Thursday, December 25, 2014

Nuôi giữ cá qua đông

Để đảm bảo cá giống, cá thịt qua vụ đông, người nuôi cá cần nắm vững kỹ thuật nuôi cá qua đông để giảm thiểu rủi ro, tăng hiệu quả.

Tầm quan trọng

Đối với người nuôi cá, cá giống là yếu tố quan trọng trong sản xuất, nhất là tại các tỉnh miền Bắc bị ảnh hưởng bởi không khí lạnh và mùa đông kéo dài. Mùa đông đến, nhiệt độ xuống thấp, thậm chí một số tỉnh vùng núi phía Bắc nhiệt độ xuống 00C gây khó khăn cho việc lưu giữ cá giống cho vụ nuôi năm sau.

Nhiệt độ thấp cũng ảnh hưởng đến khả năng thành thục và sinh sản của cá bố mẹ. Vì vậy, miền Bắc thường sản xuất giống muộn, ảnh hưởng không nhỏ đến thời vụ nuôi. Do vậy, việc lưu giữ được cá giống cho vụ sau là điều rất cần thiết.

Ngoài ra, sử dụng cá giống lưu qua đông sẽ tăng được thời gian nuôi cá, thu hoạch sớm hơn và cá bán được giá tốt hơn.

Lưu ý

Chuẩn bị ao nuôi

Đối với ao cá giống và cá thương phẩm thì cần tránh dùng những ao bị ảnh hưởng trực tiếp hướng gió đông bắc.

Ao có bờ chắc chắn, không rò rỉ. Độ sâu mực nước 1,5 - 2 m, nguồn nước cấp vào ao phải sạch, không bị ô nhiễm.

Cải tạo ao: Trước mùa đông thường thu hoạch hết cá giống, cá thịt phân loại để lưu giữ và nuôi qua đông. Sau khi thu hoạch cần tát cạn nước ao, vét bớt bùn đáy, chỉ để lại một lớp bùn sâu 15 - 20 cm. Tu sửa bờ ao, cống. Xử lý ao bằng vôi bột, liều lượng 8 - 10 kg /100 m2 ao. Sau đó, cấp nước vào ao từ 1,8 - 2,2 m.

Thả cá: Sau khi cải tạo ao xong, gây màu tạo nguồn thức ăn là động thực vật phù du đối với ao nuôi cá giống. Trước khi thả cá giống cần phân loại, đong đếm để tiện cho việc chăm sóc và quản lý sau này.

Với cá nuôi thương phẩm cũng phân loại kích cỡ, số lượng để tiện chăm sóc. Thả cá vào những ngày thời tiết nắng ấm.


Chăm sóc quản lý

Thời điểm trước khi đưa cá vào lưu giữ cần tăng cường dinh dưỡng cho cá để cá béo khỏe, có sức đề kháng với bệnh tật và có khả năng chịu đựng được thời tiết lạnh giá. Cho cá ăn đầy đủ thức ăn đảm bảo cả về số lượng và chất lượng. Đối với cá giống và cá thương phẩm trong thời gian lưu giữ, vẫn cho cá ăn vào lúc thời tiết ấm, 9 - 10 giờ sáng hoặc 14h chiều.

Lượng thức ăn bằng 1 - 1,5% trọng lượng cá trong ao. Thức ăn cần đảm bảo có hàm lượng đạm 18 - 22%. Có thể cho ăn bằng thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn tự phối chế với thành phần: bột cá 10% + bột đậu tương 20% + bột cám gạo 70%. Đối với cá trắm cỏ cho ăn thêm thức ăn xanh với lượng 20 - 25 kg/100 kg cá/ngày.

Khi cho ăn cần đảm bảo nghiêm túc yêu cầu 4 định: định chất lượng, số lượng, thời gian, địa điểm. Bổ sung thuốc, chất dinh dưỡng vào thức ăn để phòng các bệnh và tăng khả năng chống rét cho cá như tỏi, Vitamin C.

Khi nhiệt độ nước thấp, cá dễ bị mắc bệnh nấm thủy mi. Vì vậy, khi nuôi cá trong ao nên hạn chế đánh bắt, giữ mực nước ổn định 1,5 - 2 m.

Chú ý: Không dùng phân hữu cơ bón trực tiếp xuống ao để tránh các mầm bệnh phát triển gây bệnh cho cá nuôi. Định kỳ, hàng tháng xử lý môi trường ao nuôi khoảng 2 lần, bằng vôi bột hòa nước té đều khắp ao với lượng 2 - 3 kg/100 mnước. Hằng ngày kiểm tra hoạt động của cá, khả năng sử dụng thức ăn, môi trường ao nuôi và tình hình dịch bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời.

Trong thời gian trú đông không nên đánh bắt, tránh cá giống bị xây xát - Ảnh: Huy Hùng 

Kỹ thuật chống rét

Đối với cá giống: Khi thời tiết lạnh giá kéo dài nhiệt độ nước xuống dưới 8 -140C nên dừng cho cá ăn, chủ động nâng cao mực nước từ 1,5 - 2 m. Có thể thả bèo tây, rau muống phủ kín 1/3 (hoặc 2/3) diện tích mặt ao. Dùng rơm, rạ cuộn thành từng bó cho xuống các góc ao để cá trú rét. Với ao nhỏ có thể dùng nylon phủ trên ao, tạo thành ngôi nhà chống rét cho cá giống.

Vào thời điểm nhiệt độ trên 180C, tập trung cho cá ăn thức ăn tinh giàu đạm để tăng cường khả năng chịu rét cho cá. Trong suốt thời gian trú đông không được dùng lưới kéo cá để kiểm tra, đánh bắt tránh cá bị xây xát dẫn đến nhiễm bệnh và chết. Sau khi hết rét, cần cho cá ăn tích cực đảm bảo đủ chất lượng, số lượng để cá sinh trưởng và phát triển tốt.

Đối với cá thịt: Sau khi tiến hành thu hoạch, cần tuyển chọn lại cá (cá chim trắng, rô phi, trắm cỏ…) chưa đủ cỡ thu hoạch để tiến hành chống rét và nuôi lớn tiếp để bán vào thời điểm sau tết âm lịch hoặc đầu năm.

Cần chọn ao có diện tích khoảng 300 - 1.000 m2, độ sâu 1,2 - 1,5 m, kín gió. Sau khi thả cá vào, tiếp tục cho ăn bằng thức ăn công nghiệp, thức ăn tinh vào những ngày ấm để cá tăng khả năng chịu rét. Dùng sọt đựng rơm thả xuống đáy ao để cá chui vào trú đông. Trên mặt ao thả bèo kín 1/2 ao về phía bắc, nếu có điều kiện có thể dùng nilon phủ kín mặt ao.

Tăng cường bổ sung dinh dưỡng, thức ăn có độ đạm cao để giúp cá chống rét tốt hơn.

Phòng và trị một số loại bệnh

Bệnh ngoại kí sinh: Cá bị bệnh, màu sắc cá trở nên nhạt, cá thích tập trung ở nơi có đường nước chảy vào. Bệnh xuất hiện khi mật độ nuôi dầy, điều kiện vệ sinh kém, mưa kéo dài thời tiết lạnh.

Phòng, trị bệnh: Thả nuôi mật độ vừa phải, tránh để ao bị ô nhiễm, dùng formol tạt đều khắp ao với nồng độ 20 - 25 ml/m3

Bệnh đốm đỏ: Thân và vùng bụng bị xuất huyết, vảy dựng lên, các gốc vây xuất huyết và ứ nước vàng. Bụng cá trương to chứa dịch và đỏ bầm, cá bơi lội lờ đờ chậm chạm, ít ăn hoặc bỏ ăn.

Phòng bệnh: Không nuôi mật độ quá dày, cho ăn đầy đủ về số lượng và chất lượng, môi trường ao nuôi luôn giữ ổn định và sạch sẽ. Định kỳ 15 ngày tạt vôi bột CaCO3 với lượng 3 kg/1.000 m3 (vôi hoà tan trong nước tạt đều khắp ao).

Trị bệnh: Sử dụng kháng sinh Neomycine 4g/100 kg cá bệnh và Vitamin C, liều lượng 3g/100 kg cá bệnh, thuốc được trộn vào thức ăn, cho ăn liên tục 5 - 7 ngày.

Bệnh nấm thủy mi: Khi nấm mới ký sinh, mắt thường khó nhìn thấy, phần cuối của sợi nấm đâm sâu vào thịt cá, phần đầu của sợi nấm lơ lửng trong nước. Khi bệnh phát triển nhiều xuất hiện những đám bông màu trắng, gây cho cá ngứa ngáy, cá thường tập trung ở những nơi có nước chảy.

Phòng bệnh: Luôn giữ môi trường sống thuận lợi cho cá, nhất là vào những lúc trời lạnh, không để cá suy dinh dưỡng (thiếu ăn), không nuôi mật độ quá dày hoặc làm cá xây xát.

Trị bệnh: Dùng thuốc tím (KMnO4) tạt đều xuống ao liều 3 - 5 g/m3 nước, hoặc dùng muối ăn tắm cho cá trong 15 phút.

Chú ý: Đối với một số vật nuôi khác như lươn, ếch cũng cần phải có biện pháp chống rét: Che kín bể nuôi bằng bạt nilon, lá dừa… Mặt ao, bể nuôi thả bèo tây chiếm 2/3 diện tích về phía hướng gió. Dùng lá dừa khô tạo thành những ụ ở những chỗ ếch thường nằm để ếch vào tránh rét. Lươn, ếch phải được chăm sóc kỹ, cho ăn bình thường, bổ sung thêm Vitamin C vào khẩu phần ăn giúp ếch tăng sức đề kháng. Vào những ngày nắng ấm hoặc buổi trưa trời nắng cần cho vật nuôi ăn đầy đủ. Lượng cho ăn phải tùy thuộc vào sức ăn mà tăng hoặc giảm để lươn, ếch khỏe mạnh, có khả năng chống rét. 

Miền Bắc đang phát triển nghề nuôi cá rô phi đơn tính, cá điêu hồng trong ao đất, trong lồng bè trên sông, hồ chứa; vì vậy nhu cầu con giống rất lớn. Mỗi hộ nuôi cần phải tăng cường quản lý, lưu giữ cá giống để chủ động con giống cho vụ nuôi sau. Kỹ thuật lưu giữ và chăm sóc cá giống qua đông không chỉ chủ động nguồn cá giống cho gia đình mà có thể cung cấp cho các hộ lân cận.

Trọng Nam / Tạp chí thủy sản Việt Nam

Wednesday, December 24, 2014

Hạn chế tôm càng xào

"Tôm càng xào" là cách mà người nuôi tôm càng xanh dùng để nói về tôm càng xanh đực có đôi càng thứ hai phát triển rất to và dài nhưng thể trọng không phát triển tương xứng.

Tác hại của "tôm càng xào"

"Tôm càng xào" thường có hai loại: Loại thứ nhất có càng to, dài, thân nhỏ nhưng có màu đen toàn bộ do bị bệnh đóng rong (tôm càng xào đen), loại này thường có xu hướng bơi lờ đờ gần bờ ao, di chuyển chậm chạp. Loại thứ hai cũng có càng to, dài màu xanh đậm, thân nhỏ nhưng màu sắc sáng hơn, loại này vẫn di chuyển nhanh nhẹn và sức sống tốt.

Trong các mô hình nuôi tôm càng xanh như: bán thâm canh, luân canh tôm - lúa hay nuôi tôm mùa lũ… tôm càng xào thường xuất hiện từ tháng thứ 5 sau khi thả nuôi với tỷ lệ từ 5 - 7%, thời gian nuôi càng lâu tỷ lệ này ngày càng tăng. 

Tác hại của "tôm càng xào" cho người nuôi là rất lớn, bởi vì chúng vẫn sử dụng thức ăn nhưng lại không tăng trọng. Như vậy, người nuôi bị thiệt hại kép vì vừa phải chịu tăng chí phí đầu vào do sử dụng thức ăn nhiều nhưng sản lượng lại rất thấp. Hơn nữa, trong tình hình hiện nay, hầu hết các hộ nuôi tôm càng xanh đều bán cho các thương lái thu gom để tiêu thụ nội địa. Đối với "tôm càng xào", thương lái thu mua với giá rất thấp, thậm chí thấp hơn cả tôm trứng, riêng đối với loại tôm càng xào đen do không tiêu thụ được nên thương lái không mua.

Tôm càng xanh - Ảnh: Trần Út

Nguyên nhân

Thực chất "tôm càng xào" chính là tôm càng xanh đực thành thục sớm. Vì vậy chúng chỉ tập trung chất dinh dưỡng để phát triển đôi càng mà không tăng trọng lượng cơ thể. tôm càng xanh chuyển sang càng xào sớm vì một số nguyên nhân:

- Chất lượng con giống: Hầu hết các trại giống tôm càng xanh hiện nay đều sử dụng nguồn bố mẹ thu gom được từ các ao nuôi tại địa phương. Vì vậy, sau nhiều năm sản xuất, chất lượng con giống ngày càng thoái hóa do đàn tôm bố mẹ bị cận huyết. Tôm giống được sản xuất từ những đàn bố mẹ này sẽ có trọng lượng trung bình ngày càng nhỏ và thành thục rất sớm. Đối với tôm cái sẽ mang trứng sớm vào giai đoạn 2 - 2,5 tháng, tôm đực chuyển sang càng xào vào giai đoạn khoảng 3,5 - 4 tháng sau khi thả nuôi.

- Mật độ nuôi dày: Theo khuyến cáo, người dân chỉ nên thả nuôi tôm càng xanh trong ao với mật độ từ 5 - 7 con/m2. Tuy nhiên, hiện nay đa phần người dân thả nuôi với mật độ từ 12 - 15 con/m2 và không sử dụng giá thể treo trong ao. Với mật độ như vậy, tần suất gặp nhau giữa các cá thể tôm đực là thường xuyên, vì vậy để cạnh tranh thức ăn cũng như cạnh tranh để giao vĩ với con cái sẽ làm cho tôm đực buộc phải phát triển đôi càng to, khỏe. Những con đực có càng to, dài, khỏe sẽ có ưu thế hơn trong việc tranh giành thức ăn và giao vĩ, tuy nhiên cũng vì tập trung để phát triển đôi càng  mà trọng lượng cơ thể của chúng không tăng thêm nữa.

- Thức ăn: Theo nghiên cứu cho thấy, tôm càng xanh nếu được cho ăn với khẩu phần có bổ sung một số loại thức ăn tươi sống sẽ lớn nhanh và chậm thành thục hơn so với tôm được cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp. Hiện nay, đa phần các hộ nuôi tôm càng xanh đều không sử dụng thức ăn tươi sống do khó quản lý chất lượng nước trong ao, bên cạnh đó nguồn thức ăn tươi sống như: cá tạp, ốc…cũng ngày càng khan hiếm và giá cao. Vì vậy, việc cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp cũng làm cho tôm nuôi thành thục sớm hơn, tôm đực sẽ chuyển sang càng xào để chuẩn bị cho quá trình sinh sản.

- Nhiệt độ: Đối với các mô hình nuôi tôm mùa lũ, hầu hết đều tận dụng nuôi tôm trên các ruộng lúa sau khi đã thu hoạch. Các ao nuôi có bờ ao thấp, mực nước trung bình trong ao khi chưa có lũ khoảng 0,8 - 1m. Với mực nước thấp và thời tiết nắng nóng kéo dài sẽ làm nhiệt độ nước trong ao tăng đáng kể. Khi nhiệt độ cao trên 280C và kéo dài liên tục thì quá trình trao đổi chất của tôm tăng và thành thục cũng sớm hơn. Vì vậy, nhiệt độ cao cũng góp phần làm cho tôm đực sớm chuyển sang càng xào hơn.

- Chất lượng nước ao nuôi: Nếu ao nuôi không được thay nước thường xuyên, hàm lượng khí độc cao, hàm lượng ôxy hòa tan thấp thì tôm nuôi sẽ bỏ ăn, tăng trọng kém do không lột xác được. Đối với tôm đực, nếu trong giai đoạn chuẩn bị thành thục mà không lột xác được, kết hợp với nền đáy ao dơ, có nhiều chất hữu cơ sẽ làm tôm bị bệnh đóng rong. Những con tôm này sẽ bỏ ăn, toàn thân có màu đen và ngày càng giảm trọng lượng.

Khắc phục

- Nên chọn mua con giống tại các cơ sở uy tín và có kinh nghiệm. Đặc biệt cần quan tâm chất lượng đàn bố mẹ, nên chọn con giống có nguồn gốc từ các đàn bố mẹ đã được gia hóa hoặc mang về từ nhiều nơi trong và ngoài nước. Đảm bảo chắc chắn con giống đã được cải thiện di truyền và đàn bố mẹ không cận huyết.

- Giảm mật độ nuôi ở mức vừa phải. tôm càng xanh có đôi càng to và dài, rất hung dữ, vì vậy nên thả nuôi với mật độ 5 - 7 con/m2 và phải treo một số giá thể để tôm deo bám và trú ẩn khi lột xác. Như vậy, tôm đực sẽ giảm tần suất gặp nhau và ít tranh giành thức ăn cũng như tranh giành giao vĩ, từ đó chúng sẽ ít tập trung phát triển đôi càng và tăng trọng tốt hơn.

- Cần bổ sung một số loại thức ăn tươi sống như: cá tạp, ốc… từ tháng thứ hai sau khi thả nuôi. Tuy nhiên, cần bổ sung với lượng vừa phải (từ 10  - 20 %/tổng lượng thức ăn) và lưu ý theo dõi diễn biến chất lượng nước trong ao vì nếu thức ăn không sử dụng hết sẽ bị phân hủy làm chất lượng nước bị ô nhiễm.

- Thiết kế ao nuôi với bờ ao cao và chắc chắn, mực nước trong ao phải giữ được tối thiểu 1,5 m. Như vậy nhiệt độ sẽ ít dao động và được giữ ở mức phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm. Tôm nuôi sẽ chậm thành thục hơn và tôm đực sẽ chậm chuyển sang càng xào.

- Thường xuyên kiểm tra chất lượng nước ao nuôi như: pH, DO, NH3, H2S, độ kiềm… nhằm đảm bảo các chỉ tiêu đều thích hợp cho tôm. Thay nước thường xuyên để kích thích tôm lột xác và hạn chế bệnh đóng rong. 

Để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng “tôm càng xào” trong ao nuôi tôm càng xanh, người nuôi cần chuẩn bị ngay từ đầu vụ, thường xuyên theo dõi diễn biến về tăng trọng và chất lượng nước trong ao nuôi. Đồng thời chú ý đến nguồn gốc tôm bố mẹ khi chọn tôm giống.

Nghĩa Lâm / Tạp chí thủy sản Việt Nam

Tuesday, December 23, 2014

Đề phòng tuyến trùng khi trồng hồ tiêu

Tôi vào Tây Nguyên mới thấy, bà con ta đua nhau trồng hồ tiêu. Nhiều nhà còn phá cả vườn cao su, vườn cà phê, vườn ca cao để trồng hồ tiêu. Nguyên nhân chính cũng vì vụ vừa qua, giá hồ tiêu có lúc lên tới trên 200.000 đồng/kg. Có lẽ, đó là vì hồ tiêu được giá nhất. Dân mình thường chạy theo giá. Đã có nhiều bài học đau xót khi gia đương cao lại sụt xuống thê thảm. Đây là việc mà bà con mình phải nghiêm túc nhìn nhận và thận trọng khi sản xuất không theo kế hoạch…

Ảnh minh họa


Mặt khác, rất nhiều gia đình bắt tay vào trồng hồ tiêu mà không chú ý tới các vấn đề kỹ thuật. Điều này còn nguy hại hơn vì rất có thể đến lúc sắp được thu hoạch thì chúng ta lại bị mất trắng. Đây cũng là sự thật mà ở rất nhiều nơi đã gặp phải.

Chúng ta biết rằng, khâu chuẩn bị trước khi trồng hồ tiêu rất quan trọng. Nếu làm không tốt khâu này, đôi khi chúng ta sẽ bị trả giá. Trên báo chí, trên truyền hình đã nhiều lần nêu những trang trại do không làm tốt khâu chuẩn bị từ đầu nên đã bị hủy hoại gần như toàn bộ vườn hồ tiêu…

Để trồng hồ tiêu, trước hết, chúng ta phải xác định vùng đất của mình có trồng được nó hay không. Đất trồng tiêu tốt nhất là đất đỏ bazan, đất phù sa mới bồi và đất đồi nhưng tơi xốp và phải thoát nước mới tốt. Tránh trồng nó trên đất cát khô, sét nặng, đất phèn hoặc đất bị úng ngập.

Có đất rồi thì khâu xử lý đất cũng phải làm rất nghiêm túc. Chúng ta biết rằng, kẻ thù nguy hại nhất ở hồ tiêu chính ta tuyến trùng. Tuyến trùng là loài giun tròn có kích thước rất nhỏ mà mắt ta không nhìn thấy được. Trong hàng nghìn loài tuyến trùng thì có tới hơn 20 loài phá hoại cây tiêu. Chúng thường xâm nhập vào cây rồi làm thành những u, bướu, ngăn các mạch dẫn ở rễ và làm chúng thối dần từ dưới lên, thâm đen từng đoạn rồi làm cây chết. Chúng có ngay trong đất. Gặp điều kiện thuận lợi là chúng tấn công ngay cây tiêu.

Vì vậy, ta phải xử lý đất thật tốt trước khi trồng. Ta dọn sạch cỏ, rác, đào hố, phơi đất. Sau đó, rắc mỗi hố nửa cân vôi hoặc phun dung dịch booc-đô để diện mầm bệnh. Ta dùng phân chuồng hoài mục bón cho mỗi hốc 10kg. Trộn đều đất mặt với phân rồi hãy đưa cây vào trồng. Tiêu cần ẩm nhưng rất sợ úng. Vì vậy, phải có rãnh thoát nước tốt để khi mưa rào, nước không bị ứ trên vườn.

Truyến trùng còn có thể lây lan qua đường cây giống. Ta không lấy cành ở các khu vực có bệnh để nhân giống. Khi cắt cành, ta cũng phải sát trùng dao, kéo vì tuyến trùng có thể qua đó xâm nhập mà cành giâm. Nó cũng có thể theo nước mưa mà xâm nhập vào các vườn tiêu chung bị hại.

Khi xới xáo đất, ta tránh làm đứt rễ tiêu. Vì vết đứt hay vết xây sát là chỗ để tuyến trùng xâm nhập vào cây…

Người ta có giới thiệu một số thuốc diệt tuyến trùng nhưng không đạt được như mong muốn. Nếu đã có cây bị bệnh thì ta phải diệt tận gốc: Đào bỏ toàn bộ cây (kể cả rễ) và đem đi xa tiêu hủy.

Trồng tiêu còn nhiều việc phải làm nhưng phòng chống tuyến trùng là việc đầu tiên mà bà con phải quan tâm.

Chuyên gia Nguyễn Lân Hùng phụ trách Email: 1001cachlaman@gmail.com (Dân Việt)

Tăng năng suất cho đậu Hà Lan

Đậu Hà Lan gieo trồng từ 5.10 đến 5.11, thu hoạch từ tháng 12 đến đầu tháng 3 năm sau. Nếu gieo muộn, bệnh phấn trắng hại nặng làm năng suất giảm rõ rệt.

Đậu Hà Lan yêu cầu dinh dưỡng khoáng không cao. Cây có thể sinh trưởng phát triển trên nhiều loại đất, từ đất cát nhẹ nhiều mùn đến đất sét nặng, nhưng tốt nhất là đất nhiều mùn đến đất sét nhiều mùn. Trên đất nhẹ, đất cát không giữ được ẩm, năng suất sẽ kém. Độ chua thích hợp là pH từ 5,5 -7,0, nếu pH dưới 5,5 phải bón vôi (10 – 15kg vôi bột/sào).

Đậu Hà Lan ( Ảnh: nguồn Internet).


Đất phải cày bừa kỹ, làm sạch cỏ dại trước khi gieo. Chia luống rộng khoảng 1m, cao 20 – 30cm. Những giống cao cây, phân cành mạnh cần gieo trồng thưa hơn giống lùn hoặc bám leo. Khoảng cách hàng 60 - 65cm, khoảng cách cây 18 - 20cm (một hạt). Mật độ khoảng 80.000 – 85.000 cây/ha.

Lượng phân bón cho 1ha gieo trồng như sau: 5 - 20 tấn phân chuồng hoai mục, 90 - 100kg N, 60 - 90kg P2O5,100 - 120kg K2O. Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân, 1/3 lượng kali. Cho phân vào rãnh trộn đều với đất ở độ sâu 15 - 20cm. Khi gieo hạt vào mùa khô có thể bón lót khoảng 1/4 tổng lượng đạm.

Bón thúc từ 2 - 3 lần tùy theo tình hình sinh trưởng của cây. Bón thúc lần thứ nhất sau khi cây mọc khoảng 15ngày, lần thứ 2 sau khi mọc 25 - 30 ngày, lần thứ 3 khi cây ra hoa rộ và quả non. Có thể bón ở thể dung dịch hoặc bón dưới dạng khô, viên. Chia đều lượng phân còn lại cho số lần bón thúc, cũng có thể ở thời kỳ đầu khối lượng phân bón ít hơn một chút so với những thời kỳ sau

Nên hòa tan phân đạm (vô cơ) trong nước với nồng độ 1 - 2% để tưới vào gốc. Nếu bón phân ở dạng khô, dùng dầm (xén), que đào hốc sâu 5 - 7cm giữa 2 cây, sau đó bón phân đạm rồi lấp đất. Sau khi bón phân cần tưới nước kịp thời để hoà tan phân bón, thiếu nước sẽ dẫn đến tình trạng nồng độ dung dịch trong đất cao làm ảnh hưởng tới sự phát triển của rễ. Mỗi hốc chỉ nên bón 2 – 3g phân đạm.

Khi bón phân lân cần chú ý đến mục đích sử dụng. Nếu trồng đậu Hà Lan để sử dụng quả non thì bón lượng lân vừa phải, nếu sản xuất hạt giống hoặc trồng để sử dụng hạt khô thì cần tăng cường bón lân.

Làm cỏ, xới, vun 3 lần kết hợp với 3 lần bón thúc. Đối với những giống Hà Lan leo, cần phải làm dàn để cây leo, nếu không năng suất sẽ bị giảm nghiêm trọng.

Đậu Hà Lan yêu cầu luân canh triệt để với cây trồng khác họ, tốt nhất là với cây lương thực để tránh sâu bệnh và cải tạo đất. Bố trí công thức luân canh hợp lý còn có thể sử dụng đất đai một cách hiệu quả, tăng thu nhập trên đơn vị diện tích.

TS Phạm Thu Cúc (Dân Việt) 

Friday, December 12, 2014

Quy trình kỹ thuật phòng chống bệnh đốm nâu hại thanh long (Quy trình sửa đổi, bổ sung)

Ngày 24/11/2014, Cục Bảo vệ thực vật đã ban hành Quy trình kỹ thuật phòng chống bệnh đốm nâu hại thanh long (có sửa đổi bổ sung) thay thế quy trình tạm thời tại Công văn số 1448/BVTV-QLSVGHR ngày 9/7/2013, chúng tôi trân trọng giới thiệu quy trình đến quý độc giả.

I. Mục tiêu

Nhằm đưa ra các biện pháp kỹ thuật tạm thời phòng trừ bệnh đốm nâu hại thanh long, giảm tổn thất, góp phần bảo vệ và phát triển sản xuất cây thanh long theo hướng sản xuất an toàn, bền vững.

II. Phạm vi áp dụng

Quy trình kỹ thuật tạm thời quản lý bệnh đốm nâu gây hại cây thanh long được áp dụng trong hệ thống tổ chức chuyên ngành Bảo vệ, Kiểm dịch thực vật và các tổ chức, cá nhân có trồng cây thanh long trên lãnh thổ Việt Nam.

III. Nguyên nhân, triệu chứng và đặc điểm gây hại

 1. Nguyên nhân, cơ chế gây bệnh

Bệnh đốm nâu được ghi nhận đã, đang xuất hiện ở một số nước như Trung Quốc, Malaysia, Đài Loan. Ở Việt Nam, một số vườn thanh long tại các địa phương thuộc tỉnh Bình Thuận và Long An đã xuất hiện loại bệnh này, tuy mới xuất hiện nhưng bệnh có tốc độ lây lan nhanh và gây hại trên diện rộng. Bệnh đốm nâu hại thanh long do nấm Neoscytalidium dimidiatum (Penz) Crous & Slipper gây ra. Nấm thuộc Bộ Botryosphaeriales; Họ Botryosphaeriaceae. Bào tử nấm gây bệnh nẩy mầm trên bề mặt tiếp xúc rồi xâm nhập vào trong mô gây hoại tử, bệnh gây hại cả trên thân cành và quả thanh long.


Bệnh đốm nâu trên cành thanh long

Bệnh đốm nâu trên quả chín thanh long

2.Triệu chứng bệnh

- Trên thân cành: khi mới xuất hiện, triệu chứng ban đầu là các vết lõm màu trắng (nên một số nông dân còn gọi là bệnh đốm trắng,…), sau đó vết bệnh nổi lên thành những đốm tròn màu nâu như mắt cua. Trong điều kiện thuận lợi bệnh phát triển mạnh, các vết bệnh liên kết với nhau làm cho cành thanh long bị sần sùi, gây thối khô từng mảng.

- Trên quả: tương tự như trên thân cành, những đốm làm cho vỏ quả trở nên sần sùi thối khô từng mảng. Bệnh nặng có thể gây nám (rám) cả quả làm giảm giá trị thương phẩm nghiêm trọng.

3. Phương thức lây lan

Bệnh phát sinh phát triển và lây lan nhanh trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, ẩm độ không khí cao, nhất là vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11. Bệnh phát sinh gây hại nặng hơn trên những vườn thanh long bón nhiều phân đạm, sử dụng nhiều chất kích thích sinh trưởng. Bệnh đốm nâu cây thanh long lây lan chủ yếu qua các con đường:

- Qua hom giống, tàn dư cây bệnh và các sản phẩm của thanh long.

- Bào tử nấm phát tán, lây lan nhờ gió, dòng nước chảy và qua một số sinh vật (một số loài ốc sên, côn trùng).

IV. Biện pháp phòng chống

Để phòng chống bệnh đốm nâu hại thanh long hiệu quả phải áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM).

4.1. Biện pháp canh tác

- Vệ sinh sạch cỏ dại, tiến hành tỉa cành cho vườn thông thoáng, sạch sẽ, không để vườn quá rậm rạp.

- Thường xuyên kiểm tra vườn, nhất là những vườn cận kề vườn bệnh và vườn um tùm, xanh tốt hoặc vào thời điểm ẩm độ không khí cao.

- Không tưới nước vào chiều tối vì sẽ tạo điều kiện ẩm độ cho bào tử nấm gây bệnh nảy mầm, gây hại. Không tưới phun trên tán cây.

- Loại bỏ những cành, quả bị bệnh, thu gom chôn lấp, rắc vôi bột tiêu hủy (không được bỏ cành bệnh, quả bệnh xuống nguồn nước hay vứt tại vườn).

- Bón phân cân đối, tránh bón thừa phân đạm và sử dụng nhiều lần chất kích thích sinh trưởng khi cây bị bệnh, Tăng cường bón lân, kali và phân hữu cơ hoai mục cũng như việc bổ sung thêm phân có hàm lượng canxi, magiê, silíc để tăng sức đề kháng cho cây.

4.2.Sử dụng giống sạch bệnh

- Tuyệt đối không được lấy giống, giâm chiết cành từ những khu vực bị bệnh hoặc không có nguồn gốc rõ ràng.

- Không vận chuyển cành, quả bị bệnh từ khu vực có bệnh sang khu vực khác.

4.3. Biện pháp hóa học

- Rắc vôi bột khử trùng trên mặt đất với liều lượng 1 - 2 tấn/ha.

- Khi phát hiện bệnh đốm nâu mới chớm xuất hiện có thể sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ bệnh. Hiện nay trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam chưa có thuốc đăng ký phòng trừ bệnh đốm nâu hại thanh long nên tạm thời sử dụng các loại thuốc gốc đồng (Cuprous Oxide, Copper Hydroxide, Copper Sulfate) hoặc gốc Mancozeb để phun phòng trừ bệnh; sử dụng thuốc phải theo nguyên tắc 4 đúng và đảm bảo thời gian cách ly theo khuyến cáo trên bao bì.

V. Tổ chức thực hiện

Chi cục Bảo vệ thực vật các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức triển khai, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân có trồng thanh long áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng chống bệnh đốm nâu. Trong quá trình thực hiện nếu có vấn đề phát sinh cần báo cáo kịp thời về Cục Bảo vệ thực vật để cùng phối hợp giải quyết.

Cục Bảo vệ thực vật 

Quy trình trồng rau cải bắp an toàn

NNVN giới thiệu quy trình kỹ thuật trồng cải bắp an toàn do Chi cục BVTV Hà Nội cung cấp.

Cải bắp là cây trồng chủ lực vụ đông tại Hà Nội

Các vùng rau an toàn của Hà Nội đang bước vào sản xuất vụ rau đông. Một trong những cây trồng chủ lực ở thời điểm này chính là cải bắp. NNVN giới thiệu quy trình kỹ thuật trồng cải bắp an toàn do Chi cục BVTV Hà Nội cung cấp.


Thời gian sinh trưởng của cải bắp từ 75 - 90 ngày nên thời vụ gieo trồng cải bắp vụ sớm bắt đầu từ tháng 7, chính vụ tháng 89 và vụ muộn từ tháng 11 đến tháng 12.

Khi tiến hành trồng cải bắp cần lưu ý làm đất kỹ, luống đánh rộng 80 - 100 cm, rải phân đều trên mặt luống, đảo đều đất và phân, vét đất ở rãnh phủ lên mặt luống. Lượng phân bón lót cho 1 sào Bắc bộ từ 200 - 250 kg phân hữu cơ ủ hoai, 5 kg lân và 12 kg vôi bột. Đặc biệt lưu ý, đảm bảo thời gian cách ly với phân đạm urê ít nhất 30ngày trước khi thu hoạch.

Theo khuyến cáo của các kỹ sư trồng trọt và BVTV, đất phù hợp cho cải bắp là đất thịt nhẹ, cát pha, phù sa có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, giầu mùn và dinh dưỡng, pH từ 6,0 - 6,5. Nên làm đất kỹ, tơi nhỏ, dọn sạch cỏ và tàn dư thực vật rồi mới lên luống cao 25 - 30 cm, mặt luống rộng từ 1,1 - 1,2 m, bằng phẳng, dễ thoát nước để tránh ngập úng khi gặp mưa.

Lưu ý, cải bắp thường dễ nhiễm sâu bệnh vào lúc mới trồng, khi còn non như sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang, sâu xám, bọ nhảy sọc cong, rệp, bệnh héo xanh... Riêng đối tượng rệp, bọ nhảy cần kiểm tra và xử lý triệt để, tránh lây lan và phát sinh mạnh ở giai đoạn sau.

Về phòng trừ sâu bệnh, Chi cục BVTV khuyến khích người trồng rau thực hiện các biện pháp canh tác, thủ công, sinh học. Đầu tiên, nên chọn đất luân canh với cây trồng khác rau họ hoa thập tự. Đối với các vùng không chuyên rau nên luân canh với cây lúa nước nhằm hạn chế nguồn sâu bệnh chuyển tiếp. Tưới phun mưa vào các buổi chiều tối có tác dụng rửa trôi bớt trứng, sâu non sâu tơ và hạn chế bướm sâu tơ đến đẻ trứng.

Bên cạnh đó, có thể dùng biện pháp thủ công như ngắt ổ trứng, bắt giết sâu non khi mật độ sâu thấp (áp dụng với sâu xám, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang); phát hiện và nhổ bỏ những cây bị bệnh đem tiêu huỷ. Sử dụng các loại bẫy pheromone để bắt trưởng thành sâu tơ trong suốt thời gian sinh trưởng của cây (cả vụ).

Trong trường hợp phải sử dụng thuốc BVTV nên ưu tiên các loại thuốc sinh học. Nếu mật độ sâu rất cao, thuốc sinh học không có khả năng khống chế sâu hại thì lựa chọn sử dụng thuốc hóa học ít độc, nhanh phân giải và đảm bảo đủ thời gian cách ly đối với từng loại thuốc theo hướng dẫn trên nhãn thuốc. Nên tìm hiểu kỹ các loại thuốc trước khi dùng và dùng các loại thuốc có hoạt chất nằm trong danh mục khuyến cáo của Cục BVTV và Chi cục BVTV Hà Nội.

Ngoài ra, đất trồng và nguồn nước tưới cải bắp cần đảm bảo không bị nhiễm kim loại nặng vượt quá ngưỡng tối đa cho phép, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của các nguồn gây ô nhiễm như bãi rác, khu dân cư, nghĩa trang, bệnh viện... và phải xa nhà máy hóa chất ít nhất 2 km, xa đường quốc lộ ít nhất 50 m.

Khi cải bắp cuộn chặt và đủ độ lớn thu hoạch tỉa (cây lớn trước, cây bé sau). Chú ý chặt cao sát thân bắp để dễ thu hồi và xử lý gốc rau trên ruộng. Sau khi chặt cây, cần loại bỏ lá ngoài và lá xanh trên bắp, rửa sạch trước khi đóng gói đưa đi tiêu thụ.

Nguyễn Minh Công (Phó trưởng phòng Quản lý chất lượng, Chi cục BVTV Hà Nội)/ nongnghiep.vn

Thursday, December 11, 2014

Quy trình kỹ thuật phòng chống rệp sáp bột hồng hại sắn (khoai mì)

Hiện nay, bệnh rệp sáp bột hồng đang gây hại nặng trên một số diện tích trồng sắn ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên. Cục Bảo vệ thực vật đã ban hành tạm thời Quy trình kỹ thuật phòng chống rệp sáp bột hồng hại sắn. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia trân trọng giới thiệu quy trình đến quý độc giả.

Rệp sống cộng sinh với kiến trên cây sắn

I. Đặc điểm hình thái, gây hại và phương thức phát tán

1. Đặc điểm hình thái

Rệp sáp bột hồng là Phenacoccus manihoti Matile-Ferrero (Pseudococcidae: He-miptera) đã gây hại nặng ở nhiều vùng trồng sắn lớn trên thế giới. Ở Việt Nam, trong vài năm gần đây rệp sáp bột hồng xâm nhập gây hại sắn ở một số tỉnh vùng miền Đông Nam Bộ. Đến nay, chúng đã xuất hiện ở một số tỉnh miền Trung và phía Bắc qua con đường vận chuyển hom giống.

Trứng rệp sáp bột hồng hình ô-van thuôn dài, lúc mới đẻ màu trong hơi vàng, sau chuyển thành màu vàng nhạt. Trứng dài 0,3 - 0,75mm, rộng 0,15- 0,3 mm. Trứng đơn nằm trong các túi trứng bao phủ kín bằng lông mịn và nằm ở điểm cuối phía sau của trưởng thành cái.

Rệp non hình ô-van, trải qua 3 tuổi, rệp tuổi 1 màu vàng nhạt có 6 đốt râu đầu, di chuyển nhanh nhẹn; các tuổi tiếp theo kích thước cơ thể tăng dần và khả năng di chuyển chậm dần. Rệp non đẫy sức dài 1,1 - 2,6 mm rộng 0,5 - 1,4 mm, râu đầu có 9 đốt.

Rệp trưởng thành cũng có dạng hình ô-van, màu hồng và bao phủ bởi lớp sáp bột màu trắng, mắt kép lồi, chân phát triển. Kích thước rệp trưởng thành dài 1,1- 2,6 mm, rộng 0,5 - 1,4 mm. Các đốt của cơ thể rệp sáp hồng rất rõ ràng. Xung quanh mép thân và phần cuối bụng mang các tua sáp trắng rất ngắn. Râu đầu thường có 9 đốt.

2. Phát sinh phát triển và gây hại

Ở điều kiện nhiệt độ môi trường khoảng 280C, thời gian phát triển từ trứng đến trưởng thành đẻ trứng khoảng 33 ngày (vòng đời). Mỗi trưởng thành cái có thể đẻ 300 - 500 trứng.

Rệp sáp bột hồng hại sắn phát sinh, phát triển mạnh trong các tháng mùa khô và các tháng có lượng mưa thấp (<30 mm).

Rệp sáp bột hồng sống cộng sinh với một số loài kiến và có thể lây lan nhờ kiến. Cũng như một số loài rệp sáp giả khác, rệp sáp bột hồng có khả năng sinh sản đơn tính, trưởng thành cái không cần giao phối vẫn có thể đẻ trứng và trứng vẫn nở thành con.

Rệp sáp bột hồng tấn công đỉnh sinh trưởng của cây sắn, hút nhựa cây gây hiện tượng chùn ngọn. Ngọn chính bị gây hại dẫn đến cây sắn bị lùn. Trên lá, rệp bám ở mặt sau lá, gây hại làm các lá sắn bị xoăn, biến vàng. Bị nhiễm với mật độ cao, lá cây sắn khô giòn, có thể bị rụng toàn bộ lá, làm giảm năng suất củ sắn tới trên 80%.

Rệp sáp bột hồng tấn công đỉnh sinh trưởng của cây sắn, hút nhựa cây gây hiện tượng chùn ngọn

3. Cây ký chủ

Ngoài ký chủ chính là cây sắn, rệp sáp bột hồng còn được phát hiện thấy gây hại trên cây cao su, cây trạng nguyên, cây nam sâm, cói lác và cây bái chổi (bái nhọn).

4. Phương thức phát tán

Rệp sáp bột hồng có thể tồn tại trên tất cả các bộ phận của cây sắn (gốc, thân, lá, đỉnh sinh trưởng), rệp mới nở dễ dàng bị cuốn theo gió.

Rệp sáp bột hồng lây lan qua hom giống, phát tán nhờ gió, kiến, trôi theo nguồn nước, bám dính trên cơ thể động vật, người, công cụ lao động, phương tiện vận chuyển.

II. Biện pháp phòng chống

Rệp sáp bột hồng mới xuất hiện gây hại ở nước ta khoảng 2 năm trở lại đây nên chưa có các kết quả nghiên cứu đầy đủ về chúng. Tuy nhiên, để hạn chế tác hại của chúng, Cục Bảo vệ thực vật yêu cầu các Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh, thành phố có trồng sắn, thực hiện và chỉ đạo nông dân áp dụng các biện pháp phòng chống theo quan điểm quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) như sau:

- Thường xuyên điều tra các khu vực trồng sắn để phát hiện kịp thời và theo dõi diễn biến của rệp sáp bột hồng trên các ruộng sắn. Khoanh vùng diện tích sắn bị nhiễm và chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng chống phù hợp.

- Đối với những vùng rệp sáp bột hồng mới xâm nhập vào địa phương (các ổ dịch ban đầu), áp dụng biện pháp tiêu hủy, việc tiêu hủy thực hiện theo văn bản hướng dẫn tiêu hủy số 1235/BVTV-QLSVGHR, ngày 13/7/2012 của Cục Bảo vệ thực vật.

- Đối với những vùng bị rệp sáp bột hồng đã lây lan rộng cần áp dụng các biện pháp phòng trừ sau:

1. Biện pháp canh tác:

- Khi làm đất trồng sắn cần phải tiêu hủy triệt để tàn dư cây sắn, cây ký chủ phụ của rệp sáp bột hồng.

- Chọn hom giống không bị nhiễm rệp sáp bột hồng để trồng, phải xử lý hom giống trước khi trồng.

- Chăm sóc tốt để  cây sắn sinh trưởng phát triển nhanh, tăng sức chống chịu dịch hại.

- Trồng sắn với mật độ hợp lý: Đất tốt: khoảng cách hàng - hàng: 1,0 m; cây - cây: 0,8m (10.000 hom/ha); Đất trung bình: trồng khoảng cách 1,1 m x 0,8 m (11.000 hom/ha); Đất nghèo dinh dưỡng: trồng khoảng cách 1 m x 0,7 m (14.000 hom/ha).

- Bón phân đầy đủ, cân đối để cây sắn sinh trưởng phát triển khỏe mạnh tăng khả năng chống chịu rệp.

Bón lót 5 – 7 tấn phân chuồng hoặc từ 1,0 – 1,5 tấn phân hữu cơ vi sinh + 240 kg phân lân super + 500 – 1.000 kg vôi bột/ha để tăng năng suất và ổn định độ phì của đất. 

Bón thúc, lượng phân vô cơ thích hợp cho đất trồng sắn là: Đất tốt bón: 40N + 80 K2O (tương đương 90 kg đạm urê + 130 kg kaliclorua) cho 1 ha; Đất trung bình bón: 60N + 80 - 100 K2O (tương đương 135 kg đạm urê + 130 - 170 kg kaliclorua) cho 1 ha; Đất xấu bón: 80-120N + 80-120 K2O (tương đương 180 - 270 kg đạm urê + 130-200 kg kaliclorua) cho 1 ha.

- Thường xuyên vệ sinh ruộng sắn, diệt sạch cỏ dại, cây ký chủ phụ để không có nơi cư trú của rệp.

- Luân canh cây sắn với các cây trồng khác như: đậu, lúa nước, … để giảm nguy cơ xuất hiện gây hại của rệp sáp bột hồng.

2. Biện pháp sinh học

- Nhân nuôi và phóng thích ra đồng ruộng ong ký sinh Anagyrus lopezi De Santis hoặc Epidiocarsis lopezi De Santis để kiểm soát rệp sáp bột hồng hại sắn.

- Bảo vệ và lợi dụng các loài côn trùng bắt mồi ăn thịt trong tự nhiên như bọ rùa, bọ cánh gân, bọ xít đỏ, ... để kiểm soát rệp sáp bột hồng.

- Đánh giá, chọn những giống sắn kháng hoặc chống chịu rệp sáp bột hồng, đảm bảo năng suất và chất lượng để đưa vào trồng thay thế các giống sắn nhiễm.

3. Biện pháp hóa học

- Trước khi trồng phải xử lý hom giống bằng cách ngâm trong dung dịch nước thuốc 30 phút trước khi trồng. Sử dụng các thuốc trừ sâu có hoạt chất Thiamethoxam, Imidacloprid (pha 4 gram thuốc trong 20 lít nước) hoặc Dinotefuran (pha 40 gram trong 20 lít nước).

- Khi phát hiện rệp sáp bột hồng hại sắn trên đồng ruộng trong điều kiện thời tiết khô, nắng nóng, mật số thiên địch trên đồng ruộng thấp thì phải tổ chức phun trừ rệp sáp bột hồng trên diện tích sắn bị nhiễm và diện tích liền kề bao quanh trong phạm vi tối thiểu 30 mét bằng các thuốc trừ sâu gốc Thiamethoxam hàm lượng hoạt chất 350 g/l dạng thành phẩm SC; gốc Imidacloprid hàm lượng hoạt chất 25% W/W, dạng thành phẩm WP; gốc Nitenpiram hàm lượng hoạt chất 50% W/W, dạng thành phẩm WP; gốc Dinotefuran hàm lượng hoạt chất 20% W/W, dạng thành phẩm WP. Sử dụng theo nồng độ khuyến cáo và phun với lượng dung dịch nước thuốc đã pha là 600 lít/ha; Có thể phối hợp với dầu khoáng để tăng hiệu quả của thuốc; Phun thuốc hóa học phải theo nguyên tắc 4 đúng và đảm bảo thời gian cách ly theo khuyến cáo trên bao bì.

  Cục Bảo vệ thực vật