Saturday, April 11, 2015

Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con sau cai sữa

Để lợn sinh trưởng và phát triển tốt thì chăm sóc lợn con sau cai sữa là một trong những bước quan trọng.

Trước, trong và sau khi sinh sản, không chỉ lợn mẹ mà lợn con cũng được chăm sóc theo những chế độ phù hợp. (Ảnh: Hồng Liên)

1. Đặc điểm sinh lý của lợn con sau cai sữa:

- Lợn con dễ bị căng thẳng (stress) sau cai sữa vì thiếu lợn mẹ và khẩu phần thức ăn bị chuyển đổi từ sữa sang thức ăn khô.

- Bộ máy tiêu hóa của lợn con vẫn chưa phát triển đầy đủ, dễ bị mắc bệnh về tiêu hóa.

- Khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn còn kém, sức đề kháng cơ thể chưa cao.

Người chăn nuôi cần hiểu biết những đặc điểm sinh lý trên ở lợn con để có kỹ thuật nuôi dưỡng sao cho phù hợp.

2.  Bố trí lợn con sau cai sữa trong chuồng nuôi

Lợn bố trí nuôi trong cùng một ô chuồng cần tương đương về độ tuổi và khối lượng để đảm bảo đàn lợn phát triển đồng đều. Nhu cầu diện tích chuồng nuôi 0,4 - 0,45 m2/con. Mật độ khuyến cáo nên nuôi từ 10-25 con/1 ô chuồng, nhốt quá đông lợn dễ đánh nhau và khó kiểm soát khi có lợn ốm.

3. Thức ăn cho lợn con sau cai sữa

Chất lượng thức ăn cần có dinh dưỡng cao (protein thô cần 17-18% năng lượng trao đổi 3100 kcal/kg thức ăn hỗn hợp), dễ tiêu hóa (dùng các loại thức ăn như bột ngô, bột gạo, bột hoặc khô đỗ tương, bột cá nhạt).

Chế độ ăn cần phù hợp với đặc điểm sinh lý lợn con ở giai đoạn này và khuyến cáo như sau: Không thay đổi loại thức ăn vào ngày trước cai sữa, ngày cai sữa và 3-4 ngày sau cai sữa. Khi thay đổi thức ăn thì thực hiện từ từ trong vòng 3-4 ngày liền (theo trình tự giảm dần thức ăn cũ, tăng dần thức ăn mới, sau 4 ngày mới cho lợn chuyển sang ăn hoàn toàn thức ăn mới).

Cần thực hiện kỹ thuật cho lợn con sau cai sữa ăn hạn chế để phòng ngừa lợn chết do bệnh E.coli dung huyết (bệnh phù đầu lợn con), (cơ chế gây bệnh xem ở phần thú y). Cách cho ăn hạn chế trong 4 ngày đầu cụ thể như sau: Ngày cai sữa giảm đi 1/2, ngày tiếp theo giảm đi 1/3, ngày tiếp theo nữa giảm đi 1/4, ngày tiếp theo nữa trở về mức ăn như trước cai sữa, sau đó tăng dần lượng thức ăn theo khả năng ăn được của lợn con. Thức ăn chia ra nhiều lần trong ngày (4-6 bữa).

* Nước uống: Cấp đủ nước uống sạch và mát, thiếu nước lợn con ăn kém ngon miệng, chậm lớn, đánh nhau.

4. Tiêm phòng cho lợn con

Biện pháp kỹ thuật phòng ngừa bệnh tiêu chảy và viêm phổi ở lợn con sau cai sữa có thể tóm tắt gồm: Đảm bảo chất lượng thức ăn tốt, nuôi đúng kỹ thuật, vệ sinh máng ăn, máng uống thường xuyên, chuồng trại thoáng, đủ ấm, phát hiện bệnh kịp thời.

Chuyên gia Nguyễn Lân Hùng (Theo 100 nghề cho nông dân) (Dân Việt)

Quy trình nuôi vịt bố mẹ hướng thịt theo phương thức nuôi nhốt (Phần 3)

Phần 3: Chọn giống, nhiệt độ, ánh sáng

Chọn giống

- Con giống nhập vào trại phải đảm bảo an toàn dịch bệnh, có nguồn gốc rõ ràng từ các cơ sở đảm bảo chất lượng, có giấy kiểm dịch khi xuất bán. 

- Vịt giống phải chọn khắt khe, không khoèo chân, không hở rốn, không khô chân, vịt khoẻ mạnh nhanh nhẹn, đảm bảo khối lượng sơ sinh đạt 50gram/con trở lên. Vịt bố mẹ phải lấy nở từ đàn ông bà.

- Khi vịt nuôi được 49 ngày tuổi đối với phương thức thâm canh và 56-60 ngày tuổi đối với phương thức nuôi quảng canh, phải tiến hành chọn vịt vào giai đoạn hậu bị. Chọn vịt được thực hiện vào buổi sáng, khi vịt đói, khô lông. Dùng quây tre quây vịt lại thành từng nhóm, chỉ chọn những con có đủ tiêu chuẩn giống. Loại thải những cá thể có lông đen, dị dạng, ốm yếu, ngắn đòn. Vịt trống phải chọn lọc kỹ càng hơn. Chọn trống mái theo tỷ lệ 1:4

- Đến 21 tuần tuổi phải tiến hành chọn vịt vào giai đoạn đẻ và ghép trống mái. Vịt được chọn phải đảm bảo các chỉ tiêu như không quá mập có yếm bụng hay quá ốm, không bệnh tật, không dị hình, không quá ngắn đòn và cổ, không quá nhỏ đầu, không pha lông đen... Vịt trống còn được chọn kỹ hơn, nhất là về ngoại hình. Tỷ lệ ghép phối trống mái vịt siêu thịt là 1:6

Nhiệt độ


- Khi mới nở ra, vịt con đòi hỏi cung cấp nhiệt độ cao do cơ thể chưa hoàn thiện cơ chế điều hoà thân nhiệt. Nếu để vịt bị lạnh, vịt sẽ còi cọc, dễ nhiễm bệnh, tỷ lệ chết cao. Giai đoạn sau, vịt phát triển lớn lên chúng có thể sản sinh nhiệt để đảm bảo thân nhiệt tốt hơn. Sau khi bộ lông vũ phát triển đầy đủ sẽ giúp vịt có khả năng giữ ấm cơ thể tốt hơn, ngay cả khi nhiệt độ môi trường xuống thấp. Yêu cầu nhiệt độ chuồng úm: 

+ Ngày tuổi 1-3: 340C

+ Ngày tuổi 4-7: 33-300C

+ Ngày tuổi 8-14: 29-260C

- Nguồn nhiệt sử dụng để úm vịt thông thường bằng điện. Sử dụng các bóng đèn tròn có công suất 75-100W để úm cho vịt. Số lượng bóng đèn tuỳ thuộc vào nhiệt độ môi trường sao cho đảm bảo yêu cầu nhiệt độ chuồng úm như trên. Khoảng cách bóng đèn so với nền chuồng khoảng 40-45cm. Một nguồn nhiệt khác cũng rất thông dụng cho việc úm vịt đó là gas. Mỗi bình gas có thể úm cho 1000 vịt con, trong trường hợp không đảm bảo nhiệt độ úm thì có thể bổ sung thêm bằng đèn điện. Lưu ý khi mắc các chao đốt gas phải chếch 1 góc 400 để nhiệt độ được phân phối đều trên nền chuồng. Ngoài ra có thể sử dụng các nguồn nhiệt khác để úm như đèn măng-xông, đèn hồng ngoại, chú ý tuyệt đối không dùng bếp than đá để úm vịt (gây ngộ độc khí CO). 

Ánh sáng: 

Thời gian sinh sản của vịt được tăng lên nhờ vào việc chiếu sáng bổ sung. Nếu không chiếu sáng bổ sung thì vịt sẽ đẻ trứng sớm muộn do ảnh hưởng mùa vụ khác nhau với sự thay đổi độ dài ngày đêm khác nhau. Yêu cầu thắp sáng cho vịt con là 23 giờ/ ngày và duy trì 1 giờ tối để vịt làm quen khi bị mất điện đột xuất, giúp vịt không hoảng sợ khi bị mất điện. Giai đoạn vịt hậu bị và vịt đẻ , thời gian chiếu sáng là 17 giờ/ngày. Cường độ chiếu sáng là 10 lux đã có tác dụng tốt đối với sự phát dục ở cả vịt đực và mái. Mỗi bóng đèn sợi đốt có công suất 100W sử dụng cho 20m2 là 1,8m và mỗi bóng đèn nên có chao để có thể tận dụng ánh sáng tối ưu. Những nơi không có điện thì có thể dùng đèn măng-xông, bình ắc quy hoặc gas để thay thế.

Nguồn: Dự án phát triển chăn nuôi Thủy cầm an toàn sinh học


Quy trình nuôi vịt bố mẹ hướng thịt theo phương thức nuôi nhốt (Phần 2)

Phần 2. Ao hồ:

Yêu cầu chung về ao hồ nuôi vịt: Ao sâu có độ sâu phù hợp với từng giai đoạn nuôi, theo định kỳ phải nạo vét vệ sinh ao. Nước ao phải sạch được thay thường xuyên, không được nhiễm phèn và mặn, Nếu nước có nhiễm phèn hay muối ở mức độ nhẹ thì có thể nuôi được vịt, nhưng phải tập cho vịt quen dần và trước khi thả vịt xuống ao phải cho vịt uống no nước ngọt. 

Ảnh minh họa

Ao hồ nuôi vịt con 

Trong tuần lễ đầu tiên không nên cho vịt con tắm ở ao diện tích lớn, vì như vậy vịt con sẽ sợ nước. Tốt nhất là xây một bể tắm nhân tạo hoặc dùng lưới quay một góc ao cho vịt con tắm. 

- Quy cách xây bể: 

+ Bể được xây tường bằng gạch, đáy đổ bê tông đảm bảo không thấm nước. Đáy bể được làm nghiêng với độ dốc 10% để tiện lợi khi xịt rửa vệ sinh. 

+ Kích thước: Bể được xây kế tiếp sân theo chiều dài của chuồng nuôi, chia thành nhiều ô liên thông có chiều rộng 3m, dài 4m, độ sâu 30cm. Tuỳ theo số lượng vịt nuôi mà sử dụng số ô cần thiết để tiết kiệm nước. Mỗi ô có thể sử dụng tắm cho 200 vịt trong 2 tuần lễ đầu. Hằng ngày rửa bể, bơm nước sạch vào 2-3 lần. Bằng cách này sẽ tránh được tối đa các bệnh đường ruột cho vịt. 

- Nếu không có điều kiện xây bể, chúng ta có thể dùng ao hồ tự nhiên cho vịt con tắm. Lúc vịt còn nhỏ nên dùng lưới quây thành một diện tích nhỏ, có cầu lên xuống với độ dốc 20% cho vịt tắm. 

Ao hồ nuôi vịt hậu bị và vịt đẻ

Ao hồ rất cần để vịt tắm sạch bộ lông và vịt đẻ dễ dàng giao phối. Mật độ ao là mặt ao cho 1 con vịt ( với điều kiện nước ra vào thường xuyên). Nếu ao hồ 2-3m2 khó thay nước thì phải nuôi thưa vịt hơn. Những nơi không có ao hồ, suối tự nhiên, chẳng hạn như ở các vườn cây... thì có thể xây bể tắm nhân tạo cho vịt. Cần nhớ rằng, cầu lên xuống ao hồ phải thật thoai thoải để tránh dập trứng vịt đẻ. 

Quy cách làm ao: 

+ Thành ao được đổ bằng bê tông, xây gạch hoặc kè đá. Cầu xuống ao bằng gỗ hay bê tông có độ dốc 30%, chiều rộng câu 1-2m để cho vịt lên xuống. 

+ Kích thước ao: Ao có kích thước tối thiểu bằng kích thước chuồng nuôi. Chiều rộng 12-14m, chiều dài theo chiều dài của chuồng nuôi, độ sâu 1,2-1,4m

+ Các trang trại quy mô lớn cần có thêm hệ thống ao hồ để xử lý nước, phân trước khi thoát ra ngoài. Xử lý nước ao lắng này bằng vôi, hoá chất. Phân vịt phải xử lý ở nhà chứa phân có xây tường xung quanh, mái lợp tránh mưa nắng, xử lý bằng vôi bột và hoá chất để hoại. 

Lưu ý: 

Chăn nuôi vịt truyền thống thì ao bơi là không thể thiếu. Tuy nhiên, trong thực tế ở các trang trại chăn nuôi tập trung thì lượng phân vịt hằng ngày hầu hết được thải xuống ao bơi. Hậu quả là hệ thống ao bơi bị ô nhiễm dễ nhiễm các mầm bệnh đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hoá ảnh hưởng đến năng suất cũng như nguy cơ lây lan dịch bệnh ra môi trường. 

Giải pháp tốt nhất đối với các trại có hệ thống ao bơi ô nhiễm đó là hạn chế thời lượng bơi ao hoặc có thể nuôi khô hoàn toàn (phương thức nuôi nhốt hoàn toàn). 

Khi áp dụng việc nuôi khô thì cần chú ý đảm bảo cung cấp nước uống đầy đủ và thường xuyên và có biện pháp chống nóng đặc biệt là giai đoạn vịt sinh sản. Nuôi vịt theo phương thức nuôi nhốt hoàn toàn làm giảm đáng kể tỷ lệ vịt mắc bệnh về đường tiêu hoá, từ đó làm giảm tỷ lệ loại thải vịt bệnh. Mật độ đối với phương thức nuôi khô phải thấp hơn so với phương thức nuôi có ao bơi, ở giai đoạn sinh sản không nên nuôi quá 3 con/m2 nền chuồng nhiều do vậy cần bổ sung chất độn chuồng thường xuyên hơn, diện tích sân chơi tối thiểu là bằng diện tích chuồng nuôi, trồng nhiều cây xanh trong sân chơi để giúp vịt chống nóng.

Nguồn: Dự án phát triển chăn nuôi Thủy cầm an toàn sinh học

Quy trình nuôi vịt bố mẹ hướng thịt theo phương thức nuôi nhốt (Phần 1)

Phần 1. Chuồng trại: 

Yêu cầu chung về chuồng trại nuôi vịt:

Chuồng nuôi vịt cần được xây dựng biệt lập cách xa nhà ở, khu dân cư, xa đường giao thông và các công trình công cộng đông người. Trại cần có tường rào bao quanh, tạo vành đai cách ly. Khu vực xây trại đảm bảo cao ráo, thoáng mát, không bị mưa tạt, gió lùa. Hướng xây dựng chuồng tốt nhất là hướng đông để có thể đón ánh nắng buổi sáng và tránh ánh nắng gay gắt vào buổi chiều. Cần bố trí chuồng vịt con, vịt hậu bị, vịt đẻ thành các khu riêng. Khoảng cách giữa các dãy chuồng nuôi tối thiểu là 20m nhằm đảm bảo sự thông thoáng và cách ly. Khu vực trại phải được trồng cây xanh để có thể giảm bức xạ nhiệt những khi trời nắng nóng. 

Ảnh minh họa

Kiểu chuồng nuôi phổ biến và phù hợp ở nước ta là hệ thống chuồng mở. Đây là kiểu chuồng không xây bịt kín xung quanh chuồng, thường được thiết kế gồm chuồng, sân chơi và ao bơi. 

Tuỳ thuộc vào quy mô, điều kiện tài chính mà người chăn nuôi có thể lựa chọn đầu tư xây dựng hệ thống chuồng trại kiên cố hay đơn giản sao cho phù hợp với vịt nuôi ở các giai đoạn khác nhau nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. 

Đối với chuồng nuôi vịt con 

- Chuồng úm vịt con phải đảm bảo không có gió lùa mạnh trực tiếp vào vịt con, nhất là trong tuần tuổi đầu tiên, vì nếu không vịt con sẽ bị mất nhiệt, còi cọc hoặc tỷ lệ chết cao. 

- Quy cách làm chuồng: 

+ Kiểu chuồng xây dựng theo kiểu chuồng mở. Xây dựng chuồng kiên cố bằng khung bê tông cốt thép, tường xây gạch hoặc có thể sử dụng các vật liệu địa phương như tre, gỗ, mái lá để làm chuồng. 

+ Kích thước chuồng úm không nên quá rộng vì khó đảm bảo nhiệt độ khi úm vịt. Chuồng có chiều rộng 6m, chiều dài 12m có thể úm cho 1500 đến 2000 vịt trong 2 tuần đầu. 

+ Tường xây cao 1m bằng gạch, bên trên sử dụng khung lưới B40 để tạo độ thông thoáng. Phần khung lưới B40 được sử dụng bạt để che chắn vào ban đêm, ban ngày mở ra để tạo sự thông thoáng giúp nền chuồng khô ráo. Với chuồng đầu tư đơn giản có thể sử dụng cót ép, phên tre để che chắn thay cho tường gạch. Kiểu chuồng đơn giản này có độ thông thoáng hơn, nhưng chú ý khi úm vịt cần sử dụng bạt che chắn để có thể đảm bảo nhiệt độ úm. 

+ Mái được lợp bằng tôn hay ngói xi măng với độ dốc 30%, nếu lợp bằng các loại vật liệu như lá dừa nước hoặc rơm thì cần có độ dốc lớn hơn để nước mưa có thể thoát tốt tránh dột. Với các chuồng được lợp bằng mái tôn thì khoảng cách từ nền chuồng đến nóc tối thiểu là 3,5m

+ Nền chuồng tốt nhất là bê tông hay lát gạch để có thể dễ dàng vệ sinh tẩy uế sau mỗi đợt nuôi. Khi úm vịt nền chuồng phải lót rơm, trấu khô để giữ ấm cho vịt. Không được để nước làm ướt chỗ vịt con nằm, nhất là về đêm, vì như vậy vịt con sẽ bị lạnh vì mất nhiệt. Nên sử dụng chế phẩm sinh học đặc biệt BALASA No1 để khử mùi hôi và làm ấm nền chuồng nuôi. 

+ Có thể đầu tư lồng để úm vịt nhằm đem lại hiệu quả cao hơn. Ưu điểm của úm lồng là tránh được chó, mèo, chuột ăn, dễ giữ nhiệt độ, phân vịt và nước uống sẽ rơi xuống nền chuồng nên lồng được sạch sẽ. Lồng úm vịt con có kích thước 2 x 1 x 0,5m, úm được khoảng 150 con trong tuần tuổi đầu tiên và 100 con trong tuần tuổi thứ 2. Lồng được làm bằng khung gỗ, tre, xung quanh có thể làm bằng thanh gỗ, tre hoặc lưới sắt có mắt lưới 1 cm2 như trên. Vịt con được úm lồng trong vòng 7-10 ngày, sau đó nuôi hoàn toàn trên nền chuồng. Sau 3 ngày tuổi, ban ngày khi trời khô nắng có thể cho vịt con xuống nền chuồng để vịt vận động. Buổi tối cho vịt con lên lồng để giữ ấm và tránh chó, mèo và chuột ăn vịt. 

+ Sân chơi có kích thước tối thiểu bằng kích thước chuồng nuôi, có thể đổ cát để nước thấm nhanh hoặc lát gạch tàu có độ dốc 1% để không đọng nước. 

- Thường xuyên vệ sinh tẩy uế chuồng trại. Giữa các lứa nuôi phải để trống chuồng tối thiểu 7 ngày và cứ sau 3 đợt nuôi phải để trống chuồng ít nhất 2 tuần. 

Đối với chuồng nuôi vịt hậu bị

 + Kiểu chuồng Xây dựng theo kiểu chuồng mở. Xây dựng chuồng kiên cố bằng khung bê tông cốt thép hoặc có thể sử dụng các vật liệu tự có như tre, gỗ, mái lá để làm chuồng. 

+ Kích thước chuồng: Diện tích chuồng tuỳ thuộc quy mô nuôi, khi xây dựng chuồng cần chú ý không nên xây chuồng quá hẹp vì dễ bị mưa tạt. Chiều rộng chuồng nuôi thích hợp là 10 – 12m. Chiều dài tuỳ thuộc vào số lượng vịt nuôi, nhưng phải đảm bảo mật độ thích hợp là tối đa 3,5- 4 con/m2

+ Tường xây 3 mặt phía trước cao 1m bằng gạch, bên trên sử dụng khung lưới B40 để tạo độ thông thoáng, phần mặt phía ngoài sân không xây để vịt tự do đi lại.

Với chuồng đầu tư đơn giản có thể sử dụng cót ép, phên tre để che chắn thay cho tường gạch. 

+ Mái được lợp bằng tôn hay ngói xi măng với độ dốc 30% nếu lợp bằng các loại vật liệu như lá dừa nước hoặc rơm thì cần có độ dốc lớn hơn để nước mưa có thể thoát tốt tránh dột. Với các chuồng được lợp bằng mái tôn thì khoảng cách từ nền chuồng đến nóc tối thiểu là 3,8m

+ Nền chuồng bằng xi măng , lát gạch, nhưng tốt nhất là sử dụng cát với độ dày 15cm trở lên. Vì phân vịt nước nhiều nên khi sử dụng nền cát có ưu điểm là hút nước tốt làm nền khô. 

+ Sân chơi có kích thước sân tối thiểu bằng kích thước chuồng nuôi, có thể đổ cát để nước thấm nhanh hoặc lát gạch tàu có độ dốc 1% để không đọng nước. Nếu sân chơi nền đất dạng sân vườn có cây xanh thì diện tích sân cần rộng vì lượng phân thải ra hàng ngày của vịt không thể xịt rửa như sân lót gạch. 

+ Định kỳ phun khử trùng chuồng nuôi mỗi tuần một lần. Chuồng nuôi vịt hậu bị cần thoáng mát, khô ráo. Sân chơi rộng rất cần cho vịt hậu bị để vịt vận động. 

Thậm chí hằng ngày, trước lúc cho ăn phải đuổi vịt chạy mấy vòng trong sân để thể trạng của vịt giống được tốt. 

Chuồng nuôi vịt đẻ

 + Kiểu chuồng: Chuồng vịt đẻ cũng được xây dựng gần giống với chuồng nuôi vịt  hậu bị, xây dựng theo kiểu chuồng mở.


+ Kích thước chuồng: Chuồng nuôi vịt đẻ có chiều rộng thích hợp 10-12m. Chiều dài tuỳ thuộc vào số lượng vịt nuôi, nhưng phải đảm bảo mật độ nuôi 2,5-3 con/m2 nền chuồng. 

 + Tường xây 3 mặt phía trước cao 1,2m bằng gạch, bên trên sử dụng khung lưới B40 để tạo độ thông thoáng, phần mặt phía ngoài sân không xây để vịt tự do đi lại. Với chuồng đầu tư đơn giản có thể sử dụng cót ép, phên tre để che chắn thay vì tường gạch.

+ Mái được lợp bằng tôn hay ngói xi măng với độ dốc 30%, nếu lợp bằng các loại vật liệu như lá dừa nước hoặc rơm thì cần có độ dốc cao hơn để nước mưa có thể thoát tốt tránh dột. Với các chuồng được lợp bằng mái tôn thì khoảng cách từ nền chuồng đến nóc tối thiểu là 4m

 + Nền chuồng bằng xi măng hay lát gạch, nhưng tốt nhất là sử dụng cát với độ dày 15cm trở lên. Bên trên nền được lót trấu hoặc rơm khô và được bổ sung thường xuyên. Nên sử dụng chế phẩm BALASA No1 để khử mùi hôi trong chuồng nuôi. 

 + Sân chơi có kích thước sân tối thiểu bằng kích thước chuồng nuôi, có thể đổ cát để nước thấm nhanh hoặc lát gạch tàu có độ dốc 1% để không đọng nước. Sân có độ rộng tối thiểu bằng độ rộng của chuồng nuôi. Cuối sân nên có rãnh, bên trên có tấm đan để có thể thu phân về hố gas nhằm hạn chế lượng phân rửa xuống làm ô nhiễm nước ao bơi. 

 + Ổ đẻ được xếp xung quanh vách chuồng, tốt nhất trong chuồng nuôi phân khu ổ đẻ riêng ban ngày ngăn không cho vịt vào để đảm bảo ổ đẻ sạch. Ổ đẻ được đóng bằng gỗ hay ván gỗ, chia thành từng ô nhỏ kích thước 40cm x 40cm x 40cm. Mỗi ô nhỏ như thế đủ cho 4-5 mái đẻ. Lót ổ đẻ bằng rơm, trấu hay cỏ khô, hằng ngày phải kiểm tra lót ổ đẻ, đảm bảo lót ổ đẻ không bị dơ, ướt, không bị mốc hoặc nhiễm khuẩn, chẳng hạn như khuẩn Salmonella từ trứng truyền qua vịt con nở ra.


Theo định kỳ mỗi tuần phải phun thuốc sát trùng, tẩy uế chuồng trại và ổ đẻ để diệt nấm, khuẩn. Đối với vịt đẻ chỉ phun khử trùng vào buổi sáng để có thời gian khô chuồng và ổ đẻ vào buổi chiều đồng thời không gây xáo trộn đàn vịt ảnh hưởng đến quá trình hình thành trứng. 

Mật độ nuôi vịt ở các giai đoạn tuổi: Mật độ vịt tính trên diện tích chuồng nuôi còn phụ thuộc vào diện tích sân chơi, ao bơi, căn cứ vào sân chơi và ao bơi có thể điều chỉnh mật độ nuôi cho phù hợp. Dưới đây là mật độ nuôi được áp dụng cho hệ thống chuồng nuôi giai đoạn vịt con 0-14 ngày tuổi nuôi tại chuồng úm có diện tích diện tích sân bằng diện tích nền chuồng, ao bơi được xây kích thước 3 x 4m với độ sâu 30cm cho 200 vịt tắm trong 2 tuần lễ đầu. Từ giai đoạn tuần tuổi thứ 3 vịt được nuôi trong hệ thống chuồng có diện tích chuồng, sân chơi và ao bơi tương đương nhau. 

- Từ 1 - 7 ngày tuổi: 25 con/m2 nền chuồng 

- Từ 15 - 35 ngày tuổi: 10 con/m2

- Từ 8 - 14 ngày tuổi: 18 con/m2 nền chuồng 

- Từ 36 - 56 ngày tuổi: 8-6 con/m2 nền chuồng 

- Mật độ nuôi vịt hậu bị là 3,5- 4 con/m2 nền chuồng. 

- Mật độ nuôi vịt đẻ: 2,5-3 con/m2 nền chuồng.

Nguồn: Dự án phát triển chăn nuôi Thủy cầm an toàn sinh học

Lúa hè thu bị ngộ độc hữu cơ (Video)

Hiện nay, nông dân ở các địa phương vùng ĐBSCL đang bắt tay vào sản xuất lúa hè thu. Tuy nhiên thời điểm bà con xuống giống cũng là lúc giao mùa nên cây lúa thường bị ngộ độc hữu cơ. Tình trạng này ngày càng có biểu hiện nặng hơn do năm nay nắng nóng kéo dài và thời tiết diễn biến thất thường...


Xem video chương trình được thực hiện bởi VTV Cần Thơ:


Kiểm soát tốt bệnh vi bào tử trùng để nuôi tôm thành công

Bệnh vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) là bệnh không có biểu hiện rõ ràng trong giai đoạn đầu thả nuôi với biểu hiện tôm chậm lớn hơn rất nhiều so với bình thường. Do bệnh này không gây chết tôm hàng loạt nên không được chú ý nhiều, nhưng vì tôm không lớn ở giai đoạn cuối nên sản lượng ao tôm bệnh giảm mạnh, dẫn đến thiệt hại lớn về kinh tế. Do đó, kiểm soát tốt bệnh vi bào tử trùng trong nuôi tôm nước lợ là việc làm cấp thiết góp phần làm nên vụ mùa thắng lợi cho người nuôi tôm.

Ảnh minh họa

EHP làm tôm chậm lớn

TS. Trần Hữu Lộc, Khoa Thủy sản - Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh cho biết, bệnh vi bào tử trùng EHP được phát hiện ở Thái Lan vào năm 2006 nhưng tác hại của vi bào tử trùng trên tôm chưa được chú ý, nhất là khi Hội chứng tôm chết sớm (EMS/AHNPND) hoành hành trên diện rộng ở Châu Á. Tuy nhiên, bệnh EHP vẫn âm thầm dịch chuyển và xâm nhập vào các nước. Hiện tại, có nhiều nước nuôi tôm lớn trên thế giới như Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Mexico và có thể cả Ấn Độ, Indonesia cũng có thể đã có mầm bệnh EHP.

Triệu chứng của bệnh EHP trên tôm thẻ chân trắng không rõ ràng. Khi tôm giống bị nhiễm EHP, thả nuôi trong tháng đầu tiên tôm thường vẫn phát triển tương đối bình thường nhưng sau khi tôm đạt trọng lượng khoảng 3-4 gram/con, cũng như lượng sinh khối tôm trong ao tăng dần thì tôm cũng chậm lớn dần, rồi có thể dừng lớn hẳn. Tôm nuôi 90-100 ngày tuổi vẫn có thể chỉ đạt kích cỡ 4-5 gram/con (200-250 con/kg).

Nguyên nhân của sự chậm lớn là do vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei ký sinh trong tế bào gan tụy của tôm. Vi bào tử trùng này ký sinh nội bào và sử dụng dinh dưỡng, năng lượng dự trữ trong gan tụy khiến cho tôm nuôi không đủ dinh dưỡng cho sự tăng trưởng và lột xác. Khi tôm càng ăn nhiều thức ăn trong quá trình nuôi thì lượng phân thải ra cũng càng nhiều, trong khi đó bệnh EHP là một bệnh lây qua đường phân - miệng điển hình, không cần ký chủ trung gian. Chính vì lý do đó mà khi tôm ăn càng nhiều thì mầm bệnh thải ra môi trường ngày càng nhiều và sẽ gây nhiễm cho các con tôm trong ao cũng như làm cho mật độ vi bào tử nhiễm trong gan tụy ngày càng nhiều, đến ngưỡng tôm không thể lớn tiếp được.

Phương pháp PCR có thể phát hiện EHP

Nhiều loại vi bào tử khác nhau gây bệnh cho tôm đòi hỏi phải có ký chủ trung gian, như Agmasoma đòi hỏi ký chủ trung gian trong vòng đời, nhưng Enterocytozoon hepatopenaei có thể lây lan trực tiếp từ con này sang con khác. Do đó, có quan ngại rằng cá rô phi trong hệ thống nuôi kết hợp là nguồn gây bệnh EHP là chưa đủ cơ sở vững chắc. ”Chúng tôi có làm nghiên cứu kiểm tra mẫu cá rô phi của nhiều ao nuôi trong hệ thống kết hợp cũng như cá rô phi giống nhưng chưa thấy trường hợp nào cá rô phi có nhiễm EHP. Ngoài ra, nếu đưa cá rô phi từ các trại giống ở vùng nuôi nước ngọt về nuôi trong hệ thống nước lợ thì nguy cơ gây bệnh cho tôm từ mầm bệnh trên cá rô phi là rất thấp”, TS. Lộc khẳng định.

Đối với bệnh EHP thì việc chuẩn đoán bệnh sử dụng phương pháp mô học là rất khó khăn do sự biến đổi mô học trên gan tụy là không rõ ràng. Việc phát hiện ra bào tử là rất khó khăn do kích thước bào tử chỉ khoảng 1-2 µm lại có màu gần đồng nhất với màu nền của tế bào chất nên rất khó phát hiện khi dùng kính hiển vi quang học để quan sát tiêu bản mô.

Hiện nay, phương pháp sinh học phân tử là công cụ mạnh để phát hiện ra mầm bệnh vi bào tử trùng. Bằng các kỹ thuật PCR có thể phát hiện EHP trên ao nuôi tôm thương phẩm, tôm giống. Đối với trại giống, mầm bệnh có thể được phát hiện từ phân tôm bố mẹ và các thức ăn tươi sống cho tôm bố mẹ như hàu, dời, mực; từ ấu trùng tôm và tôm post. Theo TS. Lộc, một nghiên cứu cho thấy một tỷ lệ rất cao các thức ăn tươi như hàu, dời và mực khai thác ở khu vực Ninh Thuận, Khánh Hòa dương tính với cả vi bào tử trùng EHP. Điều này cho thấy việc sử dụng thức ăn tươi sống đánh bắt tại khu vực lân cận trại giống hay vùng nuôi tôm gây ra nguy cơ cực kỳ lớn về an toàn sinh học và dịch bệnh.

Cách tiếp cận và khống chế bệnh

Theo TS. Trần Hữu Lộc, cho tới thời điểm này thì chưa có phương pháp trị EHP cho là có kết quả tốt nhất được chứng minh. Do đó, việc kiểm tra, kiểm soát mầm bệnh từ tôm giống là hết sức quan trọng. Ở cơ sở nuôi tôm, công tác chuẩn bị ao có vai trò rất quan trọng trong việc phòng bệnh, do EHP có sức chống chịu cực tốt đối với các phương pháp khử trùng thông thường nên rất khó để loại thải mầm bệnh ra khỏi hệ thống. Có nghiên cứu cho rằng EHP có thể tồn tại sau khi đã xử lý Chlorine ở 100 ppm, đồng thời cũng có khuyến cáo cho rằng nên sử dụng vôi nóng (CaO) xử lý ao để có thể đạt độ pH đáy ao trong quá trình cải tạo cao hơn 11-12 để làm chết mầm bệnh EHP.

Về quản lý dịch bệnh, quan trọng hơn cả là quản lý dịch bệnh từ đầu nguồn, tức là từ con giống và sâu xa hơn nữa là từ con giống bố mẹ. Việc chỉ kiểm soát mầm bệnh đã được tổ chức OIE đề nghị đối với tôm biển đã để một lỗ hổng lớn cho việc kiểm soát các mầm bệnh mới xuất hiện, trên góc độ quản lý dịch bệnh trên tôm của cả thế giới. Ở góc độ trại tôm giống, ngoài sự kiểm soát thông thường với các mầm bệnh virus, ta phải tập trung hơn nữa công tác an toàn theo hướng tích cực phòng bệnh vi khuẩn và cả ký sinh trùng.

Đối với sản xuất tôm giống, cần có sự cân nhắc nguồn tôm bố mẹ nhập khẩu từ các nước đang có mầm bệnh EHP. Ngoài ra, nên có khu cách ly thiết kế đúng tiêu chuẩn và có sự kiểm soát chặt mầm bệnh do virus, EHP trước khi có thể đưa vào sản xuất. Với thức ăn tươi, nên kiểm soát mầm bệnh thật kỹ, không nên sử dụng thức ăn tươi đánh bắt từ khu vực gần trại giống, vùng nuôi, cho ăn trực tiếp. Việc sử dụng thức ăn tươi nhập khẩu từ các nước không có mầm bệnh và không có nghề nuôi tôm cũng là một lựa chọn tốt cho thức ăn tôm bố mẹ.

Trong hoàn cảnh sản xuất giống hiện tại, các trại giống nên cân nhắc việc thanh trùng thức ăn tươi bằng phương pháp Pasteur hay chiếu xạ Gramma. Các biện pháp kỹ thuật này có thể làm cho tôm bố mẹ giảm khả năng sinh sản nhiều trứng và ấu trùng nhưng sẽ giúp tăng độ an toàn đối với trại giống cũng như trại nuôi sử dụng nguồn tôm giống này. Ngoài ra, việc kiểm soát mầm bệnh bằng phương pháp PCR nên được coi là công việc xuyên suốt trong sản xuất giống để kiểm soát yếu tố đầu vào là tôm bố mẹ, thức ăn tôm bố mẹ cho tới đầu ra là tôm giống xuất bán. 

Thành Công/ TTKNQG

Friday, April 10, 2015

Khắc phục ruồi vàng hại lúa chiêm xuân

Vụ chiêm xuân năm nay, triệu chứng bị hại này bắt đầu rộ từ giữa tháng 3 và thường tập trung ở các chân ruộng lúa cấy bằng mạ dược hoặc mạ non tốt trước và thành từng đám.

Ảnh minh họa

Dảnh cái khóm lúa có lá, nõn bị teo thắt phần nửa cuối hoặc một phần ở gần giữa lá hóa bạch tạng cùng các vết châm thủng thành đường ngang là triệu chứng của ruồi vàng hại lúa chiêm xuân.

Vụ chiêm xuân năm nay, triệu chứng bị hại này bắt đầu rộ từ giữa tháng 3 và thường tập trung ở các chân ruộng lúa cấy bằng mạ dược hoặc mạ non tốt trước và thành từng đám. Nhổ cả khóm lên quan sát thấy bộ rễ vẫn phát triển bình thường nhưng cây lúa có biểu hiện đẻ nhánh ít, chậm phát triển, không nhìn thấy đối tượng gây hại.

Khoa học gọi là ruồi vàng, giai đoạn lúa non ở vụ chiêm xuân phát sinh nhiều hơn do thích hợp với thời tiết đầu vụ, không nằm trong các đối tượng dịch hại. Vòng đời ruồi vàng từ 25 - 35 ngày và các pha phát dục:

- Trứng: từ 3 - 5 ngày, kích thước nhỏ và nằm rải rác trên mặt lá, nõn lúa.

- Giòi: từ 15 - 18 ngày, nhọn 2 đầu, chúi trong các đọt non và lá chưa buông, đồng thời phóng nọc độc khiến lá bạch tạng hoặc co dúm.     

- Nhộng: từ 5 - 7 ngày, nằm bên trong chồi hoặc tai lá lúa.

- Trưởng thành: từ 5 - 7 ngày, có con đực và con cái, con cái đẻ đến cả trăm quả trứng.

Do kích thước nhỏ bé, hệ số sinh sản cao nên bà con không thể trông thấy rõ các pha phát dục mà chỉ thấy triệu chứng bị hại và mua thuốc phun trừ. Hiện đang là thời điểm dừng châm chích, giòi đang vào nhộng.

Biện pháp khắc phục:

- Không phun trừ. 

- Duy trì mực nước từ 2 - 3cm để cây lúa khỏe, đẻ nhánh tập trung và hấp thu dinh dưỡng tốt.

- Bón phân cân đối và đủ lượng theo quy định. 

KS. Nguyễn Hữu Vân/ Báo Hải Dương