Friday, April 25, 2014

Muỗi hành gây hại và phòng trừ

Cần phát hiện sớm để phòng trị kịp thời. Nếu lúa qua giai đoạn đẻ nhánh tối đa (30 – 35 ngày sau sạ), việc phun, rải thuốc sẽ tốn kém vô ích. 


Muỗi hành gây hại ở nhiều nước trồng lúa châu Á. Thất thoát năng suất do muỗi hành có thể đến 50%. Tác nhân: Muỗi hành có tên khoa học là Orselia oryzae, bộ Diptera, họ Cecidomyiidae.

Cách gây hại và triệu chứng

Muỗi hành di chuyển lên phần giữa của bẹ và thân, rồi xâm nhập vào đỉnh sinh trưởng, tại đây sâu cắn phá gây hại và thải ra chất độc có trong nước miếng làm gốc bẹ lúa phồng to, bên trong rỗng, sau đó đọt lúa phát triển bất thường thành ống như lá hành có màu trắng nhạt, rộng khoảng 1 cm, dài 10 - 30 cm, đầu ống hành được bịt kín do mô lá tạo thành. Ống hành xuất hiện khoảng một tuần sau khi muỗi xâm nhập.

Tép lúa bị hại không cho bông (gié) nhưng lúa có thể mọc chồi mới để bù lại. Triệu chứng lúa do muỗi hành hại giống như lúa bị hạn, bệnh do virus (bệnh vàng lùn, bệnh Tungro), sâu đục thân, ngộ độc thuốc trừ cỏ 2,4D. Muỗi hành chỉ gây hại từ giai đoạn mạ đến cuối đẻ nhánh, trước khi có đòng.

Đặc tính sinh học

- Trứng: Thon dài, mới đẻ có màu trắng, trước khi nở có màu vàng. Trứng được đẻ rải rác ở lá thìa, phiến hay bẹ lá, trừng được đẻ từng quả một hay đẻ thành từng nhóm 3 - 4 quả.

- Sâu non: Giống như dòi, mình dẹt, màu trắng sữa, dài 4 - 5 mm. Giai đoạn ấu trùng có 3 - 4 tuổi. Mỗi chồi chỉ có một sâu non và khi ống hành vươn dài ra thì cùng lúc sâu non hóa nhộng.

- Nhộng: Có màu hồng nhạt, trước khi vũ hóa, có màu đỏ, dài 2 - 4 mm, giai đoạn nhộng dài 3 - 5 ngày, cả sâu non và nhộng sống và gây hại trong ống hành. Nhộng có thể di chuyển lên xuống trong ống hành. Khi sắp vũ hóa, nhộng di chuyển lên ngọn ống hành, dùng gai bụng đục lỗ, chui nửa mình ra, lột vỏ nhộng để lại trên đầu ống hành để thành trùng (muỗi) bay thoát ra ngoài.

- Trưởng thành: Giống như muỗi nhà, sải cánh dài 3 - 5 mm, muỗi cái bụng màu đỏ nhạt, muỗi đực, nhỏ hơn muỗi cái, màu nâu vàng. Râu 10 đốt. Muỗi hoạt động (giao phối, đẻ trứng) mạnh về đêm, sức bay yếu nên tầm gây hại hạn chế trong khu vực giới hạn, bị dẫn dụ bởi ánh sáng. Con cái đẻ 100 - 200 trứng.

- Thiên địch: Muỗi hành có nhiều thiên địch ký sinh trứng, sâu non (Obtusiclava oryzae, Eurytoma setitibia…) và nhộng. Thường khi sâu non xuất hiện, thiên địch ký sinh tăng, do đó cần chú ý khi phun thuốc trừ sâu, có thể làm giảm mật số thiên địch ký sinh về sau.

- Ký chủ phụ: Lúa chét, cỏ Bắc ( Leersia), cỏ lồng vực, cỏ ống, cỏ lông tây.

Phòng trừ

- Vệ sinh đồng ruộng, diệt sạch cỏ dại, cỏ bờ.

- Bẫy đèn: Theo dõi muỗi hành để phòng trừ đúng lúc (phun thuốc ngay khi muỗi ra rộ).

- Không sạ cấy dầy. Bón đầy đủ, cân đối NPK, không bón thừa đạm giai đoạn đẻ nhánh.

- Bảo vệ thiên địch (ong ký sinh), không phun thuốc trừ sâu sớm.

- Thăm đồng thường xuyên, nếu có muỗi hành, có thể tháo nước phơi ruộng để hạn chế lây lan.

- Thuốc BVTV: Trường hợp ruộng thường xuyên bị muỗi hành gây hại, điều kiện thời tiết, canh tác thuận lợi cho muỗi phát sinh, gây hại, cần thường xuyên thăm đồng, có thể dùng bẫy đèn theo dõi, nếu muỗi nhiều, có thể phun ngay thuốc trừ muỗi: Sapen alpha 5EC, Sec Saigon 5,10 EC, Diaphos 50EC.

Nếu ruộng nhiều muỗi, ống hành xuất hiện rải rác, cần phun thuốc trừ muỗi ngay, kết hợp rải thuốc dạng hạt có tính lưu dẫn, thấm sâu như Gà nòi 4G, Diaphos 10H hay Sargent 6G.

Trường hợp ruộng bị hại nặng, việc phòng trị sẽ ít có hiệu quả, tuy nhiên để tránh thiệt hại đến năng suất và hạn chế lây lan qua vụ sau có thể kết hợp phun thuốc có tính thấm sâu, xông hơi như Diaphos 50EC, Sairifos 585 EC, kết hợp rải thuốc hạt (như trên).

Lưu ý: Cần phát hiện sớm để phòng trị kịp thời. Nếu lúa qua giai đoạn đẻ nhánh tối đa (30 – 35 ngày sau sạ), việc phun, rải thuốc sẽ tốn kém vô ích. Ruộng rải thuốc hạt, cần duy trì mực nước 3 - 5 cm, trong 3 - 5 ngày.

ThS Huỳnh Kim Ngọc/ nongnghiep.vn

Wednesday, April 23, 2014

Chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc hồ tiêu ngăn chặn bệnh chết nhanh chết chậm

Anh Trịnh Văn Ba ở khối 11, thị trấn Ea K’Nốp, huyện Ea Kar, sau thời gian khá dài vất vả tìm tòi đủ mọi cách để ngăn chặn bệnh chết nhanh chết chậm trên cây hồ tiêu. Có thể tự đánh giá mình đã có thành công nhất định, anh ghi lại những việc đã làm.


Người nào trồng tiêu cũng có nhiều nỗi lo, nhưng mối quan tâm lớn nhất là phòng và trị bệnh chết nhanh chết chậm trên cây hồ tiêu.

Anh Ba với gần 20 năm trồng tiêu và cũng đã trải qua đại nạn bệnh chết nhanh chết chậm chia sẻ kinh nghiệm mình tích lũy được về phòng bệnh chết nhanh chết chậm cho cây hồ tiêu ở vườn nhà. Căn bản có mấy điểm chính sau đây :

1. Vườn tiêu có hệ thống thoát nước nhanh

Theo tôi, việc thoát nước nhanh quyết định tới 90% thành công của việc trồng và chăm sóc tiêu.

– Mỗi hàng tiêu là 1 luống, mỗi luống cần có 1 rãnh thoát nước.

– Bồn tiêu phải làm nổi, nội trong tháng 8 âm lịch phải vun, lấp lại cao hơn mặt luống. Biện pháp thoát nước nhanh cho vườn tiêu là điều cốt yếu, để đảm bảo an toàn cho tiêu trong thời gian mưa dầm, các vấn đề khác chỉ là thứ yếu. Tuyệt đối không để gốc tiêm âm trong mùa mưa.

2. Sử dụng nấm Tricho…

– Mỗi năm bổ sung 3 lần, lần thứ nhất vào đầu mùa mưa, lần thứ 2 vào trung tuần tháng 8 âm lịch, lần thứ 3 vào cuối mùa mưa.

– Tạo môi trường cho Tricho.. định cư lâu dài, bằng cách không cắt cao tán tiêu mà để chùm kín gốc trụ (nơi trú ngụ của tricho..) không quét dọn hoặc đốt lá tiêu rụng mà vun vào gốc hoặc trên mặt luống (làm thức ăn cho tricho..) không dùng các loại thuốc trị nấm bệnh (nếu dùng tricho.. sẽ bị tiêu diệt), giữ đều độ ẩm trong vườn cho tricho.. sống và phát triển.

3. Sử dụng các loại thuốc sâu rầy

– Sau khi thu hoạch xong, dùng Agri-fos 400 (tăng khả năng kháng nấm bệnh) và Amitage (lưu dẫn tiếp xúc) để trừ tuyến trùng và các loại rầy rệp, sâu bọ khác, pha riêng xịt chung.

– Khi làm rãnh xung quanh tán lá để bón các loại phân, cũng dùng loại 2 loại trên xịt kĩ gốc rãnh và cành lá trên trụ, phơi rãnh ít nhất từ 10 – 20 ngày mới được bón phân và lấp rãnh.

– Cuối tháng 8 đầu tháng 9 âm lịch cũng dùng 2 loại thước này xịt 1 lần nữa. Từ trung tuần tháng 9 và tháng 10 âm lịch thời điểm mưa dầm, mưa nhiều nhất, phải thường xuyên kiểm tra, khi phát hiện có mùi thối của rễ cây thì phải sử dụng ngay 2 loại thuốc trên + thuốc giâm chiết cành tưới gốc đồng thời xịt lên lá, cành 7 ngày/1 lần, làm 2 đến 3 lần.

4. Bón phân

– Không bón lượng phân hóa học nhiều trong 1 lần.

– Không bón khi rãnh quanh tán lá mới cuốc xong.

– không bón phân ở thời gian mưa dầm trong năm.

– Không bón bất cứ loại phân nào khi tiêu đang có hiện tượng nhiễm bệnh.

– Trung tuần tháng 8 âm lịch bón tăng tỷ lệ P và K.

– Không dùng dao, kéo, cuốc và dụng cụ kim loại trong vườn vào thời gian có mưa dầm, ngoại trừ trường hợp vét rãnh thoát nước.

Trịnh Văn Ba, khối 11, TT Ea K’Nốp, Ea Kar

Theo giatieu.com

Monday, April 21, 2014

Cách ủ phân chuồng

Phân chuồng, đặc biệt là phân gà thì ủ như thế nào cho mau hoai mục, hiệu quả cao? Quốc Danh (Châu Thành - Trà Vinh)

Để thúc đẩy cho phân chuồng hoai mục nhanh và không bị mất nhiều đạm, nên trộn vào phân một lượng vôi ta khoảng 1- 1,5% và khoảng 2% lân supe. Đồng thời, cần phủ lên đống phân một lớp bùn dày 2- 3cm để đạm bay hơi sẽ tích tụ vào bùn. Tuyệt đối không được dùng ny lông che phủ hoặc đựng trong bao để ngoài tự nhiên, phân sẽ giảm hiệu quả.

Ảnh minh họa


Đặc biệt, đối với phân gà là nguồn phân giàu đạm nhất trong các loại phân chuồng (lượng đạm nguyên chất chiếm 1,63%). Do đó, muốn giữ được lượng đạm, nông dân cần mua phân ngay sau khi chủ hộ chăn nuôi vừa quét dọn chuồng. Không nên mua phân để lâu ngày.

Thời gian ủ nếu không sử dụng men, tối thiểu phải từ 2- 2,5 tháng phân mới có thể hoai mục và sử dụng được.

Bạn nhà nông/ Báo Vĩnh Long

Thử nghiệm giải pháp mới phòng trị tôm bệnh EMS

Kết quả thử nghiệm cho thấy giải pháp mới mở ra nhiều hy vọng trong phòng trị EMS.

Công ty Công nghệ sinh học thế hệ mới (NG.BIOTECH) và Trung tâm Ứng dụng & Thử nghiệm sản phẩm đặt tại ấp Tân Thời, xã Lạc Hòa, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cho biết: Từ năm 2013 tại trang trại 10 ha của trung tâm bước đầu đã thử nghiệm thành công bộ 3 sản phẩm mới: BioNutri, BioPond, BioGrow có khả điều trị và phòng ngừa hiệu quả bệnh hoại tử gan tụy cấp (hội chứng tôm chết sớm - EMS) trên tôm nuôi nước lợ.


Trong 2 năm trước đây, dịch bệnh tôm chết đã làm thiệt hại nặng nề cho người dân nuôi tôm ở ven biển ĐBSCL, trong đó có EMS gây ra bởi vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus, hiện chưa có thuốc đặc trị do vi khuẩn này có khả năng tạo một màng biofilm bảo vệ trước thuốc diệt khuẩn và kháng sinh. Do vậy vi khuẩn thường bùng phát trở lại rất nhanh sau khi thuốc hết tác dụng dẫn đến tôm chết nhanh hơn và thuốc ngày càng không có tác dụng.

Theo TS.BS thú y Nguyễn Minh - Giám đốc sản phẩm của NG.BIOTECH, bộ 3 sản phẩm trên của công ty thực chất là giải pháp dùng thiên địch để khống chế vi khuẩn gây bệnh EMS bằng cách sử dụng một dòng vi khuẩn độc quyền được nghiên cứu, phân lập bởi trường Royal Holloway (Đại học Luân Đôn - Vương quốc Anh). Dòng vi khuẩn này có khả năng ức chế và kiểm soát không cho Vibrio parahaemolyticus (tác nhân chính gây EMS-PV) hoạt động và phát triển trong môi trường nước cũng như trong cơ thể tôm nuôi.

Quá trình thử nghiệm trong 2 vụ nuôi vừa qua, tất cả các ao nuôi tại trại thực nghiệm thuộc Trung tâm Ứng dụng & Thử nghiệm sản phẩm của NG.BIOTECH ở xã Lạc Hòa đều không bị thiệt hại do EMS. Cùng tham gia trong đợt thử nghiệm trên còn có hai nông dân Dương Văn Lực và Châu Văn Voi, ở ấp Tân Thời, xã Lạc Hòa thực hiện, xác nhận đều thành công.

Ông Dương Văn Lực cho biết: "Năm 2013, vụ đầu tôi nuôi 6 ao, vụ thứ hai nuôi 2 ao đều rất thành công, đạt lợi nhuận 1,3 tỷ đồng. Theo dõi thử nghiệm sản phẩm của NG.BIOTECH tôi thấy đường ruột của tôm rất tốt, màu nước trong ao đẹp, ít tốn thức ăn, tỷ lệ hao hụt đầu con ít và tôm lớn nhanh, nên chỉ sau 3 tháng đã đạt kích cỡ 40-50 con/kg. Hiện nay tôi vẫn làm theo quy trình trên, tôm nuôi đã trên 40 ngày tuổi và phát triển tốt".

Đây là kết quả thử nghiệm bước đầu nhưng cho thấy giải pháp mới mở ra nhiều hy vọng trong phòng trị EMS.

Ông Lưu Tiến Đạt, Giám đốc Trung tâm Ứng dụng và thử nghiệm sản phẩm NG.BIOTECH CORP cho biết: Bộ 3 sản phẩm trên có thể xử lý ao tôm đã bị nhiễm EMS nặng, tôm chết nhiều hoặc những ao tôm mới bị hoặc phòng ngừa ngay từ đầu vụ nuôi. Theo kế hoạch của NG.BIOTECH từ ngày 20/4/2014 sẽ tiếp tục thử nghiệm bộ 3 sản phẩm tại 3 tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Nếu người nuôi tôm có ao bị nhiễm EMS có thể liên hệ với trung tâm để được hỗ trợ sản phẩm miễn phí trong giai đoạn thử nghiệm. Dự kiến vào tháng 7/2014, khi các sản phẩm sử dụng có hiệu quả và an toàn sẽ được công bố trên thị trường.

Hữu Đức/ nongnghiep.vn

Wednesday, April 16, 2014

Tưới nước ít hơn vẫn bảo đảm năng suất cà phê

Tưới nước ít hơn vẫn bảo đảm năng suất, thông tin này được giới khoa học đưa ra thời gian gần đây đã thu hút sự quan tâm của nông dân làm cà phê. Điều đó càng đặc biệt có ý nghĩa khi tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đang hiện hữu, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, trong đó có sự sụt giảm mực nước ngầm phục vụ tưới tiêu cho cây trồng…

Đăk Lăk là tỉnh đóng góp khoảng 40% sản lượng cà phê của Việt Nam. Để việc canh tác cà phê đem lại hiệu quả kinh tế cao, việc bảo đảm đủ nước tưới trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 4 là cực kỳ cần thiết. Trước đây nông dân thường tưới nhiều gấp đôi lượng nước được khuyến cáo. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, không phải tưới nhiều nước là đem lại hiệu quả kinh tế. Bởi cùng với vấn đềtưới nước còn bao gồm nhiều chi phí khác như nhân công, nhiên liệu và thiết bị, chiếm khoảng 15-20% tổng chi phí sản xuất cà phê. Tính theo phương pháp của Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc, tổng lượng nước cần thiết cho sản xuất cà phê hằng năm là 1.388 mm, trong đó các tháng mùa khô từ tháng 1 đến tháng 4 cần 529 mm nước. Trong khi đó lượng mưa trong giai đoạn này chỉ đạt 113 mm. Thêm nữa với khoảng 57% tổng lượng nước tưới được lấy từ nước ngầm và 95% lượng nước này được dùng để tưới cà phê thì đây thực sự là một thách thức khi vấn đề cạn kiệt nguồn nước ngầm ngày càng trầm trọng.

Hiện nông dân vẫn sử dụng lượng nước tưới nhiều hơn khuyến cáo, trong khi theo các chuyên gia tưới nước ít hơn vẫn có thể bảo đảm năng suất cho cà phê.

Các thử nghiệm thực tế trong những điều kiện thích hợp đã chứng minh rằng: tưới nước ít hơn 40% so với lượng nước được khuyến cáo sẽ không làm giảm năng suất cà phê. Thậm chí mức độ ức chế về nước cao hơn vẫn đem lại hiệu quả bởi mức độ ức chế sẽ kích thích cho cây ra hoa và đậu quả. Và vấn đề là ở chỗ cần phải có lịch tưới tối ưu. Ví dụ với lượng mưa trung bình trong tháng 11, tháng 12 năm trước, chỉ cần khoảng 150 mm nước tưới cho cà phê trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 4 là đủ (tương đương 455 lít/cây/lần tưới x 3 lần). Nếu các tháng 11, tháng 12 năm trước có lượng mưa lớn, chỉ cần 80-120 mm nước tưới cho cà phê là đủ (tương đương 300 lít/cây/lần tưới x 3 lần). Một điều tra cho thấy hơn 50% nông dân tưới nhiều nước hơn lượng nước tối ưu nói trên, năng suất thu được lại thấp hơn, trung bình 2,4 tấn/ha, trong khi những nông dân tuân thủ cách tưới tối ưu vẫn đạt năng suất 3-4 tấn/ha.

Trước thực trạng sự sụt giảm tài nguyên nước đến mức báo động, cùng với việc thực hiện đồng bộ các biện pháp khác như kiên cố hóa kênh mương, khuyến khích trồng cây che bóng, đai rừng chắn gió, tăng cường lượng phân bón hữu cơ…, việc nâng cao nhận thức của nông dân về sử dụng nước bền vững trong sản xuất cà phê là điều cần thiết. Theo như khuyến cáo của các chuyên gia, với khoảng 400 lít/cây/đợt tưới là đủ để đạt hiệu quả kinh tế và năng suất lên tới 4 tấn/ha. Bên cạnh đó, cần thiết kế một chương trình tập huấn chuẩn và bồi dưỡng năng lực cho nông dân trồng cà phê về quản lý nước bền vững.

 Đàm Thuần/ Báo Đăk Lăk

Thursday, April 10, 2014

Bón phân cây mía sao cho hợp lý?

Năng suất mía bình quân của nước ta chỉ trên dưới 60 tấn/ha. Những vùng trồng mía có độ dốc hơi cao khiến độ phì nhiêu thấp, trong lúc đó phân bón chưa đáp ứng được yêu cầu của từng loại giống khiến năng suất thấp, kéo theo năng suất bình quân mía cả nước xuống.

Ảnh minh họa

ĐBSCL đã có nhiều câu lạc bộ 200 tấn mía/ha, nhưng năng suất và chữ đường cũng chưa phải là cao. Chính vì thế, làm gì để cây mía cho năng suất và chữ đường cao thì yếu tố bón phân hợp lý, đúng phân chuyên dùng là một yếu tố quan trọng…

Bón phân hợp lý

Mía thuộc họ hòa thảo (Poaceae), tông Andopogoneae gồm các loài: Saccharum barbari (mía); Saccharum bengalense (mía Bengal); Saccharum edule (mía); Saccharum officinarum (trồng ở VN); và Saccharum sinense (mía lau).

Mía thuộc nhóm lau sậy, nhưng thân to, chứa nhiều đường. Các nhà khoa học đã phân loại mía thuộc loại cây có hoạt động quang hợp theo thực vật C4. Nghĩa là sản phẩm quang hợp đầu tiên là hợp chất hữu cơ có 4 gốc các bon.

Ưu thế của nhóm thực vật C4 là có cường độ quang hợp cao, nhiệt độ tối đa cho quang hợp cũng cao hơn nhóm C3 và điểm bù ánh sáng thấp hơn nhóm C3. Vì lẽ đó mà cây mía có khả năng hoạt động quang hợp trong khoảng nhiệt cũng như ánh sáng khá rộng.

Vì vậy, mía cho năng suất sinh học cũng như năng suất kinh tế thường cao hơn cây lúa (cùng họ Poaceae). Kèm theo đó, cây mía cũng cần được cung cấp đầy đủ với số lượng dinh dưỡng nhiều hơn cây lúa.

Một đặc điểm khác là cây mía sống ở trên cạn, có bộ rễ phát triển khỏe, khả năng phá vỡ các tầng đất cứng, để ăn sâu xuống các tầng đất sâu hơn cây lúa nên khả năng len lỏi, tìm kiếm dinh dưỡng tốt hơn cây lúa. Cùng với bộ rễ khá nhiều nên sau khi trồng, nếu hàng năm trả lại được bộ lá cho đất thì mía có khả năng cải tạo tầng đất canh tác khá tốt.

Sản phẩm người ta cần ở cây mía là lượng đường chứa trong cây. Lượng đường và chất lượng đường phụ thuộc rất nhiều vào số lượng và tỷ lệ các chất dinh dưỡng cung cấp cho mía. Trong đó kali và Ca có ảnh hưởng lớn đến hàm lượng và chất lượng đường. Mía có thể trồng được trên rất nhiều loại đất kể cả trên đất phèn thoát nước tốt.

Nhưng do tính chất đất khác nhau, khả năng chứa các thành phần dinh dưỡng khác nhau nên việc cung cấp dinh dưỡng cho mía ở các loại đất khác nhau cũng rất khác nhau. Phân tích cây mía khi thu hoạch cho thấy, ruộng mía có năng suất 100 tấn mía cây, cây lấy đi hết 142 - 200 kgN, 42 -85 kg P205, 314 - 425 kg K20, 40 kg Ca0, 47 kg Mg0, 25 kg S, 400 kg Silic, 6 kg Na, 2 - 3 kg Fe, 1 kg Mn, 0,11 - 0,05 kg Cu, 0,02 - 0,05 kg Zn, 0,1 - 0,2 kg B và 0,001 kg B.

Số lượng dinh dưỡng trên tương đương với 310 - 435 kg ure, 262 - 531 kg super lân và 523 - 710 kg phân KCL. Đấy là tính lượng phân cây mía cần. Nhưng do hiệu suất sử dụng phân cuả các chất này khác nhau, nên số phân bón vào không phải như vậy, nhất là phân lân. Thường hiệu suất sử dụng lân chỉ dao động trong phạm vi 15 - 25% tính chung cho các loại đất.

Trong số P cây mía hút ở trên là 42 - 85 kg P205 (262 - 531 kg super lân). Nếu lấy hiệu suất sử dụng P là 25%, thì số P do ta bón vào ở trường hợp này đóng góp được 10,5 - 21,25 kg P205, phần còn lại cây lấy từ đất. Tuy nhiên, lượng phân P ta cần bón vào phải tương đương với 262 - 531 kg super lân (bón gấp 4 phần cây mới lấy đi có 1 phần).

Còn đạm và kali do có hiệu suất sử dụng cao hơn lân, hiệu suất sử dụng của N khoảng 35 - 40%, của kali khoảng 40 - 50%. Nhưng khi bón phân cho mía thì tùy thuộc hàm lượng dinh dưỡng của các chủng loại phân khác nhau nên số lượng phân bón vào cũng khác nhau.

Dùng phân chuyên dụng

Trường hợp nói trên thì phân đạm bón cho mía trung bình cũng khoảng 400 - 427 kg ure và khoảng 200 - 250 kg phân kali. Phần dinh dưỡng còn lại rễ cây tận dụng từ các lớp đất khác nhau. Nếu khi dùng P trong DAP thì do hàm lượng P cao nên số lượng phân bón vào ít hơn so với khi dùng super lân và ta cũng sẽ giảm số lượng phân ure xuống cho phù hợp.

Cách bón người ta bón lót toàn bộ lân lúc trồng (nếu dùng super lân) và một phần ít phân đạm, 1/4 kali. Số phân đạm còn lại chia ra bón thúc 2 lần vào lúc 4 - 5 lá và lúc mía vươn dóng (7 - 8 lá), phân kali bón 1/3 lúc đẻ nhánh còn lại 2/3 bón vào lúc vươn dóng.

Cty CP Phân bón Bình Điền có loại phân chuyên dùng bón cho mía là Đầu Trâu - TE Mía-1 (20-10-15-TE) và Đầu trâu - TE Mía 2 (15-7-20+TE). Sử dụng phân Đầu trâu TE - Mía 1 bón lót và thúc đẻ nhánh, và Đầu trâu - TE Mía 2 để thúc lúc vươn dóng, tuân theo lượng bón được khuyến cáo rõ trên bao bì.

Bên cạnh 2 chủng loại phân này bà con có thể tìm mua phân Đầu trâu đẻ nhánh (19-12-6-TE) và Đầu trâu vươn dóng (16-6-19+TE). Liều lượng cũng được ghi rõ trên bao bì. Bón 2 loại phân này sẽ tiện lợi, cân đối và tiết kiệm phân cũng như công bón, năng suất cao, chữ đường cũng cao.

Mía cần nền dinh dưỡng dồi dào và tỷ lệ dinh dưỡng hợp lý thì vừa có năng suất sinh vật cao, vừa có tỷ lệ đường cao. Hiện năng suất mía bình quân của nước ta chỉ khoảng 60 tấn/ha. Những vùng trồng mía trên đồi có độ dốc hơi cao, nhờ nước mưa mà độ phì thấp, trong khi phân bón chưa đáp ứng được yêu cầu của từng loại giống nên năng suất thấp.

ĐBSCL đã có nhiều câu lạc bộ 200 tấn mía/ha, điển hình có nông dân đạt được 268 tấn mía cây/ha. Tuy nhiên năng suất chữ đường cũng chưa thật cao và phải thu hoạch trong tháng 9 dương lịch, mía chưa đến thời kỳ đạt đủ độ chín.

Để phá vỡ thế khó khăn của ngành mía đường hiện nay, một mặt cần ngăn chặn tình trạng nhập đường qua lối tiểu ngạch; mặt khác tích cực hơn thì ngành mía đường cần đầu tư đúng vùng nguyên liệu nhằm đưa năng suất mía cao hơn (80 - 100 tấn/ha), hạ giá thành SX sẽ là phương pháp cơ bản.

GS.TS Mai Văn Quyền/ nongnghiep.vn

Tuesday, April 8, 2014

Bón vôi cải tạo ao nuôi

Sau khi dọn sạch chất thải dưới đáy ao thả cá nuôi, bón vôi nhiều để cải tạo có tốt không? Nhờ Bạn Nhà nông hướng dẫn. Tư Thiên (Hòa Hiệp - Tam Bình - Vĩnh Long)

Ảnh minh họa

Bón vôi nhiều trong quá trình cải tạo ao sẽ làm giảm tác dụng của Chlorin khi khử trùng nước ao hoặc làm tăng độ độc của sản phẩm, gây hiện tượng pH cao kéo dài rất khó điều chỉnh trong quá trình nuôi.

Vì vậy, đối với ao nuôi mới thường bón vôi bột CaCO3 hay vôi tôi Ca(OH)2 liều lượng 7- 10kg/100m2 ao, với những ao có nhiều phèn có thể bón từ 10- 20 kg/100m2ao.

Đối với ao cũ, trước khi thả cá 7- 10 ngày, ao phải được tháo cạn nước, dọn sạch, nạo vét bùn đáy mới bón vôi liều lượng tương đương ao mới. Sau bón vôi, tiến hành phơi đáy ao từ 2- 3 ngày, cho nước vào thả cá nuôi.

Lưu ý, với những ao nuôi nằm ở vùng phèn thì không nên phơi ao. Nên bón vôi vào buổi trưa nắng để tăng hiệu quả của vôi. Vào mùa mưa nên bón vôi cả trên bờ để tránh phèn bị rửa trôi xuống ao.

Theo Báo Vĩnh Long