Thursday, February 20, 2014

Cần tăng cường phòng trừ rệp sáp gây hại cà phê

Theo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Đăk Nông, thời gian qua, do thời tiết trên địa bàn tỉnh diễn biến bất thường đã tạo môi trường cho rệp sáp phát triển gây hại trên cây cà phê ở một số địa phương như Đắk Mil, Chư Jút, Krông Nô…Trong đó, tại các huyện Chư Jút, Krông Nô, rệp sáp đã xuất hiện trong vườn cà phê với tỷ lệ từ 3-5%/1 cành. 

Để phòng trừ rệp sáp có hiệu quả, theo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh thì bà con nên tỉa cành tạo sự thông thoáng cho vườn cây. Đồng thời, ngoài cắt bỏ những cành bệnh nặng, sát đất đem đi tiêu hủy tránh bệnh lây lan, phát sinh thì việc dọn sạch cỏ, rác xung quanh gốc cà phê để kiến khỏi trú ngụ mang mầm bệnh đi những cây khác cũng rất cần thiết.

Vào mùa khô tưới nước đầy đủ cho cây, những chỗ bị rệp nhiều nên cho vòi nước phun thẳng vào, rửa trôi bớt rệp, tạo độ ẩm trên cây giảm mật số rệp. Ngoài ra, bà con cũng cần thường xuyên thăm vườn kịp thời phát hiện bệnh rệp sáp. Nếu rệp xuất hiện dù mật độ ít, bà con cũng phải diệt trừ ngay, vì rệp sinh sản rất nhanh.

Người dân xã Nam Dong (Chư Jút) đang tăng cường diệt trừ rệp sáp trên cây cà phê.

Theo khuyến cáo của Viện Khoa học kỹ thuật Nông-Lâm nghiệp Tây Nguyên, trước mắt, nếu vườn cây có tỷ lệ rệp sáp thấp thì bà con nông dân nên sử dụng các biện pháp phòng trừ sinh học bảo vệ môi trường bằng cách tạo điều kiện sinh tồn cho các loài ong ký sinh, bọ ăn thịt như bọ rùa, bướm, ruồi… là thiên địch tấn công rệp sáp. Một biện pháp nữa là canh tác phi hóa học bao gồm hun khói được khuyến cáo để hạn chế phát triển của rệp sáp, trồng cây che bóng để ngăn chặn rệp sáp lây lan.

Mặt khác, dùng xà phòng trừ sâu là sản phẩm có bán trên thị trường hiện nay, nhưng bà con cũng có thể tự làm bằng cách sử dụng chất xà phòng rửa chén nhưng không dùng xà phòng có tẩm dầu thơm và chất phụ gia có thể ảnh hưởng cây. Trộn xà phòng với ít nước phun lên cây. Ngoài ra, bà con có thể sử dụng những đồ gia vị như tỏi, gừng, ớt…để tạo chất phòng trừ rệp sáp theo hướng hữu cơ  một cách an toàn. Người dân có thể dùng 1 củ tỏi, 1 củ hành và 1 muỗng ớt bột trộn và nghiền nhỏ bằng dụng cụ nghiền nhà bếp chế biến thành bột nhão, rồi rót khoảng 1 lít nước khuấy đều và ngâm khoảng 1 giờ, sau đó lọc qua vải thưa rồi cộng thêm 1 muỗng xà phòng rửa chén và tiếp tục khuấy đều sau đó phun đều những cây bị rệp gây hại...

Đối với biện pháp hóa học, khi thấy rệp sáp trên lá, quả, người dân cần phun thuốc kỹ để thuốc thấm qua lớp sáp, mới diệt được rệp. Bà con cần thường xuyên kiểm tra 10 ngày/lần để phát hiện sự xuất hiện, mật số của rệp sáp để có biện pháp xử lý kịp thời vì chúng sinh sản rất nhanh, phun thuốc 2 lần, mỗi lần cách nhau từ 7-10 ngày để diệt tiếp lứa rệp non còn sót lại.

Đối với rệp sáp trên lá và chùm quả, người dân nên dùng các loại thuốc đặc trị sau đây để phun ướt đều trên cây, phun 2 lần cách nhau 7-10 ngày để diệt tiếp lứa non mới nở như Oncol 20EC, Nurelle D25/2,5EC (25-30ml/bình 8 lít), Cori 23EC (20ml/bình 8 lít), Mospilan 3EC 15ml/bình 8 lít), Elsan 50EC (30ml/bình 8 lít), Applaud 10WP 920-30ml/bình 8lits) hoặc Applaud 25EC (8-12ml/bình 8 lít) và dầu khoáng Citrole 96,3EC (40ml/bình 8 lít).

Với rệp sáp hại rễ nên dùng Fipronil (Supergen 800 WG); Thiamethoxam (Fortaras 25 WG); Phenthoate (Elsan 50EC); Oncol 20EC theo hướng dẫn tưới vào vùng rễ ở gốc. Bên cạnh đó, còn có hoạt chất Chlorpyrifos Ethyl: có tác dụng tiếp xúc, vị độc và xông hơi; hoạt chất Bufroferin là thuốc sinh học, tác dụng ức chế sự lột xác của nhóm rầy rệp, mất khả năng sinh sản và trứng không nở được.

Nếu đất khô, trước khi tưới thuốc 1 ngày thì bà con nên tưới nước cho ẩm đất vùng rễ sẽ giúp thuốc ngấm nhanh và sâu hơn. Ngoài ra, người dân có thể xới đất quanh gốc sâu 10cm rồi rải 20-30g/gốc thuốc Lorsban 15G rồi phủ đất và tưới nước đủ ẩm cho ngấm thuốc để diệt hết rệp sáp ở gốc và vùng rễ.

Quan trọng hơn là người trồng cà phê cần phát hiện sớm để trừ rệp vì tác hại thứ cấp của rệp sáp, cũng như rệp vảy xanh, vảy nâu là chúng tạo điều kiện cho nấm, bồ hóng phát triển bám trên lá, quả và cành dẫn tới cây giảm khả năng quang hợp, ảnh hưởng đến năng suất của vườn cây.

Bài, ảnh: Văn Tâm/ Báo Đăk Nông

Tuesday, February 18, 2014

Bệnh trắng lá mía và biện pháp quản lý

Bệnh trắng lá mía do dịch khuẩn bào (phytoplasma) gây ra được phát hiện lần đầu tiên ở Đài Loan năm 1958, ở Ấn Độ và Thái Lan năm 1964. Hiện bệnh này chủ yếu thấy xuất hiện ở các nước châu Á như Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Sri Lanka, Campuchia, Lào và Việt Nam. Đây là một bệnh nguy hiểm gây thiệt hại nặng cho SX mía nguyên liệu.

Ở Việt Nam, bệnh trắng lá mía thấy xuất hiện đầu tiên ở các tỉnh phía Nam (Đồng Nai, Bình Thuận,…) vào năm 1996, cùng với trào lưu du nhập, phát triển ồ ạt của các giống mía ROC từ Đài Loan. Diện tích mía bị bệnh trắng lá gây hại ở tỉnh Đồng Nai và các khu vực lân cận năm 1997 lên tới 2.000 ha. Giống bị hại nặng nhất ở thời điểm đó là ROC10.

Đến năm 1998, bằng phương pháp hiển vi điện tử, GS.TS Vũ Triệu Mân và CTV ở Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã phát hiện các tiểu thể phytoplasma trong kính hiển vi điện tử JEOL 1010 ở độ phóng đại 24.000 lần và 40.000 lần với kích thước các thể plasma tương tự ở Đài Loan.

Năm 2013, bằng kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase lồng (Nested-PCR), sử dụng cặp mồi chung P1/P7 và R16F2n/R16R2, TS. Trịnh Xuân Hoạt và CTV ở Viện Bảo vệ thực vật và Viện Nghiên cứu Mía đường đã xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh trắng lá mía ở phía Nam là do chủng phytoplasma thuộc nhóm phụ SCWL, nhóm 16SrXI. Chủng phytoplasma gây bệnh trắng lá mía có mức tương đồng 100% so với chủng phytoplasma gây bệnh trắng lá mía ở Thái Lan.

Tại thời điểm năm 1998, do không tìm thấy các loài côn trùng môi giới truyền bệnh như ở Đài Loan (loài rầy Matsumuratettix hiroglyphicus) nên các tác giả trên đã khẳng định là bệnh phytoplasma hại mía ở miền Nam chỉ truyền bệnh qua hom giống. Sau đó, căn bệnh này ít thấy xuất hiện trên diện rộng nữa (cùng với sự thoái trào của các giống ROC) nên phần nào đã bị lãng quên trong một thời gian dài.

Tuy nhiên, trong 2-3 năm gần đây, cùng với sự du nhập và trồng phổ biến các giống mía Thái Lan ở các tỉnh phía Nam, bệnh trắng lá mía đang xuất hiện trở lại với phạm vi rộng hơn, tốc độ lây lan nhanh hơn và có thể gây thiệt hại lớn hơn. Hiện nay có thể thấy bệnh xuất hiện ở hầu hết các vùng mía nguyên liệu, đặc biệt là các tỉnh Đông Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Chỉ tính riêng ở tỉnh Khánh Hòa đã có trên 1.160 ha mía bị nhiễm bệnh.

Bệnh trắng lá mía gây thiệt hại nặng cho Khánh Hòa

Sự xuất hiện trở lại của bệnh trắng lá mía ở các tỉnh phía Nam hiện nay cần được được các cơ quan chức năng, chuyên môn và doanh nghiệp mía đường quan tâm, chú ý nhiều hơn nữa so với giai đoạn trước đây, nhất là sau khi chúng ta đã được chứng kiến sự gây hại nặng nề của bệnh chồi cỏ xanh, một bệnh phytoplsma khác trên cây mía, ở tỉnh Nghệ An.

Mặc dù mới bắt đầu xuất hiện rải rác từ năm 2005 tại vùng nguyên liệu của Công ty Liên doanh Mía đường Nghệ An Tate & Lyle, nhưng đến năm 2010, bệnh chồi cỏ xanh đã lan rộng trên diện tích gần 10.000 ha, với tỷ lệ bụi bị bệnh trung bình khoảng 10%. Hầu hết các giống mía đang trồng tại Nghệ An đều bị bệnh, kể các giống mía My55-14 mà các tác giả của Thái Lan cho rằng có khả năng kháng bệnh chồi cỏ xanh. Thiệt hại do bệnh chời cỏ xanh gây ra cho ngành mía đường tỉnh Nghệ An là rất lớn, ước tính lên tới hàng trăm tỷ đồng.

Biện pháp quản lý

Cũng như các bệnh khác phytoplasma trên cây mía nói riêng, cây trồng nói chung (bệnh chổi rồng trên cây sắn,…), bệnh trắng lá mía rất khó kiểm soát và quản lý. Các biện pháp phòng trừ bệnh như xử lý hom bằng nước nóng (50obiện pháp hóa học (xử lý hom bằng thuốc kháng sinh tetracyline HCl hoặc ledermycin với nồng độ 500 ppm), biện pháp thủ công cơ giới (cắt, đào bỏ cây bệnh), cũng như biện pháp phòng trừ côn trùng môi giới (vector) truyền bệnh đều đã được nghiên cứu, thử nghiệm nhưng cũng đều cho thấy hiệu quả quản lý bệnh không cao (như biện pháp hóa học, thủ công cơ giới), rất khó thực hiện (phòng trừ côn trùng môi giới) và ít khả thi (xử lý hom bằng nước nóng). Trong khi đó, việc chọn tạo các giống mía kháng bệnh cũng chưa đem lại kết quả nào đáng kể. C trong 2 giờ, 54oC trong 30 phút) hoặc bằng hơi nước nóng 54oC trong 2,5 giờ),

Để quản lý được bệnh trắng lá mía, tạm thời trước mắt chúng ta có thể áp dụng đơn lẻ hoặc kết hợp các biện pháp sau:

1. Mỗi đơn vị SX mía nguyên liệu cần thiết lập một hệ thống SX, nhân giống mía sạch bệnh 3 cấp (cơ bản, kiểm định và thương phẩm), có khả năng cung cấp đủ nhu cầu giống thương phẩm sạch bệnh để trồng mới hàng năm của đơn vị mình. Trong đó việc chẩn đoán sớm (nhanh nhạy và tốt nhất là bằng bộ kit chẩn đoán bệnh dựa trên kỹ thuật PCR) và loại trừ bệnh ở ngay giai đoạn sản xuất giống cơ bản là quan trọng nhất. Hiện nay Thái Lan cũng đang đi theo hướng này.

2. Trồng mía đúng thời vụ, tăng cường chăm sóc, tạo điều kiện tốt nhất cho cây mía sinh trưởng, phát triển, giúp nâng cao tính kháng bệnh của cây và hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra trên các lô ruộng đã bị nhiễm bệnh (nhưng với tỷ lệ bệnh còn thấp hoặc rất thấp).

Trong đó cần chú trọng nhất đến khâu tưới nước bổ sung trong mùa khô, lúc hạn hán và bón phân cân đối, hợp lý theo nhu cầu của cây mía. Biện pháp này tuy rất cũ, đơn giản nhưng lại là biện pháp có tính khả thi nhất và đang được áp dụng rộng rãi ở khắp các vùng mía ở Thái Lan, bởi với tính chất gây hại và đặc điểm của bệnh như đã nêu ở trên, chắc chắn chúng ta không thể loại trừ được hoàn toàn bệnh trắng lá trong SX mà buộc phải tìm cách “chung sống hòa bình” với nó.

Qua tổng kết thực tiễn kết quả quản lý bệnh trắng lá mía trong sản xuất đại trà ở Thái Lan cho thấy, chính nhờ áp dụng biện pháp này mà ngành mía đường Thái Lan tuy bị bệnh trắng lá mía gây hại từ khá lâu và khá phổ biến nhưng vẫn tăng trưởng đều, có hiệu quả sản xuất vẫn khá cao và ổn định.

3. Tăng cường tổ chức các lợp tập huấn cho nông dân trồng mía nhằm giải thích rõ tác hại của tập quán tự lấy hom từ ruộng mía thịt làm giống, nhất là những ruộng đã bị nhiễm bệnh trắng lá mía. Đồng thời ban hành quy định tất cả các ruộng trồng mới phải lấy giống từ các địa chỉ được chỉ định và khuyến cáo trong hệ thống nhân giống 3 cấp, nghiêm cấm nông dân tự lấy giống từ ruộng mía nguyên liệu.

4. Thường xuyên thăm đồng, phát hiện và phá hủy, không để lưu gốc toàn bộ những ruộng có tỷ lệ bụi bị hại > 20%.

Loài rầy môi giới truyền bệnh trắng lá mía chủ yếu ở Thái Lan

5. Kiểm soát không cho phép lấy hom giống từ vùng bị bệnh đưa sang các vùng khác chưa bị bệnh.

6. Tiến hành đánh giá khả năng kháng bệnh trắng lá mía đối với tất cả các giống mía mới lai tạo trong nước hoặc nhập nội từ nước ngoài trước khi phóng thích vào sản xuất đại trà.

7. Hạn chế tối đa việc nhập khẩu giống ồ ạt với khối lượng lớn từ nước ngoài, đặc biệt là từ Thái Lan mà không tuân thủ đúng các quy định về kiểm dịch đối với việc xuất nhập khẩu giống mía của Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc - FAO và Cơ quan Tài nguyên Di truyền thực vật Quốc tế - IBPGR (Technical guidelines for safe movement of sugarcane germplasm, 1993).

8. Trước mắt, khi chưa có kết luận cuối cùng về việc bệnh trắng lá mía có truyền qua con đường tiếp xúc hay không, cũng cần khuyến cáo nông dân nên khử trùng dao, dụng cụ canh tác mía bằng các hóa chất khử trùng như cồn, formatdehyd,... khi chuyển từ lô ruộng này sang lô ruộng khác để ngăn ngừa việc lây lan bệnh (nếu có), đặc biệt là khi thu hoạch mía giống.

9. Bộ NN-PTNT xem xét cấp kinh phí và giao trực tiếp cho Viện Bảo vệ thực vật và Viện Nghiên cứu Mía đường phối hợp thực hiện một đề tài nghiên cứu toàn diện về bệnh trắng lá mía ở Việt Nam, nhằm sớm tìm ra biện pháp quản lý bệnh một cách hữu hiệu nhất, giúp ngành mía đường có thể đối phó hiệu quả với căn bệnh nguy hiểm này trong thời gian tới.

TS Cao Anh Đương/ Báo Nông nghiệp Việt Nam

Monday, February 10, 2014

Sử dụng nguyên tố dinh dưỡng lưu huỳnh hợp lý

Lưu huỳnh (S) là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có số nguyên tử 16, được coi là yếu tố dinh dưỡng thứ 4 của cây trồng sau đạm, lân và kali.

Lưu huỳnh có trong phân NPK - Ảnh minh họa

Lưu huỳnh tham gia trong thành phần của các axit amin, protein và vitamin có chứa lưu huỳnh, trong đó có axit amin không thể thay thế như methionin, là thành phần quan trọng của coenzym A… Nguyên tố S có vai trò khá quan trọng trong thực vật và độ phì của đất nông nghiệp, bón lưu huỳnh không những làm tăng năng suất cây trồng mà còn có tác dụng:

+ Tăng lượng protein, đặc biệt đối với cây lương thực.

+ Giảm tỷ lệ N:S, sẽ giảm hàm lượng nitrat trong nông sản.

+ Cung cấp thêm hương vị cho lương thực, thực phẩm.

+ Tăng hàm lượng dầu cho những cây trồng có dầu (đậu phộng, mè, cọ dầu…).

+ Tăng tính chịu hạn, chống chịu sâu bệnh cho cây trồng.

Nhu cầu lưu huỳnh phụ thuộc vào từng loại cây và năng suất nông sản. Cây trồng giàu protein có nhu cầu về lưu huỳnh cao hơn, cây có dầu cần lượng lưu huỳnh nhiều hơn so với cây ngũ cốc, đối với rau quả tỷ lệ N:S = 17:1, với cỏ làm thức ăn gia súc tỷ lệ 14:1 là thích hợp.

Tại Việt Nam, trong suốt 40 năm qua (tính từ 1973) việc sử dụng phân bón vô cơ có rất nhiều biến động. Việc sử dụng phân DAP và các dạng loại lân thay thế cho super lân (loại phân lân có chứa S) đã làm cho một số nhóm đất và cây trồng thiếu lưu huỳnh trầm trọng. Hiện tượng thiếu S không chỉ xảy ra trên những cây có nhu cầu S cao như cà phê, cây lấy dầu mà còn xảy ra ngay cả trên các cây màu khác và xảy ra ngay cả trên đất giàu S như đất phèn mặn.

Từ đó, lại đặt ra một vấn đề cần khẩn trương bổ sung S vào đất như một giải pháp khắc phục yếu tố dinh dưỡng hạn chế. Vì vậy đã có rất nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước SX phân bón có hàm lượng S cao như SA, phân lân super (SSP có chứa S), phân NPK (16-16-8+13S).

Đã có một giai đoạn mà nông dân chỉ biết mua và sử dụng liên tục loại phân bón NPK (16-16-8+13S) như một cứu cánh cho bất kỳ thời kỳ sinh trưởng, bất kỳ loại cây trồng nào, cho bất kỳ nền đất nào, cho bất kỳ một vụ mùa nào. Rồi sau đó “cái gì đến, nó cũng phải đến”. Lưu huỳnh (S) từ một nguyên tố dinh dưỡng thiếu hụt đã trở thành một nguyên tố dư thừa. Các nhà khoa học thuộc lĩnh vực hóa học đã từng khẳng định:

Như vậy, lưu huỳnh (S) từ chỗ là nguyên tố dinh dưỡng khá quan trọng đã biến thành một độc tố trong đất trồng do có hàm lượng quá nhiều trong đất. Nguyên nhân biến S từ bổ thành độc không phải là nguyên nhân khách quan hay do biến đổi tự nhiên mà lại chính là do nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân do chính con người tạo ra, do chính các nhà SX, thương mại và người sử dụng gây ra.

Sử dụng NPK (16-16-8+13S) trong thời gian quá dài với một lượng đạt tới mức dư thừa sẽ làm mất cân đối dinh dưỡng trong đất trồng cà phê (thừa P, thừa S và thiếu K), đã biến S từ nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu trở thành “tội đồ” do có quá nhiều trong đất.

Thêm vào đó là việc sử dụng phân đạm dưới dạng SA (Amon Sulphate- [NH4]SO4); các muối trung vi lượng dưới dạng sulphate (có gốc SO4) càng làm cho một số vùng đất, một số loại cây trồng đã bị dư thừa S tới mức ngộ độc và phá vỡ thế cân bằng dinh dưỡng trong đất, thiết lập một thế cân bằng mới có xu hướng làm giảm độ phì đất (giảm sức khỏe đất), giảm năng suất cây trồng (giảm hiệu quả nông học & hiệu quả kinh tế).

Tại khu vực Tây Nguyên, nơi tập trung khá nhiều diện tích cà phê, hồ tiêu, cao su, nông dân có thói quen sử dụng phân bón cho cây cà phê với lượng bón khá lớn khoảng từ 2,5-3,5 tấn/ha các loại NPK (đa số còn thích sử dụng phân NPK 16-16-8+13S) hoặc các loại phân đơn như urê, SA, lân nung chảy, lân super, KCl. Gần đây, các loại phân trung, vi lượng như MgSO4, CuSO4, ZnSO4…(có chứa gốc S04) cũng được sử dụng quá liều lượng và phổ biến qua bón trực tiếp vào đất hoặc phun lên cây.

Mặc dù kinh nghiệm và nhận thức của người SX về nhu cầu dinh dưỡng của cây cà phê ngày càng được nâng cao, nhưng việc bón phân cân đối và hợp lý cả về yếu tố đa, trung và vi lượng vẫn còn nhiều hạn chế.

Việc bón phân khoáng không cân đối, hợp lý sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng, giảm hiệu quả đầu tư phân bón và còn gây ra sự thay đổi tính chất lý hóa học đất theo chiều hướng bất lợi. Trong nhiều trường hợp sự dư thừa một yếu tố dinh dưỡng này lại làm cản trở sự hấp thu nguyên tố dinh dưỡng khác (phá vỡ cân bằng dinh dưỡng, làm suy giảm độ phì đất).

Khảo sát tính chất nông hóa của đất trên một vườn cà phê sau 28 năm khai thác đã cho thấy biến động một số chỉ tiêu theo bảng phân tích sau:

Bảng 1: Tính chất nông hóa của phẫu diện đất đỏ bazan sau 28 năm trồng cà phê                                                                               

Nguồn: Phạm Anh Cường & Tôn Nữ Tuấn Nam (2012)

Tính chất hóa học đất của các tầng phẫu diện được ghi lại ở bảng trên cho thấy: pH đất biểu hiện quá chua. Hàm lượng hữu cơ tầng mặt trung bình, đạm trung bình, lân dễ tiêu và kali dễ tiêu thấp, can xi, ma nhê trao đổi cũng rất thấp. Đặc biệt lưu ý, nguyên tố S (lưu huỳnh) ở các tầng biến động từ 35-56 ppm (tập trung nhiều trên tầng mặt = 56 mg/kg đất). Khảo sát đất ở một vườn cà phê khác ở Đắk Lắk sau 22 năm trồng cà phê cũng cho thấy có nhiều biến động trong độ phì đất như sau:

Bảng 2: Tính chất nông hóa của phẫu diện đất đỏ bazan sau 22 năm trồng cà phê

Nguồn: Phạm Anh Cường & Tôn Nữ Tuấn Nam (2012)

Điều đáng quan tâm nhất là độ chua (pH thấp) và hàm lượng S tầng mặt quá cao (86ppm) đã cho thấy nguy cơ ngộ độc lưu huỳnh trên đất trồng cà phê lâu năm áp dụng bón phân không cân đối. Kết quả đánh giá về việc sử dụng phân bón có chứa S và hàm lượng trên đất trồng cà phê được trình bày trong bảng số 3 như sau:

Bảng 3: Biến động về lượng S trong phân bón và hàm lượng Sdt trong Đất

Nguồn: Phạm Anh Cường & Tôn Nữ Tuấn Nam (2012)

Lưu huỳnh là yếu tố dinh dưỡng trung lượng rất cần thiết cho cà phê, nếu thiếu hụt sẽ gây ra hiện tượng bạc lá non, ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất cà phê. Nhưng nếu dư thừa thì S lại là độc tố gây hại cho cây trồng.

Khi khảo sát S trong đất Tây Nguyên cho thấy có 29 mẫu được đưa vào tính toán và hàm lượng lưu huỳnh dễ tiêu biến động từ 32 đến 255 ppm, trị số trung bình là 121 ppm (121mg S/kg đất). Nghiên cứu về dinh dưỡng lưu huỳnh cho cà phê vào các năm 1996-2000 cho thấy hàm lượng S dễ tiêu trong đất trồng cà phê chỉ biến động từ 15-30 ppm, và ở ngưỡng > 20 ppm đã có thể đáp ứng nhu cầu cây cà phê về lưu huỳnh (Tôn Nữ Tuấn Nam, 1999).

Các số liệu S ở bảng 3 cho thấy: Hàm lượng S trong đất thấp nhất ở vườn điều tra là 32 ppm. Như vậy lưu huỳnh dễ tiêu trong đất trồng cà phê ngày nay đã tăng lên rất cao vượt quá nhu cầu dinh dưỡng của cà phê gấp 6 lần (nếu tính ở ngưỡng cao thì đã vượt trên 12 lần).

Để khắc phục hiện tượng và nguy cơ ngộ độc bởi S cho các loại cây trồng đã có một số doanh nghiệp nghiên cứu và cho ra các sản phẩm NPK mới có hàm lượng S phù hợp với nhu cầu của cây, phù hợp với hiện trạng S trong đất.

TS Nguyễn Đăng Nghĩa/ Báo Nông nghiệp Việt Nam

Monday, January 13, 2014

Kỹ thuật nuôi và vỗ béo trâu thịt


Ở nước ta, nuôi trâu chủ yếu để lấy sức kéo nên tiềm năng sản xuất trâu thịt hầu như không được chú ý đến. Thực chất thịt trâu giống như thịt bò về nhiều tính chất cơ bản: cấu trúc, thành phần hoá học, giá trị dinh dưỡng, vị ngon. Thịt nghé non, trâu tơ hoặc trâu nuôi chuyên thịt là loại thịt rất ngon, giá bán rất cao.

Chăm sóc trâu vỗ béo (ảnh: theo cema.gov.vn)


Nhưng hiện nay, ở nước ta chủ yếu là giết thịt loại trâu già, trâu loại thải nên màu thịt xẫm, ít mềm hơn và nặng mùi hơn thịt trâu non, vì vậy người tiêu dùng không ưa chuộng. Từ thực tế đó, cho thấy cần quan tâm khai thác tiềm năng sản xuất thịt của trâu, cải tiến quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như tìm kiếm các biện pháp cải tiến chất lượng sản phẩm, kể cả kỹ thuật giết mổ và xử lý thịt.

Để tăng năng suất và chất lượng thịt trâu, cần tiến hành vỗ béo trâu. Thời điểm vỗ béo trâu ở lứa tuổi còn non (từ 24 tháng tuổi) sẽ cho tỷ lệ xẻ thịt cao, chất lượng và độ mềm của thịt tốt, hiệu suất vỗ béo cũng cao hơn. Bởi vì trâu non có tốc độ lớn nhanh, bộ răng chắc khoẻ nên khả năng tiêu hoá và đồng hoá thức ăn tốt hơn, khả năng tích luỹ cũng cao hơn.

Tuy nhiên, cũng có thể vỗ béo trâu già, những con không có khả năng sinh sản và làm việc. Loại trâu này thường gầy yếu, tỷ lệ thịt xẻ thấp và chất lượng thịt không cao. Vỗ béo loại trâu này để nhằm tăng 15 - 20% khối lượng cơ thể. Phương thức chăn nuôi chủ yếu là chăn thả trên đồng bãi, kết hợp ăn cỏ, rơm và thức ăn tinh tại chuồng.

Đối với các tỉnh phía Bắc, vỗ béo trâu vào mùa thu là tốt nhất vì lúc này lượng cỏ phong phú, thời tiết mát mẻ. Đối với các tỉnh phía Nam, có thể vỗ béo trâu quanh năm, nhưng vỗ béo vào mùa mưa từ tháng 5 - 10 là kinh tế nhất.

Thời gian vỗ béo thường là 3 tháng.

- Tháng thứ nhất: tiến hành dọn vệ sinh chuồng trại, tẩy giun sán cho trâu, cho ăn đủ rơm, cỏ. Đối với những con gầy yếu, cho ăn thêm những loại thức ăn giàu đạm để nhanh chóng phục hồi cơ thể, tạo đà cho những tháng tiếp theo.

- Tháng thứ 2: chăn thả gần, cho ăn cỏ thoả mãn, tăng lượng thức ăn tinh, đảm bảo đủ nước uống.

- Tháng thứ 3: cho trâu ăn loại thức ăn giàu bột đường, chăn thả gần chuồng hoặc nhốt hoàn toàn để hạn chế tiêu hao năng lượng và tăng tích luỹ mỡ.

Trong điều kiện chăn thả gia đình ở nước ta có 2 phương thức vỗ béo thích hợp là:

- Vỗ béo bằng chăn thả: chăn thả trâu trên bãi chăn 8 - 10 giờ/ngày để tận dụng cỏ tươi mà không tốn công thu cắt và vận chuyển. Ban đêm, bổ sung thức ăn tinh và muối ăn cho trâu. Cách vỗ béo này áp dụng cho những nơi có đồng bãi chăn thả rộng và năng suất cỏ tươi tương đối khá, bảo đảm cho trâu mỗi ngày thu lượm được 20 – 25 kg cỏ.

- Vỗ béo bằng hình thức bán chăn thả: áp dụng cho những nơi ít bãi chăn (vùng đồng bằng, ven đô, khu công nghiệp). Trâu chỉ tận dụng được một phần hoặc một nửa khẩu phần thức ăn trên bãi chăn, phần còn lại phải bổ sung tại chuồng nuôi, trong đó lưu ý đến thức ăn tinh.

TS Phùng Quốc Quảng

Nấm bệnh héo rũ hại hành

Tôi trồng hơn công hành lá chuẩn bị tết nhưng hiện héo rũ gần hết. Quan sát không thấy sâu gì. Nhờ Bạn Nhà nông hướng dẫn phòng trị. Tư Ngon (xã Tân Bình- Bình Tân - Vĩnh Long)

Qua tìm hiểu, ruộng hành anh rất có thể bị nấm gây hại. Thời điểm nấm phát triển mạnh là giai đoạn cây hành có dọc vươn cao gần gang tay, ở ruộng không duy trì độ ẩm. Thời gian từ bắt đầu bị đến héo rũ hoàn toàn thường kéo dài từ 7- 8 ngày.


Biện pháp khắc phục:

Thăm đồng thường xuyên, duy trì đất đảm bảo độ ẩm khoảng 80%. Khi cần dùng một số thuốc phòng trị sau: BIOBUS 1,0WP của Công ty TNHH Nam Bắc và pha phun ướt đều; chế phẩm phân bón vi sinh HPC-CANPLUS của Công ty CP Sinh học nông nghiệp HPC và hòa tưới theo chỉ dẫn về cách dùng trên bao bì.

Chú ý: Không được pha chung 1 trong 2 loại này với bất cứ loại thuốc hóa học nào; cần phun hoặc hòa tưới 2- 3 lần, mỗi lần cách nhau 3- 4 ngày.

Hai Lúa chia sẻ (Nguồn: Bạn nhà nông/ Báo Vĩnh Long)