Sunday, March 29, 2015

Quy trình kỹ thuật phòng trừ bệnh chổi rồng trên nhãn

Bệnh chổi rồng trên cây nhãn đang là vấn đề bức xúc, gây khó khăn cho nhà vườn, bởi diện tích gây hại ngày càng gia tăng trong khi giá nhãn hiện nay khá tốt do thị trường xuất khẩu sang Mỹ đã mở. Để giúp nhà vườn có điều kiện canh tác hiệu quả, Chi cục Bảo vệ thực vật Bến Tre đưa ra quy trình kỹ thuật phòng trừ bệnh chổi rồng trên nhãn.

Ảnh minh họa

Tác nhân gây bệnh

Hiện tác nhân gây bệnh chưa thống nhất nhưng cũng đã xác định được nhện lông nhung trên nhãn là môi giới truyền bệnh. Nhện lông nhung có kích thước rất nhỏ, không nhìn thấy được bằng mắt thường. Vòng đời khoảng 8-15 ngày, một năm sinh sản 13-15 thế hệ. Nhện lông nhung phát triển mật độ cao vào các đợt nhãn ra đọt non, ra hoa, gây hại nặng nhất trong các tháng mùa khô.

Triệu chứng nhận biết

Bệnh gây hại chủ yếu trên đọt non, nụ hoa. Triệu chứng thường trên đọt non, xuất hiện sớm. Khi ra đọt non khoảng 2-3cm, lá bị co lại và mọc thành từng chùm. Nhóm lá này không tiếp tục phát triển được và co cụm lại như bó chổi. Bệnh gây hại trên chùm hoa co cụm, không đậu trái hoặc đậu rất ít. Nhện gây hại và truyền bệnh sớm trên chồi non, nụ hoa. Khi không có đọt non, nhện chích hút trên lá già nhưng không biểu hiện rõ triệu chứng.

Phương thức lây lan

Lây lan nhanh chủ yếu qua 2 con đường: nhân giống vô tính ghép và chiết cành từ các cây bị bệnh. Qua môi giới truyền bệnh là nhện lông nhung, nhện phát tán qua vận chuyển cây giống, sản phẩm của cây nhãn, gió, côn trùng, chim.

Biện pháp quản lý

Trồng các loại giống kháng bệnh: nhãn Edor, nhãn xuồng cơm vàng chống chịu tốt với bệnh. Vùng bị áp lực bệnh cao nên áp dụng biện pháp ghép, sử dụng giống xuồng cơm vàng làm mắt ghép và gốc ghép tiêu da bò. Không nhân giống như nhánh chiết, mắt ghép từ cây và vườn bị nhiễm bệnh. Tránh vận chuyển cành, mắt ghép, cây giống có xuất xứ từ các khu vực bị nhiễm bệnh sang khu vực chưa nhiễm.

Kỹ thuật canh tác

Thường xuyên kiểm tra vườn để lảy bỏ ngay các đọt, cành chùm hoa mới bị nhiễm bệnh để tiêu hủy. Chăm sóc thường xuyên, tăng cường bón phân hữu cơ, bón phân vô cơ phải cân đối, có thể bón thêm vi lượng qua gốc hay lá để cây sinh trưởng, phát triển khỏe mạnh, tăng sức chống chịu bệnh, ra đọt, hoa tập trung. Tưới nước đầy đủ, trước khi cây ra hoa dùng vòi tưới áp lực cao phun lên tán cây làm giảm mật độ nhện, đồng thời tạo ra độ ẩm giúp cây sinh trưởng tốt hơn. Sau khi thu hoạch, cần vệ sinh vườn, xén tỉa cành, loại bỏ chồi vượt cao.

Biện pháp quản lý và phòng trừ môi giới truyền bệnh

Loại bỏ các cây là ký chủ phụ của nhện như bồ ngót, bóng nẻ. Các vùng trồng nhãn bị nhiễm tiến hành phun thuốc phòng trừ nhện 3-4 lần: cơi đọt 1, 2 hoặc 3 và lúc nhú mầm hoa khoảng 2-3cm.

Sử dụng luân phiên các loại thuốc có hoạt chất khác nhau để tránh kháng thuốc. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có trong danh mục đăng ký phòng trừ nhện lông hại nhãn như Brightin, 1.8EC, Virtako, 40WG, MapGreen 6SL, Pegasus, 500SC, Takare 2EC. Phun thuốc hóa học phải theo nguyên tắc 4 đúng, đảm bảo thời gian cách ly theo khuyến cáo trên bao bì.

Nguồn: Báo Đồng Khởi

Saturday, March 28, 2015

Khô hạn và xâm nhập mặn với cây ăn trái (Video)

Những loại cây ăn trái nào ở ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng bởi tình trạng khô hạn và xâm nhập mặn. Muốn giảm thiểu thiệt hại, người dân cần phải chủ động những biện pháp gì? Đây cũng là nội dung mà PGS TS Mai Thành Phụng - TTKNQG sẽ trao đổi cùng bà con trong chương trình...


Xem video chương trình được thực hiện bởi VTV Cần Thơ:


Friday, March 27, 2015

Nhân giống cây luồng bằng phương pháp giâm cành

Luồng là cây dễ trồng, đầu tư ít, phù hợp với điều kiện kinh tế và tập tục canh tác của đa số các hộ gia đình nông dân miền núi.

Luồng có tên khác gồm: Luồng Thanh Hóa, Mét, Cọ luông, Mạy sang mú. Tên khoa học: Dendrocalamus barbatus Hsueh et D.Z.Li. Họ: Hòa thảo (Poaceae).

1. Chọn cây lấy giống

Chọn những cây bánh tẻ từ 8 - 14 tháng tuổi, thân xanh lá mạ phát triển đầy đủ cành lá, chồi ngủ to và khỏe, không bị sâu bệnh để chọn làm giống.

Cây lấy giống phải có năng suất măng cũng như có năng suất các sản phẩm cuối cùng vượt 15% so với năng suất trung bình của đám rừng có cây giống, sinh trưởng từ mức trung bình trở lên.

2. Thời vụ nhân giống

 Có 2 vụ chính:  

- Vụ xuân vào tháng 2 - 4.

- Vụ thu vào tháng 7 - 9.

3. Nhân giống luồng từ giâm cành

a. Chọn cành giâm: Lấy những cành bánh tẻ màu xanh thấm, có phần gốc cành lơn hơn 1cm ở cây mẹ 12 - 16 tháng tuổi. Cưa sát phần đùi gà và thân, chặt bỏ ngọn cành, để lại 35 - 40 cm (3 - 4 dóng).

b. Xử lý cành giâm: Ngâm gốc cành vào dung dịch hoá chất thuốc kích thích sinh trưởng. Lấy cành đến đâu ngâm luôn không để héo. Sau 8 - 10 giờ, vớt cành, ủ với cát ẩm (1 kg cát khô + 0,5 lít nước) hoặc mùn cưa (1 kg mùn cưa + 1 lít nước), nơi ủ phải thoáng mát.

Xếp cành nghiêng một góc 600 trên nền đất trong lán, cứ một lớp cành thì vùi một lớp mùn cưa hoặc cát dày khoảng 20 cm15 ngày đầu giữ cho độ ẩm của mùn cưa hoặc cát trong khoảng 85 - 90%, sau đó độ ẩm của mùn cưa, cát có thể giảm đi một chút.

c. Ươm giống: Sau thời gian ủ từ 20 - 25 ngày, quan sát cành nào có rễ cám và chồi ngủ phát triển mạnh thì đem ra ươm tại vườn hoặc trong bầu, những cành khác tiếp tục ủ cho đến khi ra rễ cám.

+ Ươm tại vườn: Đất khu ươm phải tơi xốp, bằng phẳng, gần nguồn nước, tiện đường vận chuyển, đất vườn ươm phải là đất thịt hoặc đất thịt nhẹ, làm đất kỹ, bón phân lót, lên luống nếu nền đất thấp dễ ngập úng, nền đất cao thì ươm theo rạch.

Cự ly cây ươm trên luống 25 x 40 cm, hoặc 25 x 30 cm. Lèn chặt gốc cành giâm, rồi tưới nước theo rạch, với lượng nước tưới 5 lít/m2, sau đó lấp đất vào rạch cho bằng mặt luống. Khi trời nắng phải làm giàn che (cao 2 - 2,5 m so với mặt luống). Thường xuyên tưới nước, làm cỏ phá váng, bón thúc bằng phân chuồng hoai và phòng trừ sâu bệnh nhất là sâu cắn lá.

Giảm dần lượng nước tưới để cây con thích nghi với điều kiện sống khi trồng: 10 ngày đầu tưới đều, 1 ngày 1 lần, 5 lít/m2. Sau 10 ngày thì cứ 4 - 5 ngày tưới 1 lần, khi cây trồng được hơn một tháng định kỳ 10 - 20 ngày tưới một lần, mỗi lần tưới 10 lít/m2.

Sau 6 - 8 tháng, khi măng đã ra lá, không bị sâu bệnh thì có thể xuất vườn.

+ Ươm giống trong bầu: Vỏ bầu làm bằng polyetylen hoặc bằng đất, kích thước 10 x 15 cm hoặc 13 x 18 cm, bầu phải thủng đáy. Thành phần ruột bầu gồm 85% đất thịt nhẹ + 15% phân chuồng hoai trộn đều. Khi cho hỗn hợp ruột bầu vào bầu chú ý chỉ cho đến 1/3 chiều cao của bầu, sau đó lèn chặt rồi cho cành ươm đã xử lý vào bầu, tiếp tục cho đất đã trộn phân đến 3/4 bầu rồi lèn chặt, sau đó tưới ít nước, tiếp tục cho hỗn hợp vào đầy đến miệng bầu, không lèn chặt phần ruột bầu phía trên.

Bầu đặt cách nhau 13 cm, phủ đất kín đến 3/4 chiều cao của bầu, vườn ươm phải có giàn che từ 40 - 50% ánh sáng mặt trời. Thường xuyên chăm sóc cây ươm như: tưới nước, làm cỏ, phá váng, bón thúc.

+ Tiêu chuẩn cây giống xuất vườn: Cành giâm từ 6 - 8 tháng tuổi. Có ít nhất một thế hệ mới đã ra lá (mọc từ mắt ngủ của mấu cành), bộ rễ ra nhiều, phát triển mạnh, nhiều lá mới màu xanh.

+ Ưu điểm: Giống cành giâm có thể sản xuất được số lượng lớn đảm bảo trồng rừng luồng trên quy mô lớn với giá thành hợp lý; dễ vận chuyển, chủ động thời vụ, tỷ lệ sống cao, dễ làm.

+ Nhược điểm: Tốn công chăm sóc trong thời gian phải giâm tạm, thời gian thành rừng lâu hơn so với các giống khác./.

Theo TTKNQG/ VOV

Thursday, March 26, 2015

Đối phó với Hội chứng tôm chết sớm - EMS

Hội chứng tôm chết sớm (Early Mortality Syndrome - EMS) còn gọi là Hội chứng hoại tử gan tụy cấp (Acute Hepatopancreatic Necrosis Syndrome - AHPNS) làm cho cả tôm sú lẫn tôm thẻ chân trắng chết hàng loạt. Bệnh gây thiệt hại lớn cho ngành nuôi tôm thế giới trong năm qua.

Bệnh nguy hiểm

Bệnh xuất hiện đầu tiên ở miền Nam Trung Quốc năm 2009 và lan rộng đến các nước ASEAN như Việt Nam (2010), Malaysia, Thái Lan (2011)… Đến 2013, dịch bệnh tôm chết sớm đã lan rộng sang các nước ở Nam Mỹ (Mexico). Sự bùng phát và lây lan nhanh chóng của dịch bệnh khắp thế giới đã buộc các cơ quan nghiên cứu đầu ngành về bệnh tôm, các cơ quan chức năng ở các quốc gia có vùng dịch, các doanh nghiệp, trường đại học, tổ chức… liên kết lại để tìm ra nguyên nhân gây bệnh.

Tại Việt Nam, Bộ NN&PTNT, Tổ chức Sức khỏe Động vật Thế giới (OIE), các tổ chức quốc tế (World Bank, FAO, Global Aquaculture Alliance) cùng một số doanh nghiệp đã phối hợp với các chuyên gia đến từ trường Đại học Arizona (Mỹ) do GS. Donal Lightner làm trưởng đoàn. Sau 3 năm nghiên cứu (2011 - 2013), nhóm chuyên gia đã phân lập được tác nhân gây bệnh chính Hội chứng tôm chết sớm (EMS) ở tôm là do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây ra.

Thái Lan là nước chịu ảnh hưởng nặng bởi dịch bệnh EMS - Ảnh: Kurtzjoch.photoshelter.com 

Việc phân lập được tác nhân gây bệnh ở tôm là vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus là một thành công lớn trong nghiên cứu bệnh tôm trên thế giới. Tuy nhiên, việc điều trị bệnh EMS cho đến nay gặp rất nhiều khó khăn bởi lịch sử ngành bệnh học tôm cho thấy việc điều trị sau khi bệnh đã xảy ra là rất khó, do tôm không có hệ miễn dịch đặc hiệu; sau khi mắc bệnh tôm thường bỏ ăn nên không đưa thuốc vào được; và thường khi mắc bệnh, tôm chết rất nhanh nên khó có thể điều trị kịp. Ngoài ra, các vấn đề quan ngại cho sức khỏe người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu tôm như dư lượng kháng sinh, hóa chất cấm… khiến việc lựa chọn phương pháp điều trị bệnh tôm là rất hạn chế. Đối với bệnh EMS, các nghiên cứu cho thấy rằng: Sau khi bị nhiễm mầm bệnh, tôm có thể chết rất nhanh, có khi chỉ sau khi tiếp xúc với mầm bệnh chưa đầy 12 tiếng, tôm bệnh trở thành nguồn lây cho các con tôm khỏe khác trong đàn qua đường nước, phân và cả xác tôm chết, làm cho bệnh lan nhanh. Đây cũng là lý do một khi đàn tôm đã nhiễm bệnh thì việc cứu chữa là rất khó khăn và ít hiệu quả. Chưa kể đến việc các chủng thuộc vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh EMS có tính kháng kháng sinh rất cao, đó cũng là những khó khăn trong quá trình điều trị triệt để loại bệnh này.

Giải pháp phòng ngừa chủ động

Sau đây là một số khuyến nghị các các giải pháp phòng ngừa chủ động dựa trên cơ sở hiểu biết đặc điểm của mầm bệnh và đường lây lan, động thái học của mầm bệnh, các tương tác của mầm bệnh với vật chủ và môi trường:

1. Đảm bảo con giống sạch bệnh

Đóng vai trò then chốt trong việc hạn chết dịch bệnh ở tôm. Nghiên cứu Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản Thái Lan (ABRC - Aquaculture Business Research Center) cho thấy: EMS trên tôm nuôi khác nhau tùy thuộc và chất lượng tôm giống. Nếu gan tụy của tôm giống có màu trắng đục (Whitish) và không có chất béo (Fat lipid) thì những con giống này thường nhiễm Vibrio với mật độ 107 khuẩn lạc/g trước khi thả vào ao nuôi và là nguyên nhân gây chết tôm sau 20 ngày thả. Với những con tôm nhiễm bệnh có mật độ khuẩn lạc vào khoảng 104 - 105 khuẩn lạc/g hệ gan tụy sẽ có màu nâu hoặc trắng, thời gian đầu, những con tôm này trông bình thường nhưng thực ra chúng rất yếu và không hoạt động tốt. Do vậy, việc lựa chọn tôm giống sạch bệnh là khâu then chốt trong chủ động phòng tránh nhiễm bệnh EMS theo cả con đường lây ngang và lây dọc của dịch bệnh.

Gan tụy tôm hoại tử khi bị nhiễm EMS - Ảnh: Trần Lộc 

2. Quản lý ao

Mặc dù chưa có cơ sở khẳng định về việc bùng phát dịch bệnh EMS liên quan đến các yếu tố môi trường ao nuôi như pH, nhiệt độ, độ trong, độ mặn… Tuy nhiên, trên thực tế tại Việt Nam, dịch bệnh thường bùng phát vào những thời điểm thời tiết thay đổi theo hướng nhiệt độ và độ mặn tăng cao, độ trong của ao nuôi giảm thấp (dưới 30 cm). Do vậy, việc chủ động quản lý ao nuôi thông qua các bước chuẩn bị ao nuôi đúng quy trình, trại nuôi có ao lắng đúng quy cách, áp dụng các biện pháp an toàn sinh học; có các biện pháp cắt mầm bệnh đối với các ao nuôi đã từng xuất hiện bệnh thông qua việc luân canh và đa canh, có thời gian phơi và cày đáy ao đủ lâu giữa các vụ nuôi, luân canh tôm - lúa, tôm - cá, đa canh với cá hoặc nuôi cá trong ao lắng, thực hiện các thực hành nuôi tốt... có tầm quan trọng trong hạn chế dịch bệnh bùng phát và khả năng lây lan nguồn bệnh.

3. Nuôi tôm kết hợp cá rô phi

Các nghiên cứu về việc nuôi tôm kết hợp với nuôi cá rô phi để ổn định môi trường ao nuôi đã góp phần hạn chế sự bùng phát và lây lan dịch bệnh EMS trong suốt vụ nuôi. Kết quả nghiên cứu nuôi kết hợp tôm và cá rô phi đã chỉ ra: Cá rô phi giúp thiết lập một hệ sinh thái vi sinh trong nước ao với các quần thể tảo và vi khuẩn cân bằng. Trong một hệ sinh thái vi sinh cân bằng như vậy, vi khuẩn gây bệnh ít có cơ hội phát triển đến đủ mật độ có thể gây bệnh cho tôm. Sự hiện diện của cá rô phi còn giúp cho các biến động lớn về hệ vi sinh này ít xảy ra. Một khi hệ vi sinh trong ao có sự biến động lớn như hiện tượng sụp tảo trong ao thì khả năng vi khuẩn gây bệnh bùng phát để gây bệnh trên tôm là rất lớn. Nếu cá rô phi thả trong ao nuôi chung với tôm ở một mật độ thấp vừa phải thì nó có tác dụng diệt tảo đáy, làm sạch đáy ao, ăn các con tôm bệnh chết giúp giảm sự lan truyền của bệnh... Một số loài cá khác cũng có thể có một phần tác dụng tương tự như cá rô phi. Ngoài ra, ứng dụng công nghệ biofloc là một công nghệ nuôi có nhiều tiềm năng, nhưng đòi hỏi đầu tư, kỹ thuật, và kiến thức cao. Nếu ứng dụng thành công, hiệu quả sẽ rất lớn. Tuy nhiên, không phải ai cũng có đủ điều kiện đầu tư ứng dụng công nghệ này. Về cơ chế tác dụng của biofloc gần giống việc nuôi cá rô phi trong ao ở đặc điểm hệ thống biofloc tạo một hệ sinh thái vi sinh vật dày đặc trong nước. Ở điều kiện đó, vi khuẩn gây bệnh khó có thể phát triển đủ mật độ gây bệnh.

Liên kết chặt giữa trại sản xuất giống và vùng nuôi

Việc hình thành chuỗi liên kết cung ứng tôm bền vững, trong đó có sự liên kết chặt chẽ giữa trại sản xuất giống và vùng nuôi với các cơ sở nghiên cứu khoa học, đảm bảo sản xuất và cung cấp tôm giống theo hướng loại bỏ mầm bệnh EMS và các mầm bệnh khác trước khi đến trại nuôi; công tác hỗ trợ kỹ thuật để phòng bệnh tại vùng nuôi theo hướng an toàn sinh học, giảm thiểu và tiến tới không sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm; chuỗi cung ứng thức ăn và vật tư thủy sản chất lượng cao và cuối cùng là cam kết thu mua tôm với giá cao, ổn định khi tôm được nuôi theo quy trình như trong chuỗi liên kết. Đây là một cách làm hay, bền vững và sẽ phát triển mạnh, trong đó các bên từ nhà sản xuất giống, người nuôi, người cung cấp dịch vụ, khoa học, và nhà chế biến tôm có thể ngồi lại với nhau, cùng chia sẻ lợi ích và cùng khống chế rủi ro trong nghề nuôi tôm.

Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus là loài phổ biến trong môi trường và chỉ có một dòng đặc biệt của loài vi khuẩn này gây được bệnh. Do đó, các phương pháp xét nghiệm thông thường sẽ không thể xác định được sự tồn tại của dòng vi khuẩn gây bệnh này. Sự lây nhiễm dịch bệnh EMS thông qua đường miệng, khi trong nguồn nước có nhiễm mầm bệnh, hoặc tôm ăn xác tôm chết hay các giá thể có mang mầm bệnh (lây ngang) và từ tôm bố mẹ qua tôm giống (lây dọc).

Thạc sĩ Đặng Xuân Kỳ (Ban KHKT TSVN)

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây trám đen

Trám đen có thể trồng được ở những nơi có độ cao trung bình dưới 800m so với mực nước biển, thích hợp nhất là dưới 400 m.

Cây trám đen có tên khác: Bùi, Co mác bây (Tày, Nùng). Tên khoa học: Canarium tramdenum Dai & Yakovl. Họ: Trám (Burseraceae). Trám đen là cây gỗ lớn, cao trung bình từ 25 - 30 m, đường kính ngang ngực có thể tới 90cm hoặc hơn.

Ảnh minh họa

Thân thẳng, gốc hơi có múi, phân cành khá cao khi mọc trong rừng tự nhiên, nếu mọc ngoài bìa rừng hoặc nơi trống phân cành khá sớm. Quả khi non có màu xanh nhạt, khi chín có màu tím đen, thịt màu hồng thẫm, mỗi quả có một hạt.

Ở nước ta, trám đen thường mọc tự nhiên rải rác trong các khu rừng nhiệt đới, lá rộng thường xanh, từ các tỉnh vùng núi phía Bắc đến miền Trung và Tây Nguyên. Hiện nay trám đen đã được gây trồng khá rộng rãi ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ, kể cả vùng trung du và miền núi, nhất là trồng phân tán trong các vườn rừng, vườn hộ quanh nhà hay quanh vườn để lấy quả.

1. Kỹ thuật trồng

a. Chọn đất và nơi trồng:

Trám đen có thể trồng được ở những nơi có độ cao trung bình dưới 800m so với mực nước biển, thích hợp nhất là dưới 400 m. Có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng tầng dày (độ sâu tầng đất > 80 cm), giàu mùn, ẩm thường xuyên, thoát nước. Thích hợp nhất là các loại đất sét hoặc sét pha, đất dốc tụ hoặc đất bồi tụ, đất phù sa ven sông… không nên trồng trên đỉnh đồi, độ dốc không quá 30 độ.

b. Thời vụ trồng:

Thời vụ trồng trám đen ở các tỉnh vùng núi phía Bắc thích hợp nhất là vụ xuân – hè (từ tháng 2 – 4) hoặc vụ hè – thu (từ tháng 6 – 8), các tỉnh miền Trung thường trồng vào vụ thu thu – đông ( từ tháng 8 – 12), các tỉnh Tây Nguyên và Nam bộ trồng vào vụ hè – thu (từ tháng 6 – 9), khi đất đủ ẩm và có mưa thường xuyên, chọn những ngày râm mát hoặc mưa nhỏ để trồng.

c. Phương thức và mật độ trồng:

Theo kết quả của một số công trình nghiên cứu gần đây cho thấy có thể trồng trám đen theo 3 phương thức chính sau:

- Trồng tập trung thuần loài:

Đây là phương thức trồng đã áp dụng ở một số địa phương như Hòa Bình, Bắc Giang và Thanh Hóa, có thể trồng thuần loài trên đất trống có cây phù trợ hoặc không có cây phù trợ. Mật độ trồng là 1.600 cây/ha (3 x 2m). Cây giống áp dụng cho phương thức này có thể là cây gieo từ hạt hoặc cây ghép.

- Trồng rừng hỗn loài:

Đây là phương thức trồng phổ biến ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc, có thể trồng trám đen hỗn loài với các loài cây lá rộng bản địa khác như lim xanh, trám trắng, chẹo, gội nếp, gội trắng… hoặc hỗn loài với các loài cây khác thường lá 1.600 cây/ha (3 x 2 m), tỷ lệ giữa các loài khác với trám đen là như nhau. Ngoài ra, có thể trồng trám đen hỗn loài trong rừng thứ sinh nghèo kiệt, hoặc trảng cây bụi dày sau nương rẫy; mật độ trồng thường là 500 cây/ha (5 x 4 m). Cây giống áp dụng cho phương thức này thường là cây con gieo từ hạt.

- Trồng cây phân tán hay nông lâm kết hợp:

Đây là phương thức trồng phổ biến ở các tỉnh Trung du vùng núi phía Bắc và Bắc Trung bộ, nhất là trong các chương trình khuyến lâm của Bộ Nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2001 - 2012. Mỗi gia đình có thể trồng một vài chục cây, nhiều nhất không quá 100 cây trên nương rẫy theo phương thức nông lâm kết hợp, hay trồng xen với cây ăn quả trong các vườn hộ hay rừng. Cây con sử dụng để trồng phân tán trước đây đều trồng bằng cây con gieo từ hạt, nhưng trong khoảng những năm gần đây chủ yếu trồng bằng cây ghép. Mật độ trồng cây ghép thường là 500 cây/ha (5 x 4 m).

c. Xử lý thực bì

Đối với phương thức trồng phân tán trong các vườn hộ, vườn rừng hay xung quanh nhà thường thực bì rất ít hoặc không có, nên chỉ cần xử lý cục bộ xung quanh vị trí cuốc hố. Đối với các trạng thái rừng thứ sinh nghèo kiệt, hoặc trảng cây bụi thực bì khá dày nên cần xử lý theo băng (rạch) chạy song song với đường đồng mức, băng (rạch), chặt rộng 2m, băng chừa rộng 3m, chặt toàn bộ cây bụi thảm tươi trên băng (rạch), chỉ chừa lại những cây gỗ từ 6cm trở lên và những cây tái sinh có giá trị kể cả cây gỗ và cây lâm sản ngoài gỗ. Công việc này phải thực hiện trước khi trồng rừng ít nhất 1 tháng.

d. Làm đất

Làm đất theo phương thức cục bộ, dùng dụng cụ chuyên dùng đào hố thủ công, kích thước hố là: 40 x 40 x 40 cm hoặc 60 x 60 x 50 cm tùy theo đặc điểm ở từng nơi trồng rừng, nơi đất tốt, bón lót ít phân hữu cơ cuốc hố kích thước nhỏ; nơi đất xấu, nhiều sỏi đá cần bón nhiều phân hữu cơ thì cuốc hố lớn. Bón lót, nơi đất xấu bón từ 5 – 10 kg phân chuồng hoai (gồm các loại phân: gà, lơn, trâu, bò) kết hợp với 0,3 kg phân NPK (5:10:3)/hố. Nơi đất tốt cũng nên bón từ 2 – 3 kg phân chuồng hoai kết hợp với 0,3 kg NPK (5:10:3)/hố. Lấp đất xuống hố đến đâu đảo phân đều đến đó và lấp đầy miệng hố. Việc cuốc hố phải hoàn thành trước khi trồng ít nhất 1 tuần.

e. Kỹ thuật trồng

Sử dụng cuốc hoặc thuổng đào một lỗ nhỏ ở giữa hố đã lấp đất, kích thước hố phải lớn hơn bầu đất của cây giống, xé vỏ bầu, đặt bầu cây ngay ngắn giữa hố và lấp đất, dùng tay ấn nhẹ xung quanh bầu sao cho không làm vỡ bầu đất, vun đất hình mai rùa xung quanh gốc và cao hơn mặt đất xung quanh từ 4 – 5 cm để tránh đọng nước mưa. Sau khi trồng tháng cần kiểm tra để trồng dặm những cây chết hoặc trồng thay thế những cây có nguy cơ bị chết hoặc sinh trưởng kém bằng những cây con đủ tiêu chuẩn dự phòng ở vườn ươm.

2.  Kỹ thuật chăm sóc

Chăm sóc 4 năm đầu kể từ khi trồng, mỗi năm có thể chăm sóc từ 2 - 3 lần tùy theo mức độ thực bì ở từng địa điểm cụ thể. Nội dung chăm sóc chủ yếu là cắt bỏ dây leo quấn lên thân cây trám, dãy cỏ và phát dọn cây bụi thảm tươi xung quanh gốc rộng từ 80 – 100 cm, cuốc xới và vun gốc cây rộng từ 60 – 80 cm, phát tỉa cành và điều chỉnh độ tàn che của tán rừng, hoặc tán cây khác sao cho phù hợp với nhu cầu ánh sáng của cây trám ở từng giai đoạn. Ngoài ra có thể bấm ngọn, tỉa cành nhánh để tạo tán cho từng cá thể, sao cho chúng sinh trưởng và phát triển cân đối, nhiều cành nhánh, tán rộng nhằm nâng cao năng suất quả và hạn chế phát triển chiều cao để dễ thu hoạch, nhất là với những cây ghép./.

PGS. TS. Nguyễn Huy Sơn /Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam/ VOV

Wednesday, March 25, 2015

Quy trình nuôi cá trắm đen thương phẩm trong ao

Cá trắm đen là đối tượng nuôi thương phẩm được nhiều người ưa chuộng vì sản phẩm được thị trường đón nhận.


I. Chọn ao nuôi

Chúng ta có thể sử dụng ao có sẵn hoặc ao mới đào để nuôi Trắm đen. Diện tích và hình dạng ao tùy thuộc vào điều kiện của từng gia đình, có thể từ vài trăm m2 đến vài mẫu, nhưng tốt nhất chọn ao hình chữ nhật, có diện tích từ 1000 - 3000m2, độ sâu nước từ 2–2,5m. Những ao này sẽ thuận lợi cho chăm sóc và thu hoạch cá.

1. Vị trí ao nuôi

Ao gần nguồn nước sạch để thuận tiện cho việc cấp nước khi cần và gần hệ thống thoát để hạn chế chi phí khi thay nước và khi thu hoạch.

Ao ở nơi thoáng để ao có thể tiếp nhận được nhiều ánh sáng mặt trời giúp cho các sinh vật là thức ăn cho cá lúc nhỏ có thể phát triển tốt.

2. Bờ ao

Chắc chắn không dò dỉ nước, không có hang hốc. Với ao mới đào tránh sạt lở bờ. Độ cao của bờ ao cần cao hơn mức nước cao tối đa 0,5-0,6m

Trên bờ không nên trồng các cây có tán che phủ lớn vì lá cây rụng xuống ao làm hỏng nước ao, gây thối đáy ao và tán cây che rợp mặt ao gây cản chở ánh sáng chiếu xuống ao làm giảm độ thoáng và hạn chế sự phát triển của thức ăn tự nhiên.

Trên bờ cần phát quang các bụi cây quanh ao để không còn chỗ ẩn nấp của địch hại.

3. Nước

Cá Trắm đen có nhu cầu về oxy cao hơn các loài cá khác. Nếu không đủ oxy cá chậm phát triển, dễ bị bệnh và chết.

Do vậy muốn đảm bảo oxy cho cá phải quản lý môi trường nước ao nuôi luôn sạch, bề mặt ao phải thoáng. Tốt nhất mỗi 500 m2 ao nuôi nên bố trí một máy phun mưa để tăng sự khuyếch tán của oxy từ không khí vào trong nước khi cần.

Mực nước trong ao luôn giữ khoảng 1,5-2m là tốt nhất.

Nước trong ao phải dễ dàng thay được khi cần thiết.

4. Đáy ao

Đáy bằng phẳng và dốc về một phía cống thoát để dễ tháo nước khi thay và rút nước khi thu hoạch cá. Độ dốc đáy ao từ 0,5-1 độ nghiêng về cống thoát.

Đáy ao phải được nạo vét bùn hàng năm không nên để bùn quá dày dễ bị thối, là nơi cư trú cho các sinh vật gây bệnh cá và sinh ra các khi độc như CH4, NH3, H2S, … Tránh bùn đen, bùn thối. 

II. Chuẩn bị ao

Muốn có một vụ nuôi thành công thì chúng ta cần phải làm tốt công tác chuẩn bị ao.

Trước khi thả 7 - 10 ngày, ao phải được làm cạn nước, dọn sạch rong, cỏ, bụi cây quanh bờ. Nếu ao mới đào phải phải tạo lớp bùn đáy thích hợp (tốt nhất nên giữ lại lớp bùn bề mặt).

Nạo vét bùn đáy không nên để quá dày, tốt nhất độ dày bùn đáy ao từ 15-20cm.

Sửa dọn bờ ao cho chắc chắn, lấp các hang hốc quanh ao.

Bón vôi tẩy trùng ao 7-10 kg/100m2 để diệt cá tạp và các vi khuẩn gây bệnh cho cá, cải tao nền đáy ao.

Phơi đáy ao 3-4 ngày nhằm khử trùng đáy ao và thoát các khí độc ở đáy ao.

Bón phân gây màu nước ao nhằm cung cấp chất dinh dưỡng tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá, giảm độ phèn, giúp cho pH trong ao ít biến động. Liều lượng dùng: phân chuồng 20-30kg/100m2 (Đối với những ao có lớp mùn đáy tốt không nhất thiết cần bón phân)

Lấy nước vào ao: nước khi lấy vào ao phải được lọc qua lưới mắt nhỏ tránh cá tạp, cá dữ theo vào ao nuôi hại cá và cạnh tranh thức ăn. Đặc biệt các nguồn nước tự nhiên hiện nay thường có cá Rô phi con đẻ ngoài tự nhiên dễ theo nước vào ao nếu chúng ta không dùng lưới lọc khi lấy nước, khi đó cá rô phi sẽ cạnh tranh thức ăn cao đạm, đắt tiền khi nuôi cá trắm đen. 

III. Chuẩn bị cá giống, thả cá và chăm sóc cá sau khi thả

1. Chuẩn bị cá giống và mật độ thả

Chọn cá giống khoẻ mạnh không xây xát không dị dị hình, kích cỡ đồng đều.

Có thể thả giống bé cỡ 30-50g/con hoặc giống lớn cỡ 200 - 300g/con.

Mật độ thả: đối với giống cỡ 30-50g/con thả với mật độ 2 con/m2, với giống cỡ lớn 200-300g/con thả với mật độ 1 con/m2 (để tránh lãng phí diện tích nuôi). Khi cá lớn tùy thuộc vào điều kiện nguồn nước khả năng canh tác có thể giãn bớt mật độ nuôi.

Đối với ao nuôi cá trắm đen thhơng phẩm có thể nuôi đơn hoặc nuôi ghép. Nếu nuôi ghép cần lưu ý đối tượng ghép để tránh cạnh tranh thức ăn với cá trắm đen, hoặc ghép những loài có giá trị cao hoặc những loài có khả năng làm sạch môi trường ao nuôi. Các đối tượng ghép hiện nay có thể thả cá chép, cá mè, cá rô đồng... Mặc dù ghép cá mè trắng trong ao nuôi không có sự cạnh tranh thức ăn và còn làm sạch nước ao nhưng loài này lại cạnh tranh ô xy trong ao nuôi với cá trắm đen rất nhiều, hơn nữa hiện nay giá cá mè trên thị trường rất dẻ nên các hộ nuôi cần lưu ý. Tỷ lệ ghép thường 80% cá trắm đen và 20% các đối tượng ghép khác, riêng cá rô đồng nên nuôi ghép mật độ cao khi mới thả cá trắm đen giống và chỉ nên thả vào vụ Xuân-Hè.

Cá cần được tắm nước muối loãng nồng độ 2% (2 kg muối/100 lít nước) hoặc kháng sinh 30 ppm trong 10 phút trước khi thả cá.

Thả cá vào thời điểm mát trong ngày. Khi thả cá cần được cân bằng nhiệt giữa bao cá và môi trường nước ao nuôi.

2. Thức ăn và cách chăm sóc

Thức ăn sử dụng cho cá trắm đen là thức ăn viên nổi có kích cỡ viên 1-10mm tùy theo kích cỡ miệng cá, thức ăn có hàm lượng đạm cao 40% protein và 10% lipid đối với giai đoạn cá giống; hàm lượng đạm 35% protein và 7% lipid đối với nuôi thương phẩm.

Hàng ngày cá được cho ăn 2 lần với tỷ lệ cho ăn dựa tính theo % khối lượng cơ thể, có điều chỉnh theo thời tiết, tình trạng môi trường ao nuôi và tình trạng sức khoẻ cá nuôi (lượng thức ăn giảm từ 7-5-3% trọng lượng cơ thể/ngày). Khi cá lớn >500g/con có thể cho ăn thêm ốc vặn (lượng ốc tùy thuộc vào giá ốc ở địa phương để điều chỉnh lượng thức ăn viên nhằm giảm giá thành thức ăn).

Ao nuôi duy trì đảm bảo mức nước sâu 1,5-2,0m, khi cá lớn >2kg cần duy trì mức nước sâu >2m. Hàng tuần có bơm thêm nước mới để kích thích sinh trưởng và thay nước bẩn nếu thấy cần thiết.

Hàng ngày (hàng tuần) theo dõi, kiểm tra môi trường nước: Nhiệt độ, ôxy hoà tan trong nước, pH, sử dụng các bộ test phân tích đánh giá môi trường nuôi để kịp thời xử lý.

Khi có biểu hiện không tốt về môi trường sẽ có những giải pháp kịp thời như sử dụng vôi xử lý môi trường hoặc sử dụng các loại thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học được phép của Bộ NN & PTNT.

Định kỳ kiểm tra tốc độ sinh trưởng bằng cách kiểm tra ngẫu nhiên 30 con, tính khối lượng cá trung bình hàng tháng để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp (lưu ý khi đánh bắt kiểm tra cần làm nhanh, nhẹ nhàng tránh gây xây sát cá làm cá dễ nhiễm bệnh sau kiểm tra).

Vào thời điểm chuyển mùa cá Trắm đen hay bị bệnh ta nên cho ăn thêm thuốc phòng bệnh có thể sử dụng thuốc Tiên đắc với liều lượng 100g thuốc dùng cho 500 kg cá/ngày cho ăn liên tục trong 3 ngày. Khi thấy cá có dấu hiệu bị bệnh dùng liều gấp 5 lần liều cho ăn phòng và cho ăn liên tục trong 5-7 ngày. Đây là thuốc thảo mộc, có thành phần chính là bột tỏi và tá dược bám dính nên khi sử dụng không ảnh hưởng đến tồn dư kháng sinh trong sản phẩm và không ảnh hưởng đến tốc độ tăng trọng của cá nuôi.

3. Một số bệnh thường gặp và cách khắc phục khi nuôi cá Trắm đen thương phẩm

Khi nuôi cá Trắm đen thương phẩm công nghiệp cá thường bị mắc một số bệnh:

3.1 Viêm ruột xuất huyết do ăn phải thức ăn kém phẩm chất sau nhiễm khuẩn gây viêm và xuất huyết ruột. Để hạn chế thiệt hại dừng ngay thức ăn nghi, thường xuyên kiểm tra thức ăn, tránh cho ăn thừa thức ăn và tránh thức ăn nhiễm nấm mốc, thức ăn có chất lượng kém. Dùng kháng sinh Enrofloxacine trộn thức ăn cho cá ăn 5 ngày liên tục với liều 30-50mg/kg cá/ngày, hoặc dùng thuốc “Fish Health” trộn thức ăn cho cá ăn 5 ngày liên tục với liều 1g/kg ca/ngày, kết hợp bổ sung vitamin C với liều 1g/kg thức ăn cho cá ăn 5-7 ngày 1 đợt.

3.2  Bệnh đốm đỏ giống bệnh đốm đỏ trên cá Trắm cỏ. Cá bị bệnh giảm ăn, dừng ăn, trên thân có biểu hiện tuột vảy, xuất huyết gốc vây, xuất huyết lỗ hậu môn, cơ thể cá chuyển màu tối, cá bơi lờ đờ quanh bờ. Nguyên nhân do đánh bắt, vận chuyển để cá bị xây sát trong môi trường nước bẩn khi đó vi khuẩn gây bệnh xâm nhậm và sinh bệnh. Xử lý bệnh như bệnh Viêm ruột xuất huyết.

3.3 Bệnh ngạt do thiếu khí

Cá Trắm đen khi nuôi thương phẩm rất nhậy cảm với thay đổi thời tiết, mỗi khi thay đổi thười tiết cá thường giảm ăn sau bỏ ăn, thiếu khí và khí độc nhiều gây chết ngạt cho cá nuôi. Khi nuôi cần xử lý môi trường ao nuôi bằng các chế phẩm sinh học thường xuyên và kịp thời cung cấp ô xy và nước sạch khi cần thiết. 

IV. Thu hoạch

Sau khi nuôi 8 tháng đến 1 năm cá đạt kích cỡ từ 2,5-3,5kg/con (có con vượt cỡ đạt 5-6kg) tiến hành thu tỉa để giảm mật độ. Năng suất ước đạt khoảng > 10 tấn/ha/vụ.

Đối với thu hoạch cá trắm đen nên thu hoạch vào các thời điểm: ngày nghỉ (30/4-1/5; 2/9), ngày lễ hội, tết cổ truyền. Các thời điểm này lượng khách tiêu thụ cá trắm đen tăng đột biến nên bán cá thương phẩm sẽ được giá hơn. Trước khi thu hoạch 2-3 ngày cho cá giảm ăn rồi dừng ăn để tránh gây shock cho cá trong khi thu hoạch, vận chuyển và lưu giữ cá. Cá thu hoạch cần đánh bắt nhẹ nhàng, nhanh tránh gây xây sát sẽ giảm giá trị và đặc biệt lưu ý số cá chưa đạt kích cỡ còn lại trong ao nuôi tiếp. Cá thương phẩm cần được vận chuyển bằng nước sạch, mát và cung cấp đủ lượng ô xy hòa tan./.

ThS. Kim Văn Vạn - BM NTTS - ĐH Nông nghiệp Hà Nội/ VOV

Kỹ thuật chăm sóc chim công

“Tuy là giống chim quý nhưng chim công lại rất dễ nuôi, dễ thuần. Đặc biệt nguồn thức ăn cho chim công vô cùng phong phú, rẻ tiền, có sẵn trong tự nhiên” - ông Nguyễn Hữu Khởi, triệu phú chim công ở Bắc Ninh chia sẻ.

Ông Khởi cho biết, chim công có nguồn gốc hoang dã, ưu điểm là tính thích nghi cao. Quy trình chăn nuôi công cũng giống như nuôi gà. Công là loài ăn tạp, nguồn thức ăn chủ yếu là ngũ cốc và rau xanh. Công có thể ăn các loại từ lúa, thóc, bắp, đến rau muống, rau lang, côn trùng, giun… Có thể dùng máng cho công ăn như nuôi gà, vịt hoặc có thể cho ăn tự do trong chuồng, nhưng phải đổ bê tông sạch sẽ, đảm bảo vệ sinh và sức khỏe cho chim.

Hai vợ chồng ông Khởi thường xuyên theo dõi cho chim ăn và máng ăn dùng cho gia cầm được sử dụng để cho chim công ăn rất hiệu quả. Ảnh: Đăng Quang.

Đối với thức ăn cho chim công non mới nở thì khẩu phần ăn là 100% cám tổng hợp (loại dùng cho gà). Do lúc này chim còn yếu, hệ tiêu hóa chưa phát triển hoàn thiện, cần nguồn thức ăn mềm, dễ tiêu hóa. Sau 30 ngày tuổi, hệ tiêu hóa của chim non đã cứng cáp hơn có thể pha thức ăn theo tỷ lệ: 70% cám – 30% thực phẩm bổ sung (như bắp, thóc nghiền). 

Cũng theo ông Khởi, tỷ lệ cám hỗn hợp trong khẩu phần ăn của chim công có thể giảm dần theo theo độ tuổi của chim. Chim công từ  6 – 8 tháng tuổi, có thể nuôi nhốt ngoài chuồng lớn cùng các cá thể khác thì tỷ lệ cám chỉ còn 50%. Cám tổng hợp sử dụng quá nhiều trong giai đoạn này làm chim giảm sức đề kháng tự nhiên, dễ mắc bệnh, đồng thời màu lông kém bóng đẹp, khả năng sinh sản cũng bị ảnh hưởng. Nguồn thức ăn trong giai đoạn này có thể bổ sung thêm các loại rau xanh thái nhỏ  như rau ngót, cải,… 

Các loại rau như bắp cải, rau muống… cũng thường được ông Khởi cho chim công ăn. Ảnh: Đăng Quang.

Khi chim đạt tuổi trưởng thành dùng cám tổng hợp kết hợp với các loại ngũ cốc nguyên hạt như bắp, thóc. Đặc biệt cần tăng cường nhiều rau xanh để tăng sức đề kháng. Ngoài ra, vitamin trong các loại rau xanh còn giúp chim công có bộ lộng bóng mượt, màu sắc rực rỡ.
Nước sử dụng cho chim công tuyệt đối phải là nước sạch. Với chim non nên dùng nước đun sôi để nguội để bảo vệ hệ tiêu hóa con non nớt của chim non.

Chim công là loài chim rất dễ nuôi, sử dụng nguồn thức ăn chủ yếu từ thiên nhiên nên chi phí thấp. Mặt khác, chuồng trại cho chim công khá đơn giản, có thể tận dụng từ những nguồn có sẵn. 


Chim công cũng có thể bị mắc một số bệnh như gia cầm, ví dụ như đi ngoài, cúm..., song, sức đề kháng của chim rất tốt, rất ít khi bị bệnh. Nếu công bị bệnh, các chủ trang trại chỉ cần ra hiệu thuốc thú y nói triệu chứng là mua được thuốc điều trị ngay. 

Chi phí ban đầu thấp, lợi nhuận thu về cao, có thể nói chim công là vật nuôi có giá trị kinh tế hiện nay. Với việc trang bị các dụng cụ hiện đại và chuẩn bị tốt cho công tác sinh sản trong quá trình nhân giống thì trung bình một con chim mái mỗi năm cho thu nhập từ 20 đến 30 triệu đồng. 

Đăng Quang (Dân Việt)