Showing posts with label Cây mía. Show all posts
Showing posts with label Cây mía. Show all posts

Wednesday, November 5, 2014

Nhận diện loài sâu đục thân hại mía mới

Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NNPTNT) cho biết đã xác định được loài sâu đục thân hại mía mới xuất hiện tại Tây Ninh trong thời gian gần đây, đó là loài sâu đục thân có tên khoa học Chilo tumidicostalis Hampson, thuộc họ phụ Crambidae, bộ Lepidoptera. Tên Việt Nam là sâu đục thân 4 vạch đầu nâu.


Loài sâu này mới xuất hiện ở nước ta nhưng là loài đã gây hại khá phổ biến ở Thái Lan, Myanmar, Bangladesh, Ấn Độ...

Bà con nông dân có thể nhận diện triệu chứng gây hại của loài sâu này khi phân sâu non hiện diện nhiều trên thân cây mía, giống như mạt cưa gần các lỗ đục, gặp ẩm độ cao sẽ đóng thành từng cục và hóa đen rất dễ quan sát.

Trong trường hợp gây hại nghiêm trọng, sâu non đục xuyên qua nhiều lóng, toàn bộ phần mô bên trong vỏ thân mía bị ăn ở dạng vòng nhẫn, do đó phần thân trên vòng đục dễ bị gãy gập khi gió tác động.

Do có nhiều cá thể sâu non gây hại trong một thân cây mía nên chúng thường đục từ 6 - 10 lỗ đục nhỏ (lỗ vũ hóa) trên 1 lóng cây mía, tạo điều kiện cho ngài thoát ra và bay đi phát tán. Sâu non có đầu màu nâu vàng đến sẫm, các chấm trên cơ thể to, màu xám mờ.

Chúng thường theo nhau bò xuống bẹ lá và tập trung đục vào trong lóng mía của chính lá đó để gây hại (khác với loài 4 vạch cũ thường đục ăn nhu mô lá non, để lại triệu chứng lá lốm đốm trắng rất điển hình).

Sâu non có tính gây hại tập thể, nhiều con cùng gây hại trên 1 cây, chúng ăn hết phần thịt lóng, chỉ chừa lại phần vỏ thân và trong vòng 2 – 3 tuần, sâu làm cho cây bị chết khô rất nhanh, sau đó bị gãy, đổ và chết rụi. Theo báo cáo của Sở NNPTNT Tây Ninh, hiện đã có gần 1.700/20.984ha mía nguyên liệu vụ 2014 - 2015 của tỉnh bị nhiễm sâu đục thân (chủ yếu là loài sâu đục thân mía 4 vạch mới).

Đối với các lô ruộng bị hại nặng với tỷ lệ lóng bị hại trên 10% và sâu đã phát tán đều trên khắp lô ruộng, bà con cần sử dụng các loại thuốc trừ sâu có chứa hoạt chất Deltamethrin, Cypermethrin hoặc Chlorantraniliprole để phun vào sáng sớm hoặc chiều mát, phun tập trung vào từng ổ dịch sâu (cây mía bị chết khô ngọn, cây có nhiều lỗ sâu đục).

Minh Huệ (Dân Việt)

Thursday, May 15, 2014

Mía cần kali, cẩn trọng đạm

Mía đang được trồng nhiều ở ĐBSCL, là nguyên liệu quan trọng của ngành công nghiệp chế biến đường, rất cần trong đời sống hàng ngày. Có thể trồng mía trên nhiều loại đất khác nhau từ đất pha cát, đất xám đến đất sét nặng.

Chuẩn bị đất: Cày sâu 20 - 30cm, cày 2 lần vuông góc nhau, sau mỗi lần cày là 1 lần bừa để cho đất nhỏ. ĐBSCL đất trồng mía là đất phù sa bồi tụ, độ phì nhiêu khá cao nhưng bị ảnh hưởng chua phèn và do đất thấp nên phải lên liếp cao 40 - 50cm, rộng 6 - 7m, chiều dài theo ruộng. 

Chú ý không đưa tầng sinh phèn, đất có màu vàng lên mặt ruộng vì có nhiều ion sắt, nhôm, lưu huỳnh… gây độc hại cho mía. Đất mới khai hoang lên liếp không trồng mía ngay mà phải rửa phèn ít nhất qua một mùa mưa. Cũng có thể trồng cây họ đậu 1 - 2 vụ rồi trồng mía là tốt nhất. Mặt liếp cuốc hoặc cày sâu 15 - 20cm, làm tơi xốp và san phẳng, giữa liếp cao hơn hai bên để dễ thoát nước. Trước khi trồng rạch hàng thẳng, sâu 15 - 20cm, hàng cách nhau 0,8 - 1m, rồi đặt hom trồng.

Cây mía (Ảnh minh hoạ, nguồn internet)

Bốn tháng đầu khi mới trồng mía tơ hoặc để mía gốc giữa 2 hàng còn trống vì vậy nên trồng xen đậu phộng, nành hoặc đậu xanh vừa tăng thu nhập vừa nâng cao năng suất mía. Ngoài ra cũng nên trồng luân canh 6 vụ trồng mía có 1 vụ trồng lúa, màu hoặc họ đậu,… để cải tạo, bồi dưỡng lại đất và diệt sâu bệnh.

Khi bón phân, chú ý phân kali rất quan trọng, cần cho việc tích lũy đường. Kali cần cho cả mía tơ và mía gốc vì nó giữ vai trò kích hoạt hiệu quả sử dụng các loại phân bón khác, cây phát triển đạt năng suất, chống đổ ngã, sâu bệnh và các bất lợi… Nếu bón quá nhiều đạm, không cân đối kali, cây mía sẽ xanh tốt, năng suất thân cao, nhưng có giá trị thu nhập thấp vì ít chữ đường, ảnh hưởng trong chế biến công nghiệp đường. 

Lượng phân bón/ha: Phân urê: 250 - 300kg, super lân: 250 – 300kg, KCl: 200 – 240kg, phân chuồng: 10 - 15 tấn. Cách bón: Bón lót toàn bộ phân chuồng, 1/3 lân, 1/3 đạm và ½ kali. Bón thúc lần 1 khi mía kết thúc nảy mầm (có 4 - 5 lá) 1/3 lượng đạm. Bón thúc lần 2 khi mía kết thúc đẻ nhánh (9 - 10 lá) 1/3 lượng đạm và ½ lượng kali còn lại. Bón vá áo khi mía có lóng, nếu thấy mía xấu bón thêm 50 – 100kg urê/ha. Áp dụng máy bón phân khi có điều kiện. Lưu ý, nếu đất chua, pH = 4 - 4,5, nên bón 1.000kg vôi sau khi cày lần cuối trước. 

TS Nguyễn Công Thành (Dân Việt)

Thursday, April 10, 2014

Bón phân cây mía sao cho hợp lý?

Năng suất mía bình quân của nước ta chỉ trên dưới 60 tấn/ha. Những vùng trồng mía có độ dốc hơi cao khiến độ phì nhiêu thấp, trong lúc đó phân bón chưa đáp ứng được yêu cầu của từng loại giống khiến năng suất thấp, kéo theo năng suất bình quân mía cả nước xuống.

Ảnh minh họa

ĐBSCL đã có nhiều câu lạc bộ 200 tấn mía/ha, nhưng năng suất và chữ đường cũng chưa phải là cao. Chính vì thế, làm gì để cây mía cho năng suất và chữ đường cao thì yếu tố bón phân hợp lý, đúng phân chuyên dùng là một yếu tố quan trọng…

Bón phân hợp lý

Mía thuộc họ hòa thảo (Poaceae), tông Andopogoneae gồm các loài: Saccharum barbari (mía); Saccharum bengalense (mía Bengal); Saccharum edule (mía); Saccharum officinarum (trồng ở VN); và Saccharum sinense (mía lau).

Mía thuộc nhóm lau sậy, nhưng thân to, chứa nhiều đường. Các nhà khoa học đã phân loại mía thuộc loại cây có hoạt động quang hợp theo thực vật C4. Nghĩa là sản phẩm quang hợp đầu tiên là hợp chất hữu cơ có 4 gốc các bon.

Ưu thế của nhóm thực vật C4 là có cường độ quang hợp cao, nhiệt độ tối đa cho quang hợp cũng cao hơn nhóm C3 và điểm bù ánh sáng thấp hơn nhóm C3. Vì lẽ đó mà cây mía có khả năng hoạt động quang hợp trong khoảng nhiệt cũng như ánh sáng khá rộng.

Vì vậy, mía cho năng suất sinh học cũng như năng suất kinh tế thường cao hơn cây lúa (cùng họ Poaceae). Kèm theo đó, cây mía cũng cần được cung cấp đầy đủ với số lượng dinh dưỡng nhiều hơn cây lúa.

Một đặc điểm khác là cây mía sống ở trên cạn, có bộ rễ phát triển khỏe, khả năng phá vỡ các tầng đất cứng, để ăn sâu xuống các tầng đất sâu hơn cây lúa nên khả năng len lỏi, tìm kiếm dinh dưỡng tốt hơn cây lúa. Cùng với bộ rễ khá nhiều nên sau khi trồng, nếu hàng năm trả lại được bộ lá cho đất thì mía có khả năng cải tạo tầng đất canh tác khá tốt.

Sản phẩm người ta cần ở cây mía là lượng đường chứa trong cây. Lượng đường và chất lượng đường phụ thuộc rất nhiều vào số lượng và tỷ lệ các chất dinh dưỡng cung cấp cho mía. Trong đó kali và Ca có ảnh hưởng lớn đến hàm lượng và chất lượng đường. Mía có thể trồng được trên rất nhiều loại đất kể cả trên đất phèn thoát nước tốt.

Nhưng do tính chất đất khác nhau, khả năng chứa các thành phần dinh dưỡng khác nhau nên việc cung cấp dinh dưỡng cho mía ở các loại đất khác nhau cũng rất khác nhau. Phân tích cây mía khi thu hoạch cho thấy, ruộng mía có năng suất 100 tấn mía cây, cây lấy đi hết 142 - 200 kgN, 42 -85 kg P205, 314 - 425 kg K20, 40 kg Ca0, 47 kg Mg0, 25 kg S, 400 kg Silic, 6 kg Na, 2 - 3 kg Fe, 1 kg Mn, 0,11 - 0,05 kg Cu, 0,02 - 0,05 kg Zn, 0,1 - 0,2 kg B và 0,001 kg B.

Số lượng dinh dưỡng trên tương đương với 310 - 435 kg ure, 262 - 531 kg super lân và 523 - 710 kg phân KCL. Đấy là tính lượng phân cây mía cần. Nhưng do hiệu suất sử dụng phân cuả các chất này khác nhau, nên số phân bón vào không phải như vậy, nhất là phân lân. Thường hiệu suất sử dụng lân chỉ dao động trong phạm vi 15 - 25% tính chung cho các loại đất.

Trong số P cây mía hút ở trên là 42 - 85 kg P205 (262 - 531 kg super lân). Nếu lấy hiệu suất sử dụng P là 25%, thì số P do ta bón vào ở trường hợp này đóng góp được 10,5 - 21,25 kg P205, phần còn lại cây lấy từ đất. Tuy nhiên, lượng phân P ta cần bón vào phải tương đương với 262 - 531 kg super lân (bón gấp 4 phần cây mới lấy đi có 1 phần).

Còn đạm và kali do có hiệu suất sử dụng cao hơn lân, hiệu suất sử dụng của N khoảng 35 - 40%, của kali khoảng 40 - 50%. Nhưng khi bón phân cho mía thì tùy thuộc hàm lượng dinh dưỡng của các chủng loại phân khác nhau nên số lượng phân bón vào cũng khác nhau.

Dùng phân chuyên dụng

Trường hợp nói trên thì phân đạm bón cho mía trung bình cũng khoảng 400 - 427 kg ure và khoảng 200 - 250 kg phân kali. Phần dinh dưỡng còn lại rễ cây tận dụng từ các lớp đất khác nhau. Nếu khi dùng P trong DAP thì do hàm lượng P cao nên số lượng phân bón vào ít hơn so với khi dùng super lân và ta cũng sẽ giảm số lượng phân ure xuống cho phù hợp.

Cách bón người ta bón lót toàn bộ lân lúc trồng (nếu dùng super lân) và một phần ít phân đạm, 1/4 kali. Số phân đạm còn lại chia ra bón thúc 2 lần vào lúc 4 - 5 lá và lúc mía vươn dóng (7 - 8 lá), phân kali bón 1/3 lúc đẻ nhánh còn lại 2/3 bón vào lúc vươn dóng.

Cty CP Phân bón Bình Điền có loại phân chuyên dùng bón cho mía là Đầu Trâu - TE Mía-1 (20-10-15-TE) và Đầu trâu - TE Mía 2 (15-7-20+TE). Sử dụng phân Đầu trâu TE - Mía 1 bón lót và thúc đẻ nhánh, và Đầu trâu - TE Mía 2 để thúc lúc vươn dóng, tuân theo lượng bón được khuyến cáo rõ trên bao bì.

Bên cạnh 2 chủng loại phân này bà con có thể tìm mua phân Đầu trâu đẻ nhánh (19-12-6-TE) và Đầu trâu vươn dóng (16-6-19+TE). Liều lượng cũng được ghi rõ trên bao bì. Bón 2 loại phân này sẽ tiện lợi, cân đối và tiết kiệm phân cũng như công bón, năng suất cao, chữ đường cũng cao.

Mía cần nền dinh dưỡng dồi dào và tỷ lệ dinh dưỡng hợp lý thì vừa có năng suất sinh vật cao, vừa có tỷ lệ đường cao. Hiện năng suất mía bình quân của nước ta chỉ khoảng 60 tấn/ha. Những vùng trồng mía trên đồi có độ dốc hơi cao, nhờ nước mưa mà độ phì thấp, trong khi phân bón chưa đáp ứng được yêu cầu của từng loại giống nên năng suất thấp.

ĐBSCL đã có nhiều câu lạc bộ 200 tấn mía/ha, điển hình có nông dân đạt được 268 tấn mía cây/ha. Tuy nhiên năng suất chữ đường cũng chưa thật cao và phải thu hoạch trong tháng 9 dương lịch, mía chưa đến thời kỳ đạt đủ độ chín.

Để phá vỡ thế khó khăn của ngành mía đường hiện nay, một mặt cần ngăn chặn tình trạng nhập đường qua lối tiểu ngạch; mặt khác tích cực hơn thì ngành mía đường cần đầu tư đúng vùng nguyên liệu nhằm đưa năng suất mía cao hơn (80 - 100 tấn/ha), hạ giá thành SX sẽ là phương pháp cơ bản.

GS.TS Mai Văn Quyền/ nongnghiep.vn

Tuesday, February 18, 2014

Bệnh trắng lá mía và biện pháp quản lý

Bệnh trắng lá mía do dịch khuẩn bào (phytoplasma) gây ra được phát hiện lần đầu tiên ở Đài Loan năm 1958, ở Ấn Độ và Thái Lan năm 1964. Hiện bệnh này chủ yếu thấy xuất hiện ở các nước châu Á như Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Sri Lanka, Campuchia, Lào và Việt Nam. Đây là một bệnh nguy hiểm gây thiệt hại nặng cho SX mía nguyên liệu.

Ở Việt Nam, bệnh trắng lá mía thấy xuất hiện đầu tiên ở các tỉnh phía Nam (Đồng Nai, Bình Thuận,…) vào năm 1996, cùng với trào lưu du nhập, phát triển ồ ạt của các giống mía ROC từ Đài Loan. Diện tích mía bị bệnh trắng lá gây hại ở tỉnh Đồng Nai và các khu vực lân cận năm 1997 lên tới 2.000 ha. Giống bị hại nặng nhất ở thời điểm đó là ROC10.

Đến năm 1998, bằng phương pháp hiển vi điện tử, GS.TS Vũ Triệu Mân và CTV ở Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã phát hiện các tiểu thể phytoplasma trong kính hiển vi điện tử JEOL 1010 ở độ phóng đại 24.000 lần và 40.000 lần với kích thước các thể plasma tương tự ở Đài Loan.

Năm 2013, bằng kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase lồng (Nested-PCR), sử dụng cặp mồi chung P1/P7 và R16F2n/R16R2, TS. Trịnh Xuân Hoạt và CTV ở Viện Bảo vệ thực vật và Viện Nghiên cứu Mía đường đã xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh trắng lá mía ở phía Nam là do chủng phytoplasma thuộc nhóm phụ SCWL, nhóm 16SrXI. Chủng phytoplasma gây bệnh trắng lá mía có mức tương đồng 100% so với chủng phytoplasma gây bệnh trắng lá mía ở Thái Lan.

Tại thời điểm năm 1998, do không tìm thấy các loài côn trùng môi giới truyền bệnh như ở Đài Loan (loài rầy Matsumuratettix hiroglyphicus) nên các tác giả trên đã khẳng định là bệnh phytoplasma hại mía ở miền Nam chỉ truyền bệnh qua hom giống. Sau đó, căn bệnh này ít thấy xuất hiện trên diện rộng nữa (cùng với sự thoái trào của các giống ROC) nên phần nào đã bị lãng quên trong một thời gian dài.

Tuy nhiên, trong 2-3 năm gần đây, cùng với sự du nhập và trồng phổ biến các giống mía Thái Lan ở các tỉnh phía Nam, bệnh trắng lá mía đang xuất hiện trở lại với phạm vi rộng hơn, tốc độ lây lan nhanh hơn và có thể gây thiệt hại lớn hơn. Hiện nay có thể thấy bệnh xuất hiện ở hầu hết các vùng mía nguyên liệu, đặc biệt là các tỉnh Đông Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Chỉ tính riêng ở tỉnh Khánh Hòa đã có trên 1.160 ha mía bị nhiễm bệnh.

Bệnh trắng lá mía gây thiệt hại nặng cho Khánh Hòa

Sự xuất hiện trở lại của bệnh trắng lá mía ở các tỉnh phía Nam hiện nay cần được được các cơ quan chức năng, chuyên môn và doanh nghiệp mía đường quan tâm, chú ý nhiều hơn nữa so với giai đoạn trước đây, nhất là sau khi chúng ta đã được chứng kiến sự gây hại nặng nề của bệnh chồi cỏ xanh, một bệnh phytoplsma khác trên cây mía, ở tỉnh Nghệ An.

Mặc dù mới bắt đầu xuất hiện rải rác từ năm 2005 tại vùng nguyên liệu của Công ty Liên doanh Mía đường Nghệ An Tate & Lyle, nhưng đến năm 2010, bệnh chồi cỏ xanh đã lan rộng trên diện tích gần 10.000 ha, với tỷ lệ bụi bị bệnh trung bình khoảng 10%. Hầu hết các giống mía đang trồng tại Nghệ An đều bị bệnh, kể các giống mía My55-14 mà các tác giả của Thái Lan cho rằng có khả năng kháng bệnh chồi cỏ xanh. Thiệt hại do bệnh chời cỏ xanh gây ra cho ngành mía đường tỉnh Nghệ An là rất lớn, ước tính lên tới hàng trăm tỷ đồng.

Biện pháp quản lý

Cũng như các bệnh khác phytoplasma trên cây mía nói riêng, cây trồng nói chung (bệnh chổi rồng trên cây sắn,…), bệnh trắng lá mía rất khó kiểm soát và quản lý. Các biện pháp phòng trừ bệnh như xử lý hom bằng nước nóng (50obiện pháp hóa học (xử lý hom bằng thuốc kháng sinh tetracyline HCl hoặc ledermycin với nồng độ 500 ppm), biện pháp thủ công cơ giới (cắt, đào bỏ cây bệnh), cũng như biện pháp phòng trừ côn trùng môi giới (vector) truyền bệnh đều đã được nghiên cứu, thử nghiệm nhưng cũng đều cho thấy hiệu quả quản lý bệnh không cao (như biện pháp hóa học, thủ công cơ giới), rất khó thực hiện (phòng trừ côn trùng môi giới) và ít khả thi (xử lý hom bằng nước nóng). Trong khi đó, việc chọn tạo các giống mía kháng bệnh cũng chưa đem lại kết quả nào đáng kể. C trong 2 giờ, 54oC trong 30 phút) hoặc bằng hơi nước nóng 54oC trong 2,5 giờ),

Để quản lý được bệnh trắng lá mía, tạm thời trước mắt chúng ta có thể áp dụng đơn lẻ hoặc kết hợp các biện pháp sau:

1. Mỗi đơn vị SX mía nguyên liệu cần thiết lập một hệ thống SX, nhân giống mía sạch bệnh 3 cấp (cơ bản, kiểm định và thương phẩm), có khả năng cung cấp đủ nhu cầu giống thương phẩm sạch bệnh để trồng mới hàng năm của đơn vị mình. Trong đó việc chẩn đoán sớm (nhanh nhạy và tốt nhất là bằng bộ kit chẩn đoán bệnh dựa trên kỹ thuật PCR) và loại trừ bệnh ở ngay giai đoạn sản xuất giống cơ bản là quan trọng nhất. Hiện nay Thái Lan cũng đang đi theo hướng này.

2. Trồng mía đúng thời vụ, tăng cường chăm sóc, tạo điều kiện tốt nhất cho cây mía sinh trưởng, phát triển, giúp nâng cao tính kháng bệnh của cây và hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra trên các lô ruộng đã bị nhiễm bệnh (nhưng với tỷ lệ bệnh còn thấp hoặc rất thấp).

Trong đó cần chú trọng nhất đến khâu tưới nước bổ sung trong mùa khô, lúc hạn hán và bón phân cân đối, hợp lý theo nhu cầu của cây mía. Biện pháp này tuy rất cũ, đơn giản nhưng lại là biện pháp có tính khả thi nhất và đang được áp dụng rộng rãi ở khắp các vùng mía ở Thái Lan, bởi với tính chất gây hại và đặc điểm của bệnh như đã nêu ở trên, chắc chắn chúng ta không thể loại trừ được hoàn toàn bệnh trắng lá trong SX mà buộc phải tìm cách “chung sống hòa bình” với nó.

Qua tổng kết thực tiễn kết quả quản lý bệnh trắng lá mía trong sản xuất đại trà ở Thái Lan cho thấy, chính nhờ áp dụng biện pháp này mà ngành mía đường Thái Lan tuy bị bệnh trắng lá mía gây hại từ khá lâu và khá phổ biến nhưng vẫn tăng trưởng đều, có hiệu quả sản xuất vẫn khá cao và ổn định.

3. Tăng cường tổ chức các lợp tập huấn cho nông dân trồng mía nhằm giải thích rõ tác hại của tập quán tự lấy hom từ ruộng mía thịt làm giống, nhất là những ruộng đã bị nhiễm bệnh trắng lá mía. Đồng thời ban hành quy định tất cả các ruộng trồng mới phải lấy giống từ các địa chỉ được chỉ định và khuyến cáo trong hệ thống nhân giống 3 cấp, nghiêm cấm nông dân tự lấy giống từ ruộng mía nguyên liệu.

4. Thường xuyên thăm đồng, phát hiện và phá hủy, không để lưu gốc toàn bộ những ruộng có tỷ lệ bụi bị hại > 20%.

Loài rầy môi giới truyền bệnh trắng lá mía chủ yếu ở Thái Lan

5. Kiểm soát không cho phép lấy hom giống từ vùng bị bệnh đưa sang các vùng khác chưa bị bệnh.

6. Tiến hành đánh giá khả năng kháng bệnh trắng lá mía đối với tất cả các giống mía mới lai tạo trong nước hoặc nhập nội từ nước ngoài trước khi phóng thích vào sản xuất đại trà.

7. Hạn chế tối đa việc nhập khẩu giống ồ ạt với khối lượng lớn từ nước ngoài, đặc biệt là từ Thái Lan mà không tuân thủ đúng các quy định về kiểm dịch đối với việc xuất nhập khẩu giống mía của Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc - FAO và Cơ quan Tài nguyên Di truyền thực vật Quốc tế - IBPGR (Technical guidelines for safe movement of sugarcane germplasm, 1993).

8. Trước mắt, khi chưa có kết luận cuối cùng về việc bệnh trắng lá mía có truyền qua con đường tiếp xúc hay không, cũng cần khuyến cáo nông dân nên khử trùng dao, dụng cụ canh tác mía bằng các hóa chất khử trùng như cồn, formatdehyd,... khi chuyển từ lô ruộng này sang lô ruộng khác để ngăn ngừa việc lây lan bệnh (nếu có), đặc biệt là khi thu hoạch mía giống.

9. Bộ NN-PTNT xem xét cấp kinh phí và giao trực tiếp cho Viện Bảo vệ thực vật và Viện Nghiên cứu Mía đường phối hợp thực hiện một đề tài nghiên cứu toàn diện về bệnh trắng lá mía ở Việt Nam, nhằm sớm tìm ra biện pháp quản lý bệnh một cách hữu hiệu nhất, giúp ngành mía đường có thể đối phó hiệu quả với căn bệnh nguy hiểm này trong thời gian tới.

TS Cao Anh Đương/ Báo Nông nghiệp Việt Nam

Wednesday, April 25, 2012

Phòng trừ sâu bệnh hại mía

Cây mía tuy dễ trồng nhưng nếu không chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh tốt sẽ cho năng suất, chất lượng không cao. Theo Trung tâm Khuyến nông Đồng Nai, để cây mía ít sâu bệnh cho năng suất cao, nông dân chú ý phòng các loại sâu bệnh.

Đồng Nai có gần 9 ngàn hécta mía, tập trung ở các địa phương Trảng Bom, Vĩnh Cửu, Nhơn Trạch và Định Quán. Hiện nay, cây mía đang mắc một số loại sâu bệnh như: sâu đục thân, đục ngọn, rệp sáp, bệnh than…

Sâu đục thân

Sâu đục thân mía có 2 loại là loại sâu đục thân chấm đen và sâu đục thân mình hồng.

Sâu đục thân chấm đen có màu vàng sáng, trên lưng mỗi đốt có 4 chấm đen. Đây là loại sâu đơn thực khi thành trùng là bướm màu vàng nâu, trên cánh có chấm đen, cánh dưới màu trắng. Loại sâu này đẻ trứng ở phiến dưới lá thành 2 hàng chồng lên nhau. Sau khi nở khoảng 2 tuần, sau chui xuống bẹ lá, cũng có khi làm nhộng trong cây mía. Loại sâu này thường gây hại ở đầu thời kỳ cây mía được 1-2 lóng. Cây mía bị sâu tấn công có thể bị héo ngọn, gãy ngang thân cây hoặc bị cằn cỗi không phát triển được. Khi ngọn mía bị gãy, các chồi sẽ lên nhiều và trở thành chồi vô hiệu, dẫn đến năng suất giảm.

Nông dân xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai đang chăm sóc mía.

Sâu đục thân mình hồng có đặc điểm 2 bên sườn xuống bụng màu trắng. Khi thành trùng thành loại bướm nhỏ màu xám, nâu, cánh có sọc đen, đầu to thô, rậm lông còn gọi là bướm cú mèo. Loại bướm này đẻ trứng thành hàng trong bẹ lá của chồi mía non. Sâu nở ra đục vào thân mía làm thành hang ngầm từ lóng này sang lóng khác, rồi đục lỗ chui ra ngoài làm nhộng ở bẹ lá. Một cây mía có thể có từ một đến nhiều sâu. Loại sâu mình hồng thường tấn công cây mía vào giai đoạn có 5-7 lóng trở lên. Tùy theo vị trí xâm nhập của sâu mà cây có thể bị héo lá, gãy ngang thân, cụt ngọn, đâm chồi nách… Hàng năm thiệt hại do sâu mình hồng với cây mía rất lớn, có vùng năng suất giảm từ 20-30%.

Phòng trừ sâu đục thân, đục ngọn mía là việc tương đối khó khăn không chỉ ở nước ta mà cả các quốc gia có nghề trồng mía phát triển. Để hạn chế sâu đục thân, đục ngọn, nông dân chọn giống kháng sâu đục thân mía. Chuẩn bị đất kỹ trước khi trồng, xung quanh ruộng trồng mía làm sạch cỏ dại, tàn dư thực vật, nếu phát hiện ổ trứng phải đem đi tiêu hủy tránh trứng nở thành sâu lây lan ra diện rộng. Sau khi trồng mía, bón phân đầy đủ, chăm sóc làm cỏ kịp thời. Những ruộng mía để lưu gốc vụ sau khi thu hoạch xong phải vệ sinh xử lý triệt để mầm mống sâu bệnh.

Trong thực tế, ít người dùng thuốc hóa học để phòng trừ sâu đục thân, đục ngọn, vì dùng không đúng sẽ có tác dụng ngược lại, không diệt được sâu bệnh lại gây hại cho môi trường và tốn thêm chi phí. Vì vậy trường hợp dùng thuốc hóa học nông dân sử dụng hợp lý, phối hợp các phương pháp khác để có hiệu quả cao. Nên thực hiện theo phương châm diệt trừ khi sâu còn nhỏ, còn non. Ngoài ra, nông dân trồng mía nên áp dụng các biện pháp sinh học để kiểm soát sâu đục thân hại mía như bảo tồn thiên địch, dùng ong ký sinh để khống chế sâu đục thân, đục ngọn.

Rệp sáp

Rệp sáp hại mía thường phát sinh 6-7 đợt trong năm. Rệp trưởng thành ít di chuyển. Rệp non thường bám vào đốt mía phía trong bẹ lá để hút chất dinh dưỡng. Rệp tiết ra chất ngọt nên tạo điều kiện cho bệnh muội và nhiều loại kiến ăn mật cùng cộng sinh với rệp và giúp rệp phát tán.

Cách phòng trừ rệp sáp là chọn hom mía sạch rệp, bóc bẹ lá và ngâm nước vôi trước khi trồng. Tránh trồng xen kẽ các vụ mía. Khi thấy rệp phát sinh nhiều thì bóc lá và dùng tay để giết rệp hoặc dùng thuốc Supracid 40ND pha với nước, nồng độ 0,1-1,15% phun ướt đẫm khắp thân và lá mía bị bệnh.

Bệnh than

Cây mía mắc phải bệnh than năng suất sẽ giảm, bệnh này có ở hầu hết các vùng trồng mía. Khi cây mía bị bệnh thường còi cọc, biến dạng từ ngọn đâm roi dài tới hàng mét, uốn cong xuống được bọc bởi một màng mỏng trắng, trong chứa đầy bao tử nấm dần dần chuyển sang màu đen. Khi bào tử nấm chín dễ dàng bung ra và bay theo gió, nước mưa, lây lan qua các vùng mía khác. Bào tử nấm luôn tồn tại trong đất, khi gặp điều kiện thích hợp sẽ phát triển gây hại. Cây bị bệnh than thường đẻ rất nhiều nhánh.

Cách phòng trừ bệnh than hiệu quả là trồng giống kháng bệnh. Trước khi trồng, nông dân vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, làm kỹ đất. Với những ruộng mía để lưu gốc sang vụ sau nên vệ sinh, xử lý loại trừ mầm mống của bệnh. Trong quá trình chăm sóc thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, nếu phát hiện cây bị bệnh phải chặt gom ra khỏi ruộng, đốt chôn vùi sâu không để lây lan.

Nguyệt Hạ/ Báo Đồng Nai

Thursday, September 3, 2009

Bệnh thối đỏ hại mía

Đây là một trong vài loại bệnh hại nguy hiểm trên cây mía, đặc biệt là ở những chân ruộng đất trũng, ẩm thấp, khó thoát nước... 


Hỏi: Thời gian gần đây ruộng mía ở vùng chúng tôi thường mắc một chứng bệnh như sau: lá ngọn tự nhiên bị vàng héo, nếu nặng có thể làm cho bộ lá và cả cây bị chết khô. Chẻ thân cây mía ra thấy bên trong ruột có chỗ hơi rỗng, thối, mầu đỏ nâu, mùi chua rượu và vị lạt. Xin cho biết đó là chứng bệnh gì? Liệu có biện pháp nào tiêu diệt triệt để được căn bệnh này? Võ Như Thành và một số bà con ở Châu Thành (Tây Ninh) 

Trả lời: Qua mô tả của các bạn, chúng tôi cho rằng có lẽ ruộng mía ở chỗ các bạn đã bị bệnh thối đỏ ruột (Colletotrichum falcatum). Đây là một trong vài loại bệnh hại nguy hiểm trên cây mía, đặc biệt là ở những chân ruộng đất trũng, ẩm thấp, khó thoát nước, lại gặp trời nóng ẩm, mưa nhiều tạo ẩm độ không khí cao… Có lẽ do các bạn chưa quan sát kỹ, chứ thực ra bệnh này có thể gây hại ở nhiều bộ phận của cây, từ thân lóng, phiến lá, bẹ lá cho đến mầm non và cả rễ của cây. Tuy nhiên, bệnh thường gây hại nhiều nhất là trong thân cây, phiến lá và bẹ lá của cây mía vào giai đoạn cây mía đã vươn lóng cao. 

- Trong thân cây: Nấm bệnh xâm nhập vào bên trong thân cây mía thông qua những lỗ đục của các loài sâu đục vào thân cây mía. Bên trong thân, ban đầu vết bệnh chỉ là một điểm nhỏ mầu nhạt, sau đó lan rộng, kéo dài trong lóng mía thành những mảng mầu đỏ huyết. Giữa các đốm đỏ có những vệt ngang mầu trắng. Do triệu chứng bệnh nằm phía bên trong ruột cây một thời gian dài không lộ ra bên ngoài vỏ, nên lúc đầu rất khó phát hiện cây bị bệnh. 


Chỗ bị bệnh về sau lên men, thối rữa ra, ruột mía có chỗ hơi rỗng và có mùi rượu, vị chua lạt. Vỏ thân bên ngoài không còn bóng, chuyển sang mầu vàng đỏ, hơi lõm xuống và tóp nhỏ lại, tạo những vết hằn xuống lóng mía mầu đỏ tía, trên đó có những hạt nhỏ li ti mầu đen đó là ổ bào tử của nấm. Nếu bị hại nặng phần bị bệnh có thể phát triển hết cả lóng mía hoặc kéo dài sang những lóng khác. 

- Trên phiến lá: Bệnh thường xuất hiện ở gân chính trong lòng máng sống lá. Lúc đầu vết bệnh chỉ là những chấm nhỏ mầu hồng. Sau đó phát triển dần lên phía trên và xuống phía dưới của sống lá thành những vệt dài hình bầu dục (đôi khi chỉ là những vệt dài khoảng 5-7cm), mầu đỏ huyết, giữa vết bệnh có mầu lạt hơn, quanh rìa có mầu đỏ nâu. Trên vết bệnh cũng có những hạt đen nhỏ, đó là các ổ bào tử của nấm, mô bị bệnh dễ bị nứt vỡ, nát ra, làm cho lá dễ bị gẫy gập xuống tại vị trí bị nứt vỡ này. 

- Trên bẹ lá: Vết bệnh có mầu nâu sẫm, bao quanh vết bệnh là đường viền có mầu đỏ. Nếu nặng, nhiều vết hòa lẫn vào nhau thành một mảng lớn. Trên vết bệnh về sau cũng xuất hiện những ổ bào tử nhỏ mầu đen. 

Cây bị bệnh lá ngọn thường chuyển mầu vàng héo, nếu bị hại nặng, toàn cây có thể bị khô chết. Những ruộng bị bệnh gây hại nặng, mía gốc sẽ tái sinh kém. 

Bệnh không những làm giảm năng suất mía cây mà con làm giảm hàm lượng đường của cây mía nguyên liệu rất nhiều, do đường đã chuyển hóa thành rượu. Ngoài ra, mía nguyên liệu bị bệnh làm cho nước ép dơ, gây khó khăn cho quá trình lắng lọc, chế biến. 

Nguồn bệnh tồn tại trong thân, lá, hom giống… của cây mía bị bệnh, trong đất ruộng… Vì thế những ruộng trồng chuyên canh cây mía trong nhiều năm thường bị bệnh gây hại nhiều hơn những chân ruộng mới được trồng. 

Để hạn chế tác hại của bệnh, việc phòng ngừa có thể được coi là biện pháp quan trọng số một đối với chứng bệnh này. Sau đây là một số biện pháp chính: 

- Tùy theo địa thế của vùng đất trồng mía trũng hay cao… mà tuyển chọn, sản xuất những giống mía kháng bệnh cho phù hợp với những địa thế này. 

- Tuyệt đối không lấy hom ở những ruộng đã bị bệnh gây hại để làm giống cho vụ sau. 

- Chọn hom giống khỏe, loại bỏ những hom giống có triệu chứng nhiễm bệnh. Trước khi trồng nên xử lý hom giống bằng cách nhúng hom giống trong nước nóng 54 độ C trong 20 phút, hoặc nhúng hai đầu hom vào dung dịch thuốc Mexyl MZ 72WP hay Vinomyl 72BTN pha nồng độ 0,5%, hoặc Boocđô 1%. 

- Không nên trồng quá dầy, để ruộng mía có độ thông thoáng cao. 

- Chăm sóc chu đáo, đặc biệt là phải bón phân đầy đủ và cân đối giữa đạm, lân và kali, những ruộng thường bị bệnh hàng năm cần tăng cường thêm phân kali để cây có sức chống chịu với bệnh. Những vùng đất bị chua nên bón bổ sung thêm vôi bột để tăng độ pH cho đất. 

- Những vùng đã bị bệnh gây hại nặng, cần khoanh vùng dập tắt ổ bệnh, không được đưa hom giống sang những vùng khác để hạn chế lây lan. 

- Ở những vùng đấp thấp, nên có bờ bao chắc chắn và hệ thống mương trữ nước xung quanh ruộng, để có thể bơm nước ra khỏi ruộng khi cần thiết, hạ thấp mực thủy cấp trong ruộng mía. 

- Phòng trừ triệt để các loài sâu đục thân, để giảm bớt lỗ đục vào thân cây. Từ đó hạn chế cửa ngõ xâm nhập của nấm bệnh vào bên trong thân cây mía. 

- Thu gom cây và những lá bị bệnh nặng đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy, để giảm bớt nguồn bệnh trên ruộng. 

- Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, thu gom toàn bộ tàn dư của cây mía bị bệnh từ vụ trước đem tiêu hủy, trước khi gốc mía ra mầm mới (mía tái sinh) hoặc trước khi trồng mới mía vụ sau. 

- Sau khi thu hoạch, không nên chất đống để lâu trên ruộng (đặc biệt là những ruộng có ngập nước), cần tranh thủ vận chuyển sớm về nhà máy chế biến. Những ruộng đã bị bệnh gây hại, nên thu hoạch sớm hơn so với những ruộng khác. 

- Kiểm tra ruộng mía thường xuyên, nhất là từ khi cây vươn lóng cao để phát hiện sớm và phun xịt thuốc kịp thời. Về thuốc có thể sử dụng một trong những loại thuốc như: Mexyl MZ 72WP; Vinomyl 72BTN; Dipomate 80WP; Vimancoz 80BTN; Ridozeb 72WP; Mancozeb 80WP… 

Trước khi phun xịt các bạn cần đọc kỹ hướng dẫn về liều lượng và cách sử dụng có in trên nhãn thuốc.

Nguyễn Danh Vân/ Báo Nông nghiệp Việt Nam