Showing posts with label Cây trồng khác. Show all posts
Showing posts with label Cây trồng khác. Show all posts

Monday, April 20, 2015

Kỹ thuật trồng gấc

1. Giai đoạn 1: 

- Chuẩn bị đất trồng: Cây Gấc không kén đất nhưng khuyến cáo chọn đất tốt để trồng. Đất trồng Gấc không bị úng và có khả năng thoát nước tốt khi mưa lớn. 


- Đào hố: hố trồng có chiều dài 1-1,2 m, rộng 1-1,2 m và độ sâu từ 40 – 60 cm. Khoảng cách giữa các hố: hố × hố: 3 - 4 m. Hàng × hàng: 4 - 5 m. Để riêng lớp đất mặt bên cạnh hố đào. Không đào hố trồng gấc ngay cạnh gốc cây trồng khác đang sống, nên đào với khoảng cách 1,5m -2m so với gốc cây trồng khác nếu trồng xen canh hoặc trồng trên đất vườn tạp.

- Xử lý hố trồng và tiến hành bón lót : Trộn phần lớp đất vừa đào từ hố lên với các loại phân bón sau: Gavi -Bio: 0,5 kg/hố, GV- hữu cơ vi sinh: 2 kg/hố, phân chuồng hoai: 10-15 kg/hố, Super lân 0,5-0,6 kg/hố. Chế phẩm sinh học có chứa Trichoderma 0,5-1 kg/hố. (Các bước trên thực hiện trước khi trồng 5 – 7 ngày).

- Thiết kế giàn: Giàn có thể dựng bằng các cây tạp, tre nứa hoặc cột bêtông. Bên trên gác các cành tre hoặc đan bằng dây thép hoặc dùng dây cước một sợi (đường kính dây khoảng 2mm) đan thành lưới (kích thước mắt lưới: 40cm x 40cm), sau đó căng lên giàn. Giàn bằng lưới cước chi phí thấp và có thể giữ được từ 3-5 năm. Cách làm này đang được triển khai rộng rãi ở các tỉnh hiện nay cho hiệu quả kinh tế cao. Chiều cao của mặt giàn so với mặt đất bình quân là 2m, phải đảm bảo giàn không bi chùng khi cây bò lên hoặc khi gấc ra trái. 

(Giàn gấc phải được thi công hoàn tất sau 3 tuần kể từ ngày trồng cây con). 

2. Giai đoạn 2: Tiến hành trồng cây 

Chuẩn bị hố ngay trước khi trồng:

- Dọn vệ sinh xung quanh hố (cỏ dại, cây cối…) 

- Xới nhẹ lại đất trong hố trồng 

- Cuốc 2 lổ nhỏ ngay giữa hố để đặt cây gấc giống, khoảng cách giữa 2 lỗ trong cùng 1 hố tối thiểu là 35cm

- Khi đã xử lý hố đất trồng 5 - 7 ngày thì tiến hành trồng cây con 

Lưu ý: Nếu trồng cây giống thực sinh thì khuyến cáo trồng 2 cây gấc trong 1 hố, vì: chúng ta theo dõi sau năm đầu tiên thu trái, cây nào trái ít, hoặc không ra trái,  trái nhỏ hoặc bị sâu bệnh nặng thì ta tiến hành cắt bỏ cây đó đi để cây gấc còn lại phát triển tốt hơn và đảm bảo nguồn thu hoạch gấc., đối với cây ghép hoặc cây hom thì trồng 1 hố từ 1 đến 2 cây. Thông thường, năm đầu tỷ lệ đậu trái thấp , lượng trái chưa nhiều. Cho nên, để tăng sản lượng và khả năng thụ phấn tự nhiên chúng ta nên trồng 2 cây. 

3. Giai đoạn 3: Tưới nước và chăm sóc

- Tưới nước: Cây gấc cần đất đủ ẩm nhưng rất sợ úng do đó phải tưới đủ nước và thoát nước ở gốc cây cho tốt. Ở giai đoạn này, cây cần độ ẩm của đất: 80 - 85%.

+ Khi thời tiết nắng nóng: phải tiến hành tưới nước, phủ rơm rạ, bao ni long để giữ ẩm cho cây. 

- Đào kênh tiêu nước: Cây gấc bị ngập nước sẽ làm cho cây úng và tạo điều kiện cho nhiều loại sâu bệnh tấn công, dẫn tới năng xuất giảm nếu bị úng nhẹ hoặc nếu ngập úng kéo dài có thể làm chết cây. Chính vì vậy, ở những vườn gấc trũng, ngập nước vào trời mưa thì phải tiến hành đào kênh tiêu nước. Mỗi kênh tiêu nước có kích thước rộng 50cm, sâu 30cm để thoát nước dễ dàng khi trời mưa lớn. 

- Sau 7 ngày tiến hành phun men sinh học Gavi - TriBio 5% dưới gốc và trên lá, với liều lượng pha loãng 300 lần. 

4. Giai đoạn 4: Sau trồng 15 - 30 ngày

- Bắt ngọn leo lên giàn và thường xuyên bắt các ngọn phân tán đều trên giàn; 

- Kiểm tra sâu, bệnh hại trên cây, nếu thấy có xuất hiện thì phải thực hiện phòng trừ. 

- Trong quá trình theo dõi, nếu thấy dây gấc nào vươn dài, nhỏ, yếu, bị sâu ăn lá thì tiến hành cắt bỏ để nhường dinh dưỡng nuôi dây khác. 

- Khi cây con bắt đầu leo lên giàn ( khoảng tuần thứ - tuần thứ 7 kể từ ngày trồng)tiến hành bón lót Phân NPK (16-16-8) 0,3-0,5 kg/hố.Trong giai đoạn này cần tiến hành phun thêm Gavi - TriBio 5% pha loãng 300 lần để tăng cường sức để kháng cho cây, hạn chế sâu bệnh hại. 

- Sau 2 tháng kể từ ngày trồng cần bón thêm chế phẩm Gavi - Bio 0,5 kg/hố để phòng trừ bệnh hại, tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng cho cây. 

5. Giai đoạn 5:  Bón thúc khi Gấc đã phủ lên giàn 

- Cách bón: đào rãnh rộng 10cm và sâu 10cm hoặc cào nhẹ lớp đất mặt trên hố gấc sâu 5-10cm, rồi tiến hành rãi phân GV hữu cơ vi sinh: 3kg trộn đều với đất dưới rãnh. Sau đó cuốc xới nhẹ lấp phân vào hố và tiến hành tưới nước. 

- Chủ động tưới nước giữ ẩm cho cây khi không có mưa phải đảm bảo độ ẩm từ 70-80%

- Theo dõi sâu bệnh và thực hiện phun thuốc phòng trừ sâu bệnh hại, đồng thời kết hợp phun Gavi - TriBio 5% để bảo vệ trái và cây trước sự tấn công của sâu bệnh hại.

6. Giai đoạn 6: Gấc bắt đầu ra hoa, kết trái (sau trồng khoảng tháng thứ 3, thứ 4

- Tiến hành bón thúc cho cây bằng phân trung vi lượng có gốc Canxi-Bo nhằm kích thích sự phát triển trái, tăng khả năng ra hoa, đậu trái. 

- Cách phun: Pha 10ml/16 lít nước phun đều dưới tán lá, nách lá, trái, quanh gốc. Phun làm 2 lần mỗi lần cách nhau khoảng 10 ngày, phun vào buổi sáng sớm hoặc khi chiều mát trời. 

- Tưới nước: Giai đoạn ra hoa và phát triển trái, cây gấc cần phải cung cấp đủ nước cho cây, giai đoạn này cần giữ độ ẩm cho đất 70-80%

- Xử lý ra hoa và kết trái ( giai đoạn tháng thứ 4, thứ 5): Đối với cây chưa ra trái hoặc không đậu trái tiến hành xử lý như sau: 

Cách 1: 

- Cắt tỉa những dây gấc nhỏ, yếu, kém phát triển. Đối với những dây gấc phát triển tốt, khỏe cần tiến hành bấm đọt, vị trí bấm đọt cách gốc 7m

- Đồng thời bón thúc bổ sung dinh dưỡng cho cây nhằm giúp cây tăng tỷ lệ ra hoa và đậu trái. 

+ Bón gốc: Phân hữu cơ vi sinh: 1-1,5 kg/hố, phân NPK (20-20-15) 0,3-0,5 kg/hố, phân chuồng hoai: 5-10 kg/hố. Trộn toàn bộ số phân trên với lớp đất mặt của gốc gấc sau đó lấp lại và tưới nước cho ẩm. 

Lưu ý: Để giúp cây hấp thụ tốt dinh dưỡng ở giai đoạn này cần phải tưới nước thường xuyên để tạo độ ẩm 

+ Bón lá: Kết hợp với phân bón lá trung vi lượng có gốc KNO3 hàm lượng 30-50g/8 lít nước. Cách phun: Phun toàn thân cây từ cành, lá. thân, nách lá, gốc phun lúc mát trời nhắc lại 7-10 ngày

Lưu ý: Công việc này thực hiện trước mùa mưa ít nhất 20-30 ngày

- Chăm sóc khi cây đã ra hoa: Sau khi đã xử lý như trên khoảng 20-30 ngày sau tiến hành giữ độ ẩm trong đất đạt 70-80% bằng cách thường xuyên tưới nước nếu trời không mưa. 

Cách 2: 

- Đầu tiên cắt những gốc không ra trái, với vị trí cắt cách gốc 60 cm

- Sau 1 tuần các nhánh mới ở những cây không ra trái sẽ bắt đầu đâm ra. 

- Sau đó tiến hành chọn những nhánh ở cây mang trái để ghép vào các nhánh của cây không trái. 

Lưu ý: chọn các nhánh ghép không được non, cũng không già quá. Để đảm bảo tỉ lệ cây sống cao nên trùm bao nilong vào nhánh mới ghép để tránh mất nước, hạn chế sự tấn công của sâu bệnh. 

- Sau khi đã đậu trái, phun phân bón lá NPK (20-20-15) để trái phát triển. Trong giai đoạn trái đang phát triển mạnh, cần kết hợp phun thêm kali 100% để trái chắc, tránh nứt trái, chất lượng cao. 

- Trong quá trình cây mang trái nên tiến hành tỉa bỏ những nhánh vô hiệu (nhánh không mang trái), khống chế chiều dài của dây gấc khoảng tối đa 5-6 m nhằm tập trung dinh dưỡng nuôi trái, tránh tình trạng cây tập trung phát triễn thân lá hoặc trái nhiều cây không nuôi nổi trái. 

Cách phòng trừ sâu bệnh hại có thể gặp trên cây gấc 

1. Sâu hại: 

+ Bọ dừa: Bọ cánh cứng dài 8mm cánh màu vàng ăn phá hoại lá gấc. Phòng trừ bằng cách xịt các loại thuốc như Tata 25WG xịt đều trên lá. 

+ Rầy mềm: bu mặt dưới lá hút nhựa, xịt Decis 50ND hoặc Vicidi-M 50ND 20-30ml/bình 8 lít

+ Nhện đỏ: tập trung nhiều ở mặt dưới lá thường thấy trong mùa nắng làm úa lá vàng, xoắn lá, dây gấc mọc cằn cỗi phòng trừ bằng cách phun Alfamite 15EC hoặc SK Enpray 99EC xịt đều trên lá. 

+ Ruồi trái cây: phá hại nặng khi gấc có trái. Ruồi chích trái đẻ trứng ấu trùng phát triển phá vỏ trái làm thối trái, trị bằng cách phun xịt dung dịch Oncol 20EC liều lượng 30ml/8lít, vệ sinh lượm đốt bỏ các trái gấc thối rụng. 

+ Sâu xanh: Sâu xanh ăn hại lá gấc: giai đoạn non chúng thường cuốn lá để làm tổ, sau đó chúng tiến hành ăn khuyết lá, làm cho lá gấc. dùng thuốc Padan 95SP liều lượng 10 - 15 g/10 lít vào chiều mát. 

2. Bệnh hại thường gặp: 

+ Đốm lá: do nấm Pseudope-ronopora cubensis Rostow gây bệnh lá gấc bị bệnh mặt trên có nhiều chấm vàng, mặt dưới có các chất xám sau đó lá chết héo. Dây gấc bị bệnh phát triển kém không cho trái hoặc cho ít trái, trái nhỏ phẩm chất kém, phòng trị bằng cách xịt dung dịch Viben – C hoặc Viroral 50BTN lên lá. 

+ Bệnh cháy lá: do nấm Collectrichum lagenarium Ell and Halst gây bệnh. Lá gấc bị bệnh cháy thành đốm hoặc cháy khô cả lá phòng trị giống như bệnh đốm lá. 

+ Bệnh hoa lá: do virus (CMV) gây bệnh lá gấc bị bệnh thường bị đốm vàng xoắn lá dây mọc còi cọc không cho trái, bệnh do cực vi trùng gây ra không có thuốc trị, phòng trừ bằng cách nhổ bỏ phun thuốc trị bọ dừa và rầy mềm truyền bệnh cũng giảm bớt bệnh. 

+ Tuyến trùng: Tuyến trùng Meloidogyne spp. làm rễ, dây gốc bị tuyến trùng phá hoại trông còi cọc phát triển kém, vàng cho trái hoặc không cho trái. Phòng trừ bằng cách rải một hố 30gram Vifuran 10H hoặc 20gram Vimoca 10G khi gieo hạt hoặc trồng cây con. 

Thu hoạch gấc 

- Thu hoạch: Thu hoạch khi trái đã chín ( ½ quả chuyển sang đỏ), màng bọc ngoài hạt dày và có nhiều chất béo. Quả không dập nát, thối hỏng, không chín ép. Trọng lượng quả từ 0,8kg trở lên mới đạt yêu cầu. 

- Tiêu chuẩn thu mua: Quả gấc phải chín đều về sinh lý, không dập nát, thối hỏng…, không chín ép,  không giấm. Trọng lựơng quả từ 0,8kg trở lên. Màng gấc sấy khô phải đạt: độ ẩm 7% - 8%, màng không dị tật, mốc, cháy khét, sâu mọt,...(dùng tay bẻ gãy là được).

Theo Báo Nông nghiệp Việt Nam

Friday, March 27, 2015

Nhân giống cây luồng bằng phương pháp giâm cành

Luồng là cây dễ trồng, đầu tư ít, phù hợp với điều kiện kinh tế và tập tục canh tác của đa số các hộ gia đình nông dân miền núi.

Luồng có tên khác gồm: Luồng Thanh Hóa, Mét, Cọ luông, Mạy sang mú. Tên khoa học: Dendrocalamus barbatus Hsueh et D.Z.Li. Họ: Hòa thảo (Poaceae).

1. Chọn cây lấy giống

Chọn những cây bánh tẻ từ 8 - 14 tháng tuổi, thân xanh lá mạ phát triển đầy đủ cành lá, chồi ngủ to và khỏe, không bị sâu bệnh để chọn làm giống.

Cây lấy giống phải có năng suất măng cũng như có năng suất các sản phẩm cuối cùng vượt 15% so với năng suất trung bình của đám rừng có cây giống, sinh trưởng từ mức trung bình trở lên.

2. Thời vụ nhân giống

 Có 2 vụ chính:  

- Vụ xuân vào tháng 2 - 4.

- Vụ thu vào tháng 7 - 9.

3. Nhân giống luồng từ giâm cành

a. Chọn cành giâm: Lấy những cành bánh tẻ màu xanh thấm, có phần gốc cành lơn hơn 1cm ở cây mẹ 12 - 16 tháng tuổi. Cưa sát phần đùi gà và thân, chặt bỏ ngọn cành, để lại 35 - 40 cm (3 - 4 dóng).

b. Xử lý cành giâm: Ngâm gốc cành vào dung dịch hoá chất thuốc kích thích sinh trưởng. Lấy cành đến đâu ngâm luôn không để héo. Sau 8 - 10 giờ, vớt cành, ủ với cát ẩm (1 kg cát khô + 0,5 lít nước) hoặc mùn cưa (1 kg mùn cưa + 1 lít nước), nơi ủ phải thoáng mát.

Xếp cành nghiêng một góc 600 trên nền đất trong lán, cứ một lớp cành thì vùi một lớp mùn cưa hoặc cát dày khoảng 20 cm15 ngày đầu giữ cho độ ẩm của mùn cưa hoặc cát trong khoảng 85 - 90%, sau đó độ ẩm của mùn cưa, cát có thể giảm đi một chút.

c. Ươm giống: Sau thời gian ủ từ 20 - 25 ngày, quan sát cành nào có rễ cám và chồi ngủ phát triển mạnh thì đem ra ươm tại vườn hoặc trong bầu, những cành khác tiếp tục ủ cho đến khi ra rễ cám.

+ Ươm tại vườn: Đất khu ươm phải tơi xốp, bằng phẳng, gần nguồn nước, tiện đường vận chuyển, đất vườn ươm phải là đất thịt hoặc đất thịt nhẹ, làm đất kỹ, bón phân lót, lên luống nếu nền đất thấp dễ ngập úng, nền đất cao thì ươm theo rạch.

Cự ly cây ươm trên luống 25 x 40 cm, hoặc 25 x 30 cm. Lèn chặt gốc cành giâm, rồi tưới nước theo rạch, với lượng nước tưới 5 lít/m2, sau đó lấp đất vào rạch cho bằng mặt luống. Khi trời nắng phải làm giàn che (cao 2 - 2,5 m so với mặt luống). Thường xuyên tưới nước, làm cỏ phá váng, bón thúc bằng phân chuồng hoai và phòng trừ sâu bệnh nhất là sâu cắn lá.

Giảm dần lượng nước tưới để cây con thích nghi với điều kiện sống khi trồng: 10 ngày đầu tưới đều, 1 ngày 1 lần, 5 lít/m2. Sau 10 ngày thì cứ 4 - 5 ngày tưới 1 lần, khi cây trồng được hơn một tháng định kỳ 10 - 20 ngày tưới một lần, mỗi lần tưới 10 lít/m2.

Sau 6 - 8 tháng, khi măng đã ra lá, không bị sâu bệnh thì có thể xuất vườn.

+ Ươm giống trong bầu: Vỏ bầu làm bằng polyetylen hoặc bằng đất, kích thước 10 x 15 cm hoặc 13 x 18 cm, bầu phải thủng đáy. Thành phần ruột bầu gồm 85% đất thịt nhẹ + 15% phân chuồng hoai trộn đều. Khi cho hỗn hợp ruột bầu vào bầu chú ý chỉ cho đến 1/3 chiều cao của bầu, sau đó lèn chặt rồi cho cành ươm đã xử lý vào bầu, tiếp tục cho đất đã trộn phân đến 3/4 bầu rồi lèn chặt, sau đó tưới ít nước, tiếp tục cho hỗn hợp vào đầy đến miệng bầu, không lèn chặt phần ruột bầu phía trên.

Bầu đặt cách nhau 13 cm, phủ đất kín đến 3/4 chiều cao của bầu, vườn ươm phải có giàn che từ 40 - 50% ánh sáng mặt trời. Thường xuyên chăm sóc cây ươm như: tưới nước, làm cỏ, phá váng, bón thúc.

+ Tiêu chuẩn cây giống xuất vườn: Cành giâm từ 6 - 8 tháng tuổi. Có ít nhất một thế hệ mới đã ra lá (mọc từ mắt ngủ của mấu cành), bộ rễ ra nhiều, phát triển mạnh, nhiều lá mới màu xanh.

+ Ưu điểm: Giống cành giâm có thể sản xuất được số lượng lớn đảm bảo trồng rừng luồng trên quy mô lớn với giá thành hợp lý; dễ vận chuyển, chủ động thời vụ, tỷ lệ sống cao, dễ làm.

+ Nhược điểm: Tốn công chăm sóc trong thời gian phải giâm tạm, thời gian thành rừng lâu hơn so với các giống khác./.

Theo TTKNQG/ VOV

Thursday, March 26, 2015

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây trám đen

Trám đen có thể trồng được ở những nơi có độ cao trung bình dưới 800m so với mực nước biển, thích hợp nhất là dưới 400 m.

Cây trám đen có tên khác: Bùi, Co mác bây (Tày, Nùng). Tên khoa học: Canarium tramdenum Dai & Yakovl. Họ: Trám (Burseraceae). Trám đen là cây gỗ lớn, cao trung bình từ 25 - 30 m, đường kính ngang ngực có thể tới 90cm hoặc hơn.

Ảnh minh họa

Thân thẳng, gốc hơi có múi, phân cành khá cao khi mọc trong rừng tự nhiên, nếu mọc ngoài bìa rừng hoặc nơi trống phân cành khá sớm. Quả khi non có màu xanh nhạt, khi chín có màu tím đen, thịt màu hồng thẫm, mỗi quả có một hạt.

Ở nước ta, trám đen thường mọc tự nhiên rải rác trong các khu rừng nhiệt đới, lá rộng thường xanh, từ các tỉnh vùng núi phía Bắc đến miền Trung và Tây Nguyên. Hiện nay trám đen đã được gây trồng khá rộng rãi ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ, kể cả vùng trung du và miền núi, nhất là trồng phân tán trong các vườn rừng, vườn hộ quanh nhà hay quanh vườn để lấy quả.

1. Kỹ thuật trồng

a. Chọn đất và nơi trồng:

Trám đen có thể trồng được ở những nơi có độ cao trung bình dưới 800m so với mực nước biển, thích hợp nhất là dưới 400 m. Có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng tầng dày (độ sâu tầng đất > 80 cm), giàu mùn, ẩm thường xuyên, thoát nước. Thích hợp nhất là các loại đất sét hoặc sét pha, đất dốc tụ hoặc đất bồi tụ, đất phù sa ven sông… không nên trồng trên đỉnh đồi, độ dốc không quá 30 độ.

b. Thời vụ trồng:

Thời vụ trồng trám đen ở các tỉnh vùng núi phía Bắc thích hợp nhất là vụ xuân – hè (từ tháng 2 – 4) hoặc vụ hè – thu (từ tháng 6 – 8), các tỉnh miền Trung thường trồng vào vụ thu thu – đông ( từ tháng 8 – 12), các tỉnh Tây Nguyên và Nam bộ trồng vào vụ hè – thu (từ tháng 6 – 9), khi đất đủ ẩm và có mưa thường xuyên, chọn những ngày râm mát hoặc mưa nhỏ để trồng.

c. Phương thức và mật độ trồng:

Theo kết quả của một số công trình nghiên cứu gần đây cho thấy có thể trồng trám đen theo 3 phương thức chính sau:

- Trồng tập trung thuần loài:

Đây là phương thức trồng đã áp dụng ở một số địa phương như Hòa Bình, Bắc Giang và Thanh Hóa, có thể trồng thuần loài trên đất trống có cây phù trợ hoặc không có cây phù trợ. Mật độ trồng là 1.600 cây/ha (3 x 2m). Cây giống áp dụng cho phương thức này có thể là cây gieo từ hạt hoặc cây ghép.

- Trồng rừng hỗn loài:

Đây là phương thức trồng phổ biến ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc, có thể trồng trám đen hỗn loài với các loài cây lá rộng bản địa khác như lim xanh, trám trắng, chẹo, gội nếp, gội trắng… hoặc hỗn loài với các loài cây khác thường lá 1.600 cây/ha (3 x 2 m), tỷ lệ giữa các loài khác với trám đen là như nhau. Ngoài ra, có thể trồng trám đen hỗn loài trong rừng thứ sinh nghèo kiệt, hoặc trảng cây bụi dày sau nương rẫy; mật độ trồng thường là 500 cây/ha (5 x 4 m). Cây giống áp dụng cho phương thức này thường là cây con gieo từ hạt.

- Trồng cây phân tán hay nông lâm kết hợp:

Đây là phương thức trồng phổ biến ở các tỉnh Trung du vùng núi phía Bắc và Bắc Trung bộ, nhất là trong các chương trình khuyến lâm của Bộ Nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2001 - 2012. Mỗi gia đình có thể trồng một vài chục cây, nhiều nhất không quá 100 cây trên nương rẫy theo phương thức nông lâm kết hợp, hay trồng xen với cây ăn quả trong các vườn hộ hay rừng. Cây con sử dụng để trồng phân tán trước đây đều trồng bằng cây con gieo từ hạt, nhưng trong khoảng những năm gần đây chủ yếu trồng bằng cây ghép. Mật độ trồng cây ghép thường là 500 cây/ha (5 x 4 m).

c. Xử lý thực bì

Đối với phương thức trồng phân tán trong các vườn hộ, vườn rừng hay xung quanh nhà thường thực bì rất ít hoặc không có, nên chỉ cần xử lý cục bộ xung quanh vị trí cuốc hố. Đối với các trạng thái rừng thứ sinh nghèo kiệt, hoặc trảng cây bụi thực bì khá dày nên cần xử lý theo băng (rạch) chạy song song với đường đồng mức, băng (rạch), chặt rộng 2m, băng chừa rộng 3m, chặt toàn bộ cây bụi thảm tươi trên băng (rạch), chỉ chừa lại những cây gỗ từ 6cm trở lên và những cây tái sinh có giá trị kể cả cây gỗ và cây lâm sản ngoài gỗ. Công việc này phải thực hiện trước khi trồng rừng ít nhất 1 tháng.

d. Làm đất

Làm đất theo phương thức cục bộ, dùng dụng cụ chuyên dùng đào hố thủ công, kích thước hố là: 40 x 40 x 40 cm hoặc 60 x 60 x 50 cm tùy theo đặc điểm ở từng nơi trồng rừng, nơi đất tốt, bón lót ít phân hữu cơ cuốc hố kích thước nhỏ; nơi đất xấu, nhiều sỏi đá cần bón nhiều phân hữu cơ thì cuốc hố lớn. Bón lót, nơi đất xấu bón từ 5 – 10 kg phân chuồng hoai (gồm các loại phân: gà, lơn, trâu, bò) kết hợp với 0,3 kg phân NPK (5:10:3)/hố. Nơi đất tốt cũng nên bón từ 2 – 3 kg phân chuồng hoai kết hợp với 0,3 kg NPK (5:10:3)/hố. Lấp đất xuống hố đến đâu đảo phân đều đến đó và lấp đầy miệng hố. Việc cuốc hố phải hoàn thành trước khi trồng ít nhất 1 tuần.

e. Kỹ thuật trồng

Sử dụng cuốc hoặc thuổng đào một lỗ nhỏ ở giữa hố đã lấp đất, kích thước hố phải lớn hơn bầu đất của cây giống, xé vỏ bầu, đặt bầu cây ngay ngắn giữa hố và lấp đất, dùng tay ấn nhẹ xung quanh bầu sao cho không làm vỡ bầu đất, vun đất hình mai rùa xung quanh gốc và cao hơn mặt đất xung quanh từ 4 – 5 cm để tránh đọng nước mưa. Sau khi trồng tháng cần kiểm tra để trồng dặm những cây chết hoặc trồng thay thế những cây có nguy cơ bị chết hoặc sinh trưởng kém bằng những cây con đủ tiêu chuẩn dự phòng ở vườn ươm.

2.  Kỹ thuật chăm sóc

Chăm sóc 4 năm đầu kể từ khi trồng, mỗi năm có thể chăm sóc từ 2 - 3 lần tùy theo mức độ thực bì ở từng địa điểm cụ thể. Nội dung chăm sóc chủ yếu là cắt bỏ dây leo quấn lên thân cây trám, dãy cỏ và phát dọn cây bụi thảm tươi xung quanh gốc rộng từ 80 – 100 cm, cuốc xới và vun gốc cây rộng từ 60 – 80 cm, phát tỉa cành và điều chỉnh độ tàn che của tán rừng, hoặc tán cây khác sao cho phù hợp với nhu cầu ánh sáng của cây trám ở từng giai đoạn. Ngoài ra có thể bấm ngọn, tỉa cành nhánh để tạo tán cho từng cá thể, sao cho chúng sinh trưởng và phát triển cân đối, nhiều cành nhánh, tán rộng nhằm nâng cao năng suất quả và hạn chế phát triển chiều cao để dễ thu hoạch, nhất là với những cây ghép./.

PGS. TS. Nguyễn Huy Sơn /Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam/ VOV

Sunday, March 22, 2015

Phòng trừ bệnh chổi rồng hại sắn

Hiện nay chưa có thuốc đặc trị bệnh chổi rồng trên cây sắn, vì vậy công tác phòng bệnh là chính. 

Sắn nhiễm bệnh chổi rồng ở xã Sơn Hội, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên 


Triệu chứng: Hom giống bị nhiễm bệnh chổi rồng lên mầm và sinh trưởng kém, lóng thân của mầm ngắn, lá thường nhỏ hơn bình thường. Chồi của những cây bị bệnh thường rụt ngắn, cây thấp lùn. Trên thân cây đang sinh trưởng, tại các mầm ngủ thường mọc rất nhiều chồi phụ. Cây bị bệnh sinh trưởng kém, giảm năng suất và chất lượng củ nghiêm trọng. 
Đối với những cây bị nhiễm bệnh nhẹ và thời điểm nhiễm bệnh muộn, khi đến gần thời kỳ thu hoạch thì ngọn cây bị chết khô, các chồi trên thân mọc thành nhiều chùm nhánh như bụi cỏ, cây thường ít của và củ rất nhỏ. 

Khi bị nhiễm bệnh nặng, thân cây có biểu hiện chảy mủ và chuyển màu nâu xám. 

Nguyên nhân: Kết quả phân tích và giám định của Viện Bảo vệ thực vật cho thấy, tác nhân gây lên bệnh chổi rồng trên sắn là do một loài dịch khuẩn bào (tên khoa học là Phytoplasma). Đây là một loài dịch hại chuyển tiếp từ virus và vi khuẩn. 

Điều kiện phát sinh gây hại: Bệnh chổi rồng hại sắn thường phát sinh lây lan qua 2 con đường: 

+ Hom giống bị nhiễm bệnh. 

+ Do một loài rầy xám (tên khoa học Hishimonus phycitis) là môi giới lan truyền bệnh. 

Bệnh thường phát sinh và gây hại trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ cao. Vì vậy bệnh thường gây hại nặng vào các tháng mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm). Những năm gặp thời tiết mưa bão nhiều, bệnh thường gây hại rất nặng trên những nương sắn trồng độc canh, ít được đầu tư chăm sóc. 

Biện pháp phòng trừ: Hiện nay chưa có thuốc đặc trị bệnh chổi rồng trên cây sắn, vì vậy công tác phòng bệnh là chính. 

- Đối với những nương sắn bị nhiễm bệnh gần đến thời kỳ thu hoạch, cần tập trung thu hoạch nhanh, thu gom và tiêu hủy (đốt) triệt để thân và các tàn dư khác như rễ, lá... nhằm tiêu hủy nguồn bệnh. 

- Luân canh cây sắn với các cây trồng khác họ như ngô, đậu tương, lạc, rau đậu... từ 1 - 2 năm, sau đó mới trồng lại sắn.

 - Đối với những nương sắn mới trồng, cần theo dõi thường xuyên để phát hiện những cây nhiễm bệnh nhằm tiêu hủy kịp thời, sau đó rắc vôi bột vào gốc để hạn chế bệnh lây lan. 

- Không được lấy giống (hom) sắn từ những vùng bị bệnh mang trồng. 

- Có thể xử lý hom giống trước khi trồng bằng nước nóng 54 độ C trong thời gian từ 60 - 90 phút hoặc một số loại thuốc như Kendal, Bion, Olivis nhằm loại trừ nguồn bệnh. 

- Lựa chọn một số giống sắn cho năng suất và chất lượng cao, có khả năng kháng với bệnh chổi rồng như giống KM 140, KM98-5, SM973 - 26... để trồng, hạn chế và không trồng giống sắn KM 94.

Văn Phú/ nongnghiep.vn

Bệnh thối nõn dứa

Trong thực tế sản xuất cho thấy, trên cây dứa xuất hiện loại bệnh hại gây khó khăn cho bà con nông dân trong việc phòng trừ, đó là bệnh thối nõn dứa

Thường xuyên kiểm tra định kỳ phòng bệnh thối nõn dứa
Dứa là loại cây trồng cho quả được nhiều người ưa thích vì hương vị thơm ngon và giàu chất dinh dưỡng. Cây dễ trồng, không kén đất nhưng thích hợp nhất trên những chân đất thoát nước tốt, đất tơi xốp, thoáng khí, đất đồi dốc, đất đỏ bazan. 

Dứa thích hợp trên chân đất có độ PH từ 4,5 - 5,0, là cây chịu hạn và chịu phèn. Dứa ưa thích thời tiết ấm áp, nhiệt độ thích hợp cho dứa sinh trưởng phát triển là 25 - 30 độ C, lượng mưa phân bố đều các tháng. Sản phẩm thu hoạch là quả dứa được cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến sản xuất nước giải khát… và có tác dụng tăng sức đề kháng cho con người chống chịu bệnh tật như kháng viêm và kháng phù, dưỡng da, giải nhiệt… 

Tuy nhiên, trong thực tế SX cho thấy trên cây dứa xuất hiện loại bệnh hại gây khó khăn cho bà con nông dân trong việc phòng trừ, đó là bệnh thối nõn dứa. 

Triệu chứng gây hại: Cây bị bệnh nõn dứa thường bị thối, có viền nâu hình gợn sóng, lá thối dễ dàng rút ra được khỏi thân. Nhìn toàn cây thấy các lá bị héo vàng và khô ở đầu lá. Phần gốc lá dứa bị thối có màu trắng úng nước, ranh giới giữa phần lá bị thối và phần lá chưa bị bệnh có những đường viền nâu nhạt đến nâu sẫm, cây bị bệnh nặng có mùi thối rất nồng và làm chết cả cây nhanh chóng. 

Điều kiện phát sinh gây hại: Bệnh gây hại trên các vườn dứa trồng bằng chồi cả 2 giống dứa phổ biến là Cayen và Queen, bệnh xuất hiện gây chết ngay từ giai đoạn cây mới trồng và có thể kéo dài đến khi quả chín làm giảm đáng kể đến năng suất dứa. 

Bệnh phát sinh gây hại nặng trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, đặc biệt sau các đợt mưa lớn, trên các vùng đất thoát nước kém, những ruộng trồng dứa liên tục trong nhiều năm, ruộng nằm dưới chân đồi, vườn dứa bón phân không cân đối, bón nhiều đạm dễ bị nhiễm bệnh. 

Nguyên nhân gây bệnh: Dựa trên các kết quả phân tích, bệnh thối nõn dứa do nấm Phytophthora gây ra, đây là loại nấm rất nhỏ tồn tại trong đất và trong tàn dư cây bệnh, cây trồng cũ trong nhiều năm. Bệnh lan truyền chủ yếu qua nguồn giống cây, lấy chồi từ ruộng cây dứa bị bệnh sang trồng ruộng chưa bị bệnh hoặc nguồn nước tưới đã nhiễm bệnh. 

Biện pháp phòng trừ: 

- Sau khi thu hoạch, trước khi vào vụ sản xuất mới phải vệ sinh sạch sẽ ruộng như thu gom tàn dư cây bệnh, tàn dư cây dứa cũ, chọn ruộng thoát nước tốt, tạo rãnh thoát nước và lên luống cao đối với những chân đất thoát nước kém... 

- Bón phân cân đối, hợp lý, đặc biệt không bón nhiều đạm. 

- Sử dụng một số chế phẩm như EM hoặc nấm đối kháng Trichoderma pha với nước tưới lên phân chuồng hoai mục, ủ khoảng 15 - 20 ngày sau đó tiến hành bón lót trước khi trồng dứa. 

- Chọn giống và cách xử lý giống dứa: 

+ Sử dụng cây giống và lựa chọn chồi dứa từ các cây không bị nhiễm bệnh, nên nhúng chồi dứa vào dung dịch thuốc trước khi trồng bằng các loại thuốc Aliette 80WP, Rhidomil Gold 68WG, 72 WP, Agri-Fos 400. 

+ Đối với cây dứa trong vườm ươm, nên phun thuốc khoảng 10 - 15 ngày trước khi chuyển ra ruộng trồng đại trà bằng các loại thuốc trên theo liều lượng khuyến cáo ghi trên bao bì của nhà sản xuất hoặc theo hướng dẫn cơ quan chuyên môn. 

- Trên những ruộng dứa trong nhiều năm trồng liên tục thường bị bệnh nặng thì nên tiến hành luân canh với cây trồng khác ít bị bệnh như ngô, mía, đậu tương, lạc trong vòng 1 - 2 năm trước khi trồng dứa. 

- Công tác điều tra phát hiện: Thường xuyên điều tra theo định kỳ, xác định chính xác thời điểm phát sinh của bệnh khi mới chớm xuất hiện với tỷ lệ bệnh thấp, mức độ gây hại đang ở diện hẹp để tiến hành chỉ đạo bà con phun trừ kịp thời nhằm hạn chế bệnh lây lan trên diện rộng bằng các loại thuốc đặc hiệu như Aliette 80WP, Rhidomil Gold 68WG, 72 WP, Agri-Fos 400, chú ý phun sát phần gốc cây.

 - Khi cây dứa bị hại nặng không có khả năng phục hồi tiến hành tiêu hủy, nhổ bỏ cây bị bệnh ra khỏi ruộng, bón vôi bột tiêu độc khử trùng ngay vào hố của cây đã nhổ bỏ. 

- Không bón đạm hoặc phun chất kích thích khi cây đang bị bệnh, chỉ tiến hành chăm sóc bón phân sau khi đã phun trừ bệnh và bệnh ngừng phát triển.

Nguyễn Huy Khánh/ nongnghiep.vn

Sunday, September 28, 2014

Kỹ thuật trồng thảo quả

Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb), tên khác: Đò ho, Thảo đậu khấu, Mác hấu. Thuộc họ: Gừng - Zingiberaceae. Hạt thảo quả là thuốc chữa đau bụng, đầy chướng, nấc, nôn ọe, tiêu chảy, sốt rét, hôi miệng, sâu răng... Bên cạnh công dụng làm thuốc, thảo quả còn được dùng nhiều làm gia vị.

Cây thảo quả ra hoa.

Cây thảo quả sống lâu năm, cao 2 - 3 m, thân rễ to, phân cành, mọc thành cụm. Cụm hoa dạng bông, mọc từ gốc thân, dài 15 - 20 cm. Đài dạng ống, tràng hoa màu vàng. Quả mọc thành chùm, hình trứng, màu đỏ tía. Hạt màu vàng nâu, có áo hạt, vị ngọt, mùi thơm hơi cay.

Thảo quả là cây đặc biệt ưa bóng, ưa ẩm nên chỉ có thể trồng được dưới tán rừng, ở độ cao 1.300 - 2.200 m, có khí hậu ẩm mát quanh năm, nhiệt độ trung bình năm 13 - 15,3oC, thường xuyên có sương mù, lượng mưa 3.500 - 3.800 mm/năm, độ ẩm không khí trung bình từ 90% đến bão hòa.

1. Nhân giống

- Nhân giống bằng hạt: Vào tháng 9, tháng 10 khi thu hoạch, chọn những chùm quả già, nhiều quả to, ở cây 5 tuổi trở lên. Bóc vỏ, đãi bỏ phần áo hạt và chỉ lấy hạt chìm. Vườn ươm được chọn kề bên nơi trồng thảo quả, dưới tán rừng, độ che phủ 60%, mặt đất bằng phẳng, đất được làm nhỏ, đánh luống cao.

Hạt giống thu được cần gieo ngay. Gieo hạt xong phải phủ cỏ khô. Hạt sẽ nảy mầm sau khi gieo 40 - 45 ngày. Chú ý, tỉa thưa để có cự ly 20 x 20cm/cây. Cây con thừa dặm sang luống khác. Cây thảo quả con ở vườn ươm sau 1 - 2 năm mới nhổ đi trồng.

- Nhân giống bằng nhánh con: Tách một số nhánh non từ các khóm thảo quả trồng, cao khoảng 1m, ở gốc còn một đoạn thân rễ, cắt bỏ lá. Loại cây giống này không tốt bằng cây con gieo từ hạt.

- Thời vụ trồng: Từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau.

2. Kỹ thuật trồng

- Làm đất: Đất dưới tán rừng kín thường ẩm, độ cao 1.500 - 2.200 m, bề mặt tương đối bằng phẳng, hoặc có độ dốc dưới 15oC . Chặt phá bỏ tất cả các loại cây ở tầng dưới tán. Ở tầng tán chỉ để lại một số cây gỗ, đủ tạo nên tàn che 0,4 - 0,6%. Bổ hố trồng cự ly 3 x 4m/cây. Thảo quả không cần trồng sâu nhưng cần giẫm chặt gốc. Đất rừng mới khai phá còn màu mỡ không cần bón phân.

- Chăm sóc: Thảo quả là cây trồng bán tự nhiên nên chăm sóc đơn giản, ngoại trừ việc chặt phá, làm vệ sinh rừng 2 lần/năm.

+ Lần thứ nhất trước mùa hoa (tháng 2 - 3);

+ Lần thứ hai sau khi thu hoạch quả, lần này cần chặt bỏ những cây thảo quả già.

Chú ý: khi vệ sinh rừng phải nhổ bỏ tất cả những cây xâm lấn xung quanh gốc thảo quả. Cây trồng sau 3 năm bắt đầu có hoa quả, càng về sau càng nhiều hơn. Năng suất cao nhất từ năm thứ 6 - 15, trung bình 0,2 - 0,3 tấn quả khô/ha/năm và cây trồng có thể thu hoạch trong vòng hơn 20 năm.

3. Thu hoạch, chế biến

Vào khoảng tháng 10 đến hết tháng 11, khi thảo quả già thì tiến hành thu hoạch. Dùng dao cắt cả chùm quả đem về phơi hoặc sấy. Hiện nay, hầu hết những rừng trồng thảo quả thường xa nơi ở của các đồng bào, đi lại khó khăn. Để giảm công chuyên chở, vào mùa thu hoạch đồng bào thường làm lều ở tạm và sấy thảo quả luôn trong rừng. Khi sấy nên để cả chùm nhằm tạo độ thông thoáng cho nhanh khô, dễ đảo khi sấy. Khi quả đã khô tách lấy từng quả (bỏ cuống chung), đóng bao vận chuyển về nhà.

Thảo quả khô cần để nơi khô ráo, tránh ẩm vì dễ mốc.

TTKNQG