt đầu thả giống.

- Giai đoạn giữa và cuối vụ: Sử dụng lượng hợp lý vôi nung, zeolit, nguyên tố vi lượng (LIFE-HC, BIO-ALGAE) để ổn định môi trường nước (nếu có điều kiện, có thể sử dụng phương pháp túi treo bổ sung urê), duy trì đủ ôxy, định kỳ bổ sung vi khuẩn có lợi (nên sử dụng vi sinh BIO-BESTOT; BESTOT NO3), chất hữu cơ ô nhiễm cũng có thể được phân giải và chuyển hóa mà vẫn có thể khống chế chất lượng nước

Chọn và thả giống

- Chọn tôm giống: Chọn thả tôm giống chất lượng tốt, đồng đều, khỏe, không dị tật. Bật quạt liên tục, đảm bảo sự cân bằng ôxy, môi trường nước ổn định; cho ăn trong ngày hoặc ngày thứ hai sau thả cho ăn.

- Mật độ thả và chăm sóc: Nếu thả mật độ khoảng 80 con/m2 trở lên cho ăn luôn trong ngày thả, so với cho ăn sau 10 ngày thả tốc độ phát triển không giống nhau (phải xử lý tốt đáy ao, cho ăn ít chia thành nhiều lần, duy trì ổn định dinh dưỡng, chất lượng nước), tỷ lệ bị bệnh cũng giảm đáng kể. Trong quá trình xử lý nên kiên trì giải độc, kháng stress, trước khi thả giống khoảng 12 giờ sử dụng (BIO-POWER, XYGEN-BESTOT), giảm kim loại nặng, trước khi thả giống 2 giờ tạt Vitamin C để chống sốc. Căn cứ vào môi trường nuôi thực tế để chọn thả mật độ cho phù hợp. 

Nuôi tôm thẻ chân trắng có thành công hay không, mấu chốt là quản lý giai đoạn đầu (chọn ao, cải tạo ao, cung cấp dinh dưỡng, thả giống).

Bùi Ánh/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Thursday, January 15, 2015

Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp phòng trị bệnh phấn trắng do nấm Oidium heveae gây hại trên vườn cây cao su kinh doanh

Bệnh phấn trắng do nấm Oidium heveae là một trong những bệnh hại phổ biến ở hầu hết các vùng trồng cao su tại Việt Nam.


Do đó, các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam và Công ty TNHH MTV Tổng công ty Cao su Đồng Nai đã xác định việc đánh giá hiệu quả phòng trị phấn trắng trên đối tượng vườn cây cao su (cả về phương diện kỹ thuật và hiệu quả kinh tế) là rất cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả phòng trị bệnh và tránh lãng phí trong đầu tư.

Biện pháp sử dụng thuốc trừ nấm (Vixazol 275SC 0,2%) hoặc gây rụng lá nhân tạo (RLNT 2010 1,0%) kết hợp với sử dụng thuốc trừ nấm (Vixazol 275SC 0,2%) có hiệu quả phòng trị bệnh phấn trắng tốt. Trong suốt quá trình ra lá mới, bệnh luôn ở mức rất nhẹ với cấp bệnh < 1,0; phiến lá to, dày; mật độ tán lá tăng nhanh, che phủ cao và sớm ổn định. Trong khi ở nghiệm thức đối chứng (không phun thuốc) hoặc gây rụng lá nhân tạo đơn lẻ, bệnh luôn ở mức trung bình đến nặng, cao điểm cấp bệnh 3,4 – 4,0, mật độ tán lá chỉ đạt 70 – 80% ở thời điểm mở cạo lại, phiến lá bị biến dạng và tồn tại nhiều vết loang lổ. Năng suất trung bình tại các lô sử dụng thuốc trừ nấm hoặc gây rụng lá nhân tạo kết hợp với sử dụng thuốc trừ nấm cao hơn đối chứng 177,6 – 325,7 kg/ha (tỷ lệ 8,6 – 15,9%), tương ứng với tăng lợi nhuận 6.024.959 – 14.265.105 đồng/ha/năm. Bên cạnh đó, việc kết hợp thuốc trừ nấm (Vixazol 275SC) với phân bón lá (Komix, Trí Việt 6 hoặc Breed) ở lần phun thuốc thứ 2 – 3 có hiệu quả phòng trị bệnh cao và khác biệt rõ rệt so với đối chứng không phun thuốc.

Theo Tạp chí NN & PTNT.

Tuesday, January 13, 2015

Một số lưu ý ngâm ủ thóc giống

Để đảm bảo được tỷ lệ nảy mầm cho hạt thóc > 85% theo yêu cầu, cần chú ý và có những biện pháp tác động thích hợp mới mang lại kết quả. 

Cần ngâm đủ thời gian cho hạt thóc được “no nước” 

Trước hết, cần làm sạch hạt giống (loại bỏ lép lửng) và xử lý hạt trước khi ngâm ủ (đối với các giống lúa thuần và lúa lai SX trong nước). Nếu điều kiện thời tiết giá lạnh (nhiệt độ thời tiết < 20 độ C), việc sử dụng nước ấm 54 độ C để xử lý thóc là không phù hợp vì nước nhanh nguội và lạnh.  

Tốt nhất nên xử lý thóc bằng dung dịch nước muối (15%) trong vòng từ 15 - 20 phút (1,5 kg muối/10 lít nước) sẽ diệt được hầu hết các loại nấm (khô vằn, đốm nâu, lem lép hạt, lúa von…) tồn dư trên vỏ hạt. 

Hạt thóc giống muốn nảy mầm thuận lợi cần hút nước để đạt độ ẩm cần thiết “thóc no nước” và nhiệt độ ấm áp (30 - 35 độ C). 

Muốn vậy, nông dân cần phải ngâm thóc bằng nước nóng 54 độ C (3 sôi 2 lạnh) khi thời tiết giá rét (dưới 17 độ C). Để duy trì nhiệt độ thích hợp cho hạt thóc hút nước tốt cần phải thay nước ấm thường xuyên ( 2 - 4 h/lần). 

Đảm bảo cho hạt thóc đủ độ ẩm để có thể đem ủ, nông dân cần phải ngâm đủ thời gian sao cho hạt thóc được “no nước”. 

Cần căn cứ vào nhiệt độ thời tiết trong ngày khi đổ thóc vào ngâm và quan sát vỏ hạt dày hay mỏng mà tiến hành ngâm sao cho đủ thời gian yêu cầu của giống đó (nhiệt độ cao thóc hút nước nhanh, nhiệt độ thấp, thóc hút nước chậm; Giống lúa vỏ móng hút nước nhanh hơn giống vỏ dày). 

Tuyệt đối không tuân thủ một cách cứng nhắc các tờ rơi, quy trình hướng dẫn có trong bao bì. Chỉ coi ngưỡng nhiệt độ ghi trong đó làm căn cứ đánh giá và tham khảo. Việc quyết định đem hạt thóc đi ủ là dựa vào sự quan sát thực thể hạt thóc: Hạt thóc đủ tiêu chuẩn đem ủ là hạt phải được “no nước” - hạt mõng, mép hạt hơi sưng, vỏ trấu trong suốt và có thể nhìn thấy rõ phôi hạt bên trong qua vỏ trấu. 

Ngưỡng thời gian để làm căn cứ quan sát hạt, thông thường với với nhiệt độ trung bình ngày và đêm dưới 17 độ C, các giống lúa lai (36 - 40 h), lúa thuần vỏ mỏng, hạt dài (48 - 54 h), lúa thuần vỏ dày, hạt tròn (60 - 72 h) tùy theo từng điều kiện thời tiết khác nhau thì khác nhau. 

Việc ngâm ủ thóc vụ chiêm xuân ở nhiều địa phương, theo thông dụng, nông dân thường hay áp dụng là vừa ủ vừa nhúng (xấp) nước dưới ao. Việc làm này là không nên vì hạt thóc dễ bị sốc nhiệt, bao thóc đem ủ nảy mầm không đồng đều (giữa bao mầm dài nhưng xung quanh và trên dưới bao mầm rất ngắn, thậm chí chưa mọc). 

Sở dĩ làm như vậy là do khi ngâm thóc vẫn chưa đủ độ no cho hạt thóc(thời gian ngâm chưa đủ). Vì vậy, trong khi ủ, hạt thóc tiếp tục hút nước dẫn đến hạt nhanh bị khô. Để khắc phục hiện tượng này cần trải thóc ra nong, nia rồi vẩy hoặc phun nước ấm (54 độ C) sau đó ủ lại ngay để đảm bảo đủ độ ẩm cho hạt nảy mầm dược thuận lợi. 

Với các dụng cụ, vật liệu dùng để ủ (bao, túi, rơm, rạ, tro bếp…): Chỉ dùng bao đay hoặc túi vải coton, vải bông, giành mây đựng thóc để ủ. Tuyệt đối không dùng bao xác rắn có nhiều nilong hoặc túi nilong để đựng thóc. 

Nếu trường hợp đem ngâm thóc lại gặp rét đậm kéo dài thì nên gieo mạ khi hạt thóc vừa mới nứt nanh, không nên để hạt thóc trong đống ủ kéo dài trên 1 tuần vì làm vậy hạt thóc sẽ mất dần sức sống do tinh bột bị thải ra ngoài. 

Nếu dùng rơm, rạ phủ thì cần phải nèn chặt để không có chỗ trống trong đống ủ đồng thời không được để gió lạnh lùa qua. Nếu dùng tro bếp để ủ thóc thì ngoài bao thóc phải được bọc một lớp vải ẩm dày hoặc bao đay ẩm để tro không hút trực tiếp nước từ hạt thóc trong bao, đảm bảo cho thóc đủ độ ẩm nảy mầm. 

Có thể áp dụng cách khác bằng cách: Đào một hố sâu khoảng 0,8 - 1 m, đường kính hố rộng hơn bao ủ khoảng40 cm, dưới đáy hố kê 2 - 3 viên gạch để chống nước. đặt bao thóc xuống hố ủ rồi nèn chặt rơm xung quanh và phủ rơm rạ thành đống bên trên nhằm tăng nhiệt cho đống ủ. 

Để thúc đẩy cho phát triển của rễ, mầm hạt thóc và tránh được sự gây hại của các côn trùng chích hút ở giai đoạn đầu vụ, giảm được nguy cơ bị bệnh virus lùn sọc đen, lùn xoắn lá… Cần ưu tiên sử dụng chất xử lý mầm Cruiser plus 312,5 FS. Cách xử lý như sau: 

Khi ngâm ủ hạt đã đến nứt nanh, dùng Cruiser plus theo tỷ lệ (20 ml cruiser/0,4 - 0,5 lít nước xử lý cho 10 kgthóc), phun ướt đều để hạt thóc thấm thuốc có màu hồng tươi rồi lại ủ tiếp đến khi đem gieo. Nếu hạt thóc đã đạt tiêu chuẩn đem gieo (mầm dài = 1/3 hạt, rễ dài = 1/2 hạt) nhưng gặp thời tiết rét đậm < 15 độ C (không cho phép gieo cấy ngoài ruộng SX) thì cần có biện pháp tác động nhằm kìm hãm sự phát triển của rễ, mầm. 

Có thể dùng tro bếp nguội trộn đều với mống mạ theo tỷ lệ (3 tro 10 kg mống) rồi đổ trên nong, nia trải đều dày khoảng 15 - 20 cm rồi phủ bao tải ẩm lên trên. Làm như vậy có thể giữ mống kéo dài được 2 - 3 ngày nữa.

KS Trần Thị Liên/ nongnghiep.vn

Wednesday, January 7, 2015

Quản lý sâu cuốn lá nhỏ trong vụ Đông Xuân (Video)

Sâu cuốn lá nhỏ là đối tượng dịch hại xuất hiện rất phổ biến trên các vùng trồng lúa. Dù có nhiều giải pháp để quản lý loại dịch hại này nhưng không phải bà con nào cũng thực hiện tốt. Thực tế có những mảnh ruộng bà con nông dân phải phun thuốc trừ sâu nhiều lần mà vẫn không khống chế được mật số của chúng...

Ảnh minh họa

Xem video chương trình "Khoa học nông nghiệp: Quản lý sâu cuốn lá nhỏ trong vụ Đông Xuân" được thực hiện bởi THVL:



Saturday, January 3, 2015

Kỹ thuật canh mai nở đúng Tết

Để có cây mai nở đúng giao thừa, sáng mùng một tết do chính chúng ta chăm sóc thì còn gì thú vị hơn. Cần lưu ý những điểm chính sau đây: 

1. Bón phân đúng lúc, đúng loại. 

2. Tưới nước đúng thời gian: 

Cây trồng chậu: Mùa khô tưới 2 lần/ngày, mùa mưa mỗi ngày tưới 1 lần. Cây trồng đất: Mùa khô, ngày tưới 1 - 2lần, mùa mưa có thể 1 - 2 ngày tưới/lần. 

Ảnh minh họa


Cần lưu ý trong cả hai trường hợp khi mùa mưa sắp dứt, phải tưới đẫm nước mỗi ngày cho đến tháng 12 âm lịch mới giảm dần lượng nước tưới: 2 ngày tưới một lần chuẩn bị lặt lá mai. Cần lưu ý tưới nước đều vào cuối mùa mưa đến Tết Nguyên đán theo hướng dẫn, nếu đến giữa tháng 10- 11 bộ lá còn xanh là tốt nhất, nếu lá đã chuyển sang vàng, hoa nở lác đác cần hãm hoa lại bằng cách tăng nước tưới pha ít urê để cây đâm tược lá, chậm quá trình nở hoa. 

3. Xem nụ: Đến rằm tháng 8 âm lịch cây mai đã có nụ non nếu thấy ít nụ cần tăng cường bón thúc thêm một lần phân NPK 15-30-15 là 100 gr/gốc để mai có nụ nhiều hơn. 

4. Lảy lá: Thông thường ta lảy lá vào rằm tháng Chạp, tuy nhiên có thể lảy lá sớm hay trễ tuỳ thuộc vào: 

• Nụ lớn: Thường lảy lá vào 17,18,19 tháng Chạp. 

• Nụ nhỏ: Lảy lá vào 13 - 14 tháng Chạp. 

• Mai ghép nhiều cành như: 

Mai giảo: Lảy từ 10-13 tháng Chạp. 

Mai 24 cánh lảy từ 8-12 tháng Chạp. 

Mai 100 cánh lảy từ 6-10 tháng Chạp. 

• Tình trạng sức khoẻ của cây mai: Cây khoẻ lảy lá sớm, cây yếu lảy lá trễ và cắt bớt nụ hoa. 

• Thời tiết trở lạnh: Lảy lá sớm hơn 5-7 ngày hoặc tưới nước ấm 35-42 độ C, ngày 2 lần. 

• Thời tiết nóng: Lảy lá trễ hơn 1-3 ngày, sau khi lảy lá đến 23 tháng Chạp nếu thấy nụ mai tróc vỏ lụa nhiều, nở đúng tết, nếu chưa tróc vỏ lụa có thể: 

• Tưới nước vào buổi trưa . 

• Phun thuốc kích thích như: Aron 1-2% phun 2 lần, mỗi ngày 1 lần. Hoặc Dekamon 1% phun 3 lần, mỗi ngày 1lần 

Nếu đến 23 tháng Chạp nụ xanh, lớn, hoa nở sớm có thể dùng lòng trắng trứng vịt phun lên nụ để giữ hoa không nở, sau đó tưới nước rửa vào trưa 29 tháng Chạp. Cần lưu ý biện pháp này chỉ giúp cây chậm nở hoa 1-2 ngày nếu kéo dài cây sẽ bị rụng nụ.

KS Đỗ Hữu Gia/ nongnghiep.vn

Thursday, January 1, 2015

Kỹ thuật trồng điều ghép thâm canh

Cây điều sinh trưởng, phát triển tốt ở vùng có nhiệt độ từ 24-280C, lượng mưa từ 1000-2.000mm, độ ẩm không khí <80%; thời gian chiếu sáng 2000 giờ/năm, trên chân đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất xốp thoát nước tốt , mạch nước ngầm sâu

Ảnh minh họa

Nếu trồng điều ghép thì sau một năm sẽ ra hoa. Thời vụ ra hoa từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Từ lúc ra hoa đến lúc chín là 4-5 tháng

- Thời vụ trồng: Thích hợp nhất là đầu mùa mưa. Nơi có điều kiện tưới thì có thể trồng được quanh năm.

- Cây giống: Mắt ghép được lấy từ những dòng điều đã được bình tuyển, được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận. Cây sau 3 tháng ghép, có ít nhất 9 lá, sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh

- Trồng: Với mật độ là 400 cây/ha (5m x 5m). Đào hố có kích thước 60 x 60 x 60cm trước khi trồng một tháng. Khi trồng mỗi hố bón lót 20 kg phân chuồng hoai, 0,5 kg super lân, trộn đều với đất mặt lấp đầy hố. Trồng xong nện chặc gốc và bón thuốc trừ sâu, mối quanh gốc

Chăm sóc:

- Xới đất: Sau 1-2 tháng trồng, cây bén rễ, mọc được 1-2 tầng lá mới thì bón thúc 0,2kg Urê. Làm sạch cỏ, xới xáo quanh gốc, tạo bồn theo tán tủ gốc bằng rơm, cỏ, rác khô. Mỗi năm chăm sóc 2 lần vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa

- Bón phân: Chia thành 2 thời kỳ

+ Thời kỳ kiến thiết cơ bản: Thường kéo dài từ khi trồng đến 3 năm sau đó. Giai đoạn này cây ra nhiều lá non trong năm cho nên phải bón nhiều đợt phân (3-5 đợt). Cây điều nhạy cảm với phân bón, đặc biệt là phân đạm (N). Trong giai đoạn cây non, bón theo tỷ lệ: 3:1:1 (N:P:K) với liều lượng: 9:3:3 (gram/cây/đợt). Cây giai đoạn 2 năm sau thì bón: 30:10:10. Năm thứ 3 thì bón: 90:30:30.  Bón phân cách xa gốc từ 25-30cm

+ Thời kỳ khai thác: Kể từ năm 4 trở đi. Phân bón chia thành 2 đợt. Đợt đầu bón vào đầu mùa mưa, đợt 2 vào gần cuối mùa mưa. Liều lượng, năm thứ 4 theo tỷ lệ: 300:100:100 (gram/cây/đợt). Năm thứ 5 đến thứ 8 lượng phân bón giảm đi, theo tỷ lệ: 200:130:130. Khi vườn điều chưa khép tán nên bón theo rãnh chu vi tán. Khi khép tán thì bón theo rãnh giữa 2 hàng cây

+ Bón lá, kích thích sinh trưởng: Điều thường rụng lá già và ra hoa cùng lúc. Do đó các chế phẩm bón qua lá sẽ thúc đẩy nhanh sự hình thành và phát triển lá và hoa, có tác dụng tăng năng suất điều đáng kể. Bón phân qua lá cũng có tác dụng tăng khả năng đậu quả và nuôi quả.

Bón phân NPK khi cây:

- Ra lá: Bón 30:10:10 (gram/cây)+ vi lượng

- Đón hoa: 6:30:30 + vi lượng

- Đậu quả: HQ101, Atonic, progib, (Ga3…)

- Dưỡng quả: 20:20:20 + vi lượng

- Chắt hạt: 12:0:40 + Ca

Liều lượng phân bón, số lần phun tuỳ theo sự hướng dẫn của nhà sản xuất. Có thể phun kết hợp với một số loại thuốc phòng trừ sâu bệnh thích hợp  để giảm chi phí thuốc

Tưới nước: Trong mùa ra hoa, đậu quả, tưới 1- 2 lần/tháng (từ tháng 3-5) tưới đủ ẩm và tưới vào tháng 7-8 thời kỳ nắng hạn nhất

Tỉa cành: Cắt bỏ cành bị sâu bệnh, cành bị che bóng, cụm cành quá dày để cho cây thông thoáng, tạo cho tán cân đối. Thời gian tỉa cành là sau thu hoạch hoặc trước mùa mưa

Trồng xen: Từ năm 1 đến năm 3 khi điều chưa khép tán có thể trồng xen đậu xanh, đậu phụng, ớt, dứa…

Phòng trừ sâu bệnh:

Sâu: Một số loại sâu có thể thành dịch gây hại cho điều như: bọ xít muỗi, gây hại trên các bộ phận non của cây điều. Dùng Sherpa, Supracide, Oncol…  phun 3 lần (lúc cây ra chồi non, ra hoa và hoa nở rộ)

Bắt sâu non và sâu trưởng thành trên cây, cắt bỏ các chồi non bị hại. Phun Sherpa hoặc padan… vào tháng 3 và tháng 8-9 cũng là để trừ bọ đục phấn nõn

Châu chấu xanh: Dùng Trebon, Karate…phun 1-2 lần khi ra chồi non và ra hoa

Sâu róm đỏ: ăn lá và chồi non của cây. Dùng các loại thuốc như trên để phòng trừ

Ngoài ra còn một số loại sâu khác như rệp sáp, rầy, nhện đỏ, bọ trĩ…

Bệnh cây điều:

Bệnh chết khô: Lúc đầu xuất hiện các đổm trắng sau chuyển sang màu hồng làm bong vỏ cây và chết từ ngọn xuống. Dùng Validacin, Bavistin, Vicarben, Rhidomiel… để phòng trừ

Bệnh thán thư: Phát triển gây hại mạnh lúc chồi non, cành phát hoa, trái non, khi không khí ẩm và mật độ bọ xít muỗi cao. Dùng COC85, Rhidomil, Champion, Aliette, Bavistin… Phun đẫm 7-10 ngày/lần

TL (Theo Chương trình nghiên cứu KHCN phục vụ phát triển nông nghiệp duyên hải miền Trung)

Tuesday, December 30, 2014

Hiện tượng trắng lá lúa giai đoạn mạ (Video)

Vụ đông xuân được xem là vụ mùa chính, vụ ăn chắc của người trồng lúa, vì thế mọi tác động gây hại lên cây lúa đều làm cho bà con nông dân hết sức lo lắng. Hiện nay, bên cạnh những loại sâu bệnh hại lúa thường thấy, bà con nông dân ĐBSCL còn mang thêm 1 nỗi lo khác đó là hiện tượng lá lúa trắng trong giai đoạn mạ...


Xem video chương trình "Khoa học nông nghiệp: Hiện tượng trắng lá lúa giai đoạn mạ" được thực hiện bởi THVL: