Showing posts with label Nuôi lợn (heo). Show all posts
Showing posts with label Nuôi lợn (heo). Show all posts

Tuesday, May 5, 2015

Phòng trị bệnh lợn nghệ

Bệnh lợn nghệ là các bệnh lây lan qua đường ăn uống, tiếp xúc trực tiếp hay qua đường sinh dục...

Bệnh lợn nghệ do xoắn khuẩn Leptospira SPP gây ra ở lợn, trâu, bò, chuột và lây sang cả người. Bệnh lây do chuột bệnh thải xoắn khuẩn theo nước tiểu gây ô nhiễm môi trường. Bệnh lây qua đường ăn uống, tiếp xúc trực tiếp và qua những vết xước trên da, niêm mạc hoặc qua đường sinh dục.


Triệu chứng đặc trưng của bệnh là sốt cao, vàng da, nước tiểu vàng. Bệnh gây chết với tỉ lệ cao ở lợn con và gây sảy thai ở lợn nái. Khi mắc bệnh, lợn bỏ ăn, kém vận động, nằm một chỗ, sốt nhẹ và có lúc sốt tới 40 - 40,50C, và sốt lên xuống ngắt quãng từ 3-5 ngày. Lợn bị ỉa chảy, sau đó xuất hiện những triệu chứng điển hình như da vàng, đái ra máu, nước tiểu vàng, sánh. Lợn xuất hiện triệu chứng thần kinh quỵ nửa thân sau, đi lại khó khăn run rẩy, phù đầu, phù mặt, kêu không ra tiếng, ti lệ chết khá cao. Nếu là lợn đực, bao dương vật sưng to, lợn gầy rộc, nếu là lợn cái chửa sẽ bị sảy thai hoặc thai chết lưu.

Phòng trị bệnh:

-Thực hiện tốt các khâu vệ sinh phòng dịch, tích cực tiêu diệt chuột và côn trùng. Tiêm vaccine xoắn trùng vào lúc lợn 410 tháng tuổi. Mỗi đợt tiêm 2 lần, cách nhau 7-10 ngày

- Dùng các kháng sinh nhóm Penicillin, Streptomycin và các chế phẩm chứa Tylosin, Tiamulin sẽ có hiệu quả cao. Đặc trị bệnh lợn nghệ là sản phẩm AmTy0 tiêm liều 0,7 – 1ml/10 kg thể trọng; Neodexin 1ml/5 kg thể trọng. Dùng Penicillin 1 triệu UI kết hợp với Streptomycin 1g tiêm cho lợn 50 kg thể trọng. Dùng các loại kháng sinh Ampicilin 0,5g/40 kg thể trọng; Ampi – Kana 1g/40 kg thể trọng; Gentamicin 4% tiêm liều 1ml/6 kg thể trọng. Dùng các loại thuốc trợ lực Vitamin C, B1, B12. 

Nếu bị bệnh, dùng các loại kháng sinh nhóm Penicillin, Streptomycin, các chế phẩm chứa Tylosin hay Tiamulin theo chỉ dẫn trên nhãn thuốc, tiêm cho lợn ngày 2 lần trong 5 - 7 ngày. Có thể dùng chế phẩm Leptomycin điều trị cho kết quả cao. Cần kết hợp điều trị nguyên nhân cùng với trợ sức, trợ lực và giải độc cho lợn bằng cách tiêm thuốc bổ với các loại vitamin B1, B.Complex, B12... truyền dung dịch glucoza qua tĩnh mạch tai hay vào xoang bụng cho lợn. Bệnh được phát hiện sớm và điều trị các loại kháng sinh từ 5 - 7 ngày sẽ có hiệu quả cao.

Thanh Vân (Trang Trại Việt)

Saturday, April 11, 2015

Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con sau cai sữa

Để lợn sinh trưởng và phát triển tốt thì chăm sóc lợn con sau cai sữa là một trong những bước quan trọng.

Trước, trong và sau khi sinh sản, không chỉ lợn mẹ mà lợn con cũng được chăm sóc theo những chế độ phù hợp. (Ảnh: Hồng Liên)

1. Đặc điểm sinh lý của lợn con sau cai sữa:

- Lợn con dễ bị căng thẳng (stress) sau cai sữa vì thiếu lợn mẹ và khẩu phần thức ăn bị chuyển đổi từ sữa sang thức ăn khô.

- Bộ máy tiêu hóa của lợn con vẫn chưa phát triển đầy đủ, dễ bị mắc bệnh về tiêu hóa.

- Khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn còn kém, sức đề kháng cơ thể chưa cao.

Người chăn nuôi cần hiểu biết những đặc điểm sinh lý trên ở lợn con để có kỹ thuật nuôi dưỡng sao cho phù hợp.

2.  Bố trí lợn con sau cai sữa trong chuồng nuôi

Lợn bố trí nuôi trong cùng một ô chuồng cần tương đương về độ tuổi và khối lượng để đảm bảo đàn lợn phát triển đồng đều. Nhu cầu diện tích chuồng nuôi 0,4 - 0,45 m2/con. Mật độ khuyến cáo nên nuôi từ 10-25 con/1 ô chuồng, nhốt quá đông lợn dễ đánh nhau và khó kiểm soát khi có lợn ốm.

3. Thức ăn cho lợn con sau cai sữa

Chất lượng thức ăn cần có dinh dưỡng cao (protein thô cần 17-18% năng lượng trao đổi 3100 kcal/kg thức ăn hỗn hợp), dễ tiêu hóa (dùng các loại thức ăn như bột ngô, bột gạo, bột hoặc khô đỗ tương, bột cá nhạt).

Chế độ ăn cần phù hợp với đặc điểm sinh lý lợn con ở giai đoạn này và khuyến cáo như sau: Không thay đổi loại thức ăn vào ngày trước cai sữa, ngày cai sữa và 3-4 ngày sau cai sữa. Khi thay đổi thức ăn thì thực hiện từ từ trong vòng 3-4 ngày liền (theo trình tự giảm dần thức ăn cũ, tăng dần thức ăn mới, sau 4 ngày mới cho lợn chuyển sang ăn hoàn toàn thức ăn mới).

Cần thực hiện kỹ thuật cho lợn con sau cai sữa ăn hạn chế để phòng ngừa lợn chết do bệnh E.coli dung huyết (bệnh phù đầu lợn con), (cơ chế gây bệnh xem ở phần thú y). Cách cho ăn hạn chế trong 4 ngày đầu cụ thể như sau: Ngày cai sữa giảm đi 1/2, ngày tiếp theo giảm đi 1/3, ngày tiếp theo nữa giảm đi 1/4, ngày tiếp theo nữa trở về mức ăn như trước cai sữa, sau đó tăng dần lượng thức ăn theo khả năng ăn được của lợn con. Thức ăn chia ra nhiều lần trong ngày (4-6 bữa).

* Nước uống: Cấp đủ nước uống sạch và mát, thiếu nước lợn con ăn kém ngon miệng, chậm lớn, đánh nhau.

4. Tiêm phòng cho lợn con

Biện pháp kỹ thuật phòng ngừa bệnh tiêu chảy và viêm phổi ở lợn con sau cai sữa có thể tóm tắt gồm: Đảm bảo chất lượng thức ăn tốt, nuôi đúng kỹ thuật, vệ sinh máng ăn, máng uống thường xuyên, chuồng trại thoáng, đủ ấm, phát hiện bệnh kịp thời.

Chuyên gia Nguyễn Lân Hùng (Theo 100 nghề cho nông dân) (Dân Việt)

Sunday, March 29, 2015

Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái chờ phối và lợn nái chửa

Nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái chờ phối và lợn nái chửa là một trong những bước rất quan trọng của quá trình chăn nuôi heo nhằm đảm bảo cho bào thai heo con phát triển bình thường, heo nái đẻ được nhiều con, heo con khỏe mạnh, có trọng lượng sơ sinh cao.

Sau cai sữa cho lợn con, phần lớn lợn nái thường giảm khối lượng cơ thể so với sau đẻ xong. Sự giảm khối lượng này cho đến thời gian động dục trở lại sau cai sữa và số trứng rụng trong thời kỳ động dục đó. Vì vậy người chăn nuôi cần áp dụng kỹ thuật tăng mức ăn/ngày cho lợn nái chờ phối.

Theo dõi và chăm sóc cẩn thận cả lợn con và lợn nái sau khi sinh. Ảnh minh họa

Vào ngày cai sữa lợn con, nên để lợn mẹ nhịn đói và hạn chế cho lợn nái uống nước, mục đích là phòng ngừa lợn nái sốt sữa sau tách con. Thời gian cho lợn nái ăn tăng tùy thuộc vào thời gian động dục và phối giống  lại sau cai sữa. Lượng thức ăn tăng cho lợn nái tùy thuộc vào giống lợn nái sau khi tách con.

Theo dõi phát hiện lợn động dục trở lại sau cai sữa:

Kể từ ngày lợn mẹ cai sữa lợn con, thường xuyên ngày 2 lần (vào buổi sáng sớm và buổi chiều muộn) kiểm tra phát hiện lợn động dục để có kế hoạch phối giống. Sau khi phối giống xong, chuyển chế độ ăn của lợn nái sang chế độ ăn của lợn nái chửa kỳ I.

Chăm sóc lợn nái chửa

Mục tiêu cần phải đạt được trong nuôi dưỡng lợn nái chửa là: Lợn nái đẻ sai con, lợn con sinh ra đồng đều và đạt khối lượng sơ sinh theo tiêu chuẩn của giống, lợn nái phải tích lũy đủ dinh dưỡng để tiết sữa tốt và ít hao mòn trong thời kỳ nuôi con. Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình nuôi dưỡng lợn nái chửa cần chú trọng tới các vấn đề sau:

-  Thức ăn và cách cho ăn:

Lợn nái chửa rất nhạy cảm, đặc biệt với các yếu tố lượng thức ăn. Thức ăn cho lợn nái chửa cần bảo đảm đầy đủ các chất dinh dưỡng (đạm, chất béo, vitamin, khoáng), không bị ôi mốc, không bị nhiễm độc tố. Thiếu khoáng trong khẩu phần ăn của lợn chửa làm xương lợn con kém phát triển, lợn mẹ nguy cơ bại liệt chân. Thiếu vitamin ảnh hưởng đến sức sống của bào thai, thai chết yếu, lợn sơ sinh sức sống kém, dễ nhiễm bệnh. Thức ăn bị ôi mốc dễ có độc tố, nếu hàm lượng độc tố cao sẽ gây chết thai, đẻ non hoặc thai chết lưu.


Ngoài phụ thuộc vào giai đoạn chửa, mức ăn cho một ngày của lợn nái còn phụ thuộc vào thể trạng của lợn nái (gầy, béo hay bình thường). Nái gầy phải cho tăng ăn, lợn nái quá béo giảm thức ăn tinh, nhưng lại tăng thức ăn xanh. 

Mùa đông khi nhiệt độ trong chuồng nuôi dưới 15̊C lợn nái cần được ăn tăng (0,2-0,3 kg/nái/ngày) để bù vào phần năng lượng mất đi do phải chống lạnh. Cần cung cấp nước sạch cho lượn uống. Tắm chải cho lượn khi cần thiết. Thường xuyên vệ sinh máng ăn, máng uống và vệ sinh chuồng trại thường xuyên.

- Một số loại thức ăn không nên dùng cho lợn nái chửa:

+ Bống bã rượu là tốt cho lợn thịt nhưng không tốt cho lợn nái chửa vì chứa kích thích dễ gây sẩy thai, nếu có nhiều, chỉ nên cho ăn dưới 15% trong khẩu phần (tính theo vật chất khô).
+ Lá đu đủ tốt với lợn nái nuôi con nhưng không tốt cho lợn nái chửa vì có chứa chất kích thích làm giảm nhịp đập của tim, làm giảm khả năng nuôi dưỡng thai.

- Chăm sóc vú:

Trước khi dự kiến đẻ 10-15 ngày cần xoa bóp đầu vú cho lợn nái 1-2 lần/ngày với mục đích kích thích thông tia sữa.Nếu vú bị xây xước nứt nẻ cần bôi vadơlin và kháng sinh để phòng chống nhiễm trùng.

Nguyễn Lân Hùng (Theo cuốn "100 nghề cho nông dân")/ Dân Việt

Thursday, October 9, 2014

Cách phòng bệnh rối loạn hô hấp ở lợn

Cũng như nhiều loại dịch bệnh khác xảy ra trên vật nuôi là lợn (heo), cách phòng bệnh rối loạn hô hấp và sinh sản cũng có những quy trình nhất định như sau: Chú trọng công tác thông tin và truyền thông; chủ động giám sát và phát hiện sớm bệnh; vệ sinh phòng bệnh; phòng bệnh bằng vaccine; kiểm soát vận chuyển.

Ảnh minh họa


Trong công tác thông tin và truyền thông, cần phải có tính thường xuyên và liên tục, đầy đủ về bệnh cũng như tác hại giúp người dân, người chăn nuôi hiểu đúng và chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh; tuyên truyền, vận động người dân thực hiện “không” đó là không giấu dịch; không mua lợn bệnh, sản phẩm lợn bị bệnh; không bán chạy lợn bệnh; không vận chuyển lợn bệnh ra khỏi vùng có dịch; không vứt bừa bãi xác lợn bệnh ra môi trường.

Thông qua công tác tuyên truyền hướng cho người dân từng bước thay đổi phương thức chăn nuôi từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tác sang chăn nuôi theo hướng công nghiệp, áp dụng các biện pháp an toàn sinh học.

Các cơ quan chuyên môn và lãnh đạo địa phương phối hợp với các đoàn thể và quần chúng tăng cường công tác giám sát tới từng thôn, xóm nhằm phát hiện sớm dịch bệnh trên đàn lợn và có biện pháp can thiệp kịp thời không để dịch lây lan ra diện rộng; đặc biệt là ở các khu vực ổ dịch cũ, khu vực có nguy cơ cao, vùng chăn nuôi tập trung quy mô lớn.

Khâu vệ sinh phòng bệnh tại khu chăn nuôi. Đối với các gia trại, trang trại phải bảo đảm điều kiện vệ sinh thú y theo quy định, có giấy chứng nhận điều kiện vệ sinh thú y do chi cục thú y thành phố cấp và còn hiệu lực. Với các hộ gia đình, không được nuôi lợn thả rông, chuồng nuôi phải được che chắn, cách ly.

Hằng ngày phải thực hiện vệ sinh cơ giới và hàng tuần thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc khu chăn nuôi, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển bằng các hóa chất thông thường như vôi bột, clorine, iodine,…

Đối với con giống đưa vào chăn nuôi phải khỏe mạnh, rõ nguồn gốc. Thức ăn, nước uống dùng trong chăn nuôi phải đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y; không sử dụng thức ăn ôi thiu, ẩm mốc…

Phòng bệnh bằng vaccine tuân theo hướng dẫn của Sở NNPTNT về việc hướng dẫn kỹ thuật sử dụng vaccine tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố.

Khâu kiểm soát vận chuyển lợn phải chặt chẽ, sản phẩm của lợn ra vào địa phương; thường trực 24/24 giờ tại các chốt kiểm dịch tạm thời ở các trục giao thông chính nơi tiếp giáp với địa phương đang có dịch; xử lý nghiêm các trường hợp vận chuyển lợn và các sản phẩm lợn không rõ nguồn gốc theo quy định.

Trần Phượng (Dân Việt)

Thursday, July 31, 2014

Dấu hiệu nhận biết lợn bị dịch tả

Các triệu chứng và bệnh tích đặc trưng khi lợn mắc phải dịch tả mà bà con nông dân cần chú ý.

Trong số báo trước, chúng tôi đã thông tin về các tác nhân gây bệnh dịch tả lợn, nguồn bệnh và quá trình lây.

Số báo kỳ này chúng tôi tiếp tục thông tin về triệu chứng và bệnh tích khi lợn mắc phải dịch tả, giúp người chăn nuôi có thể nhận biết và chủ động trong chăn nuôi.

Đàn lợn bị bệnh dịch tả.

Về triệu chứng, thời gian nung bệnh ở vật nuôi từ 3-7 ngày và bệnh có thể xuất hiện ở 1 trong 3 thể là thể quá cấp tính, thể cấp tính và thể mãn tính.

Thể quá cấp tính còn gọi là bệnh dịch tả lợn trắng. Bệnh xuất hiện đột ngột, không có triệu chứng ban đầu, vật nuôi có hiện tượng ủ rũ, bỏ ăn và sốt cao 41-42 độ C, giẫy giụa rồi chết khá nhanh trong vòng 24-48 giờ. Diễn biến bệnh trong vòng 1-2 ngày, tỷ lệ chết lên tới 100%.

Ở thể cấp tính, lợn cũng biểu hiện ủ rũ, kém ăn, bỏ ăn và cũng sốt cao như thể nêu trên kéo dài đến lúc gần chết, mắt viêm đỏ có dử, nước miếng chảy, miệng loét phủ bựa vàng ở lợi, chân răng, hầu; lợn thường bị khó thở, ói mửa, nhịp thở rối loạn. Lúc đầu lợn bị táo bón, sau đó tiêu chảy phân bết vào mông, đuôi mùi thối khắm thậm chí còn kèm theo cả máu tươi.

Ở một số vị trí như tai, mõm, bụng và 4 chân xuất huyết lấm tấm. Vào cuối thời kỳ bệnh, lợn bị bại2 chân sau đi loạng choạng hoặc không đi được. Nếu ghép với các bệnh khác thì các triệu chứng trên trầm trọng hơn.

Biểu hiện ở thể mãn tính, lợn tiêu chảy gầy yếu, lợn bệnh chết do kiệt sức, lợn có thể khỏi bệnh nhưng vẫn mang virus.

Bệnh tích ở thể cấp tính lợn bị bại huyết, xuất huyết nặng ở các cơ quan nội tạng, hạch amidan xuất huyết, niêm mạc miệng, lưỡi tụ máu, dạ dày bị tụ huyết, có nốt loét ở đường tiêu hóa, ở van hồi manh tràng xuất huyết có những vết loét hình cúc áo...

Bệnh tích ở thể bệnh mãn tính phần ruột có những vết loét lõm sâu, bờ cao phủ bựa vàng và phổi có thể bị viêm dính vào lồng ngực.

Khi lợn mắc bệnh thường ghép với một số bệnh khác nên triệu chứng và bệnh tích có thể thay đổi tùy theo ghép với bệnh nào.

Thêm nữa, do đã tổ chức tiêm phòng vaccine nhiều năm nên nhiều trường hợp không phát hiện đầy đủ các bệnh tích điển hình nêu trên.

Để xác định bệnh một cách chính xác cần căn cứ vào kết quả xét nghiệm mẫu bệnh phẩm trong phòng thí nghiệm do cán bộ thú y trực tiếp lấy mẫu.

Trần Phượng/ Dân Việt

Friday, July 25, 2014

Cách phòng, chống bệnh dịch tả lợn

Bệnh dịch tả lợn là bệnh xảy ra quanh năm. Bệnh sẽ có lúc tăng lúc giảm tùy theo thời tiết thay đổi hoặc có sự biến đổi của đàn lợn trong năm.

Chuồng nuôi sạch sẽ cũng là cách phòng chống dịch tả tốt.

Ngoài ra, dịch bệnh này còn phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ tiêm phòng, lợn lớn đã có miễn dịch bị giết mổ hay ở lợn con thay đàn bổ sung vào chưa kịp tiêm phòng làm cho tỷ lệ mẫn cảm trong đàn tăng lên. Bệnh dịch tả lợn có tốc độ lây lan rất nhanh và tỷ lệ chết lên tới 90%. Và khi đã mắc phải chứng bệnh nêu trên, sức đề kháng lợn đã kém, một số bệnh khác tấn công đồng thời như phó thương hàn, tụ huyết trùng, đóng dấu lợn... Vì vậy, để góp phần vào ổn định và hạn chế dịch bệnh trong quá trình chăn nuôi, việc tiêm phòng cho vật nuôi theo mùa vụ và tiêm phòng bổ sung là rất cần thiết.

Để bổ sung kiến thức về dịch tả ở heo giúp người chăn nuôi có thể nhận biết và chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh, người chăn nuôi có thể tham khảo một số nội dung sau: Trước tiên là về tác nhân gây bệnh dịch tả ở lợn. Loại bệnh trên là do virus (Tortoi suis) thuộc họ Flaviridae, giống Pesti virus, có quan hệ mật thiết với virus gây bệnh tiêu chảy ở bò và virus gây bệnh Border ở cừu. Virus dịch tả lợn có thể sống khá lâu từ vài tháng đến vài năm trong thịt đông lạnh. Thông qua hoạt động thương mại, vận chuyển, virus có trong các sản phẩm của lợn có thể lây lan vào vùng đang an toàn dịch. Khi vật nuôi mẫn cảm có thể nhiễm khi ăn phải thức ăn có chứa virus như các thành phần phụ phẩm của quá trình giết mổ hoặc thức ăn thừa, chất thải từ nhà bếp không qua xử lý. Virus gây bệnh dịch tả ở lợn có sức đề kháng yếu, mặc dù có khả năng tồn tại lâu ở ngoại cảnh như ở trong phân gia súc, thịt đông lạnh..., tuy nhiên virus lại dễ bị tiêu diệt bởi các chất sát trùng thông thường như xút (NaOH) 2%, nước sôi. Ở nhiệt độ cao virus bị tiêu diệt nhanh. Các chất bài tiết, dịch tiết, máu, hạch lâm ba hay lách lợn bệnh có chứa virus. Máu của những con vật nung bệnh, sau 24 giờ có khả năng gây bệnh. Những con khỏi bệnh, sau 2 tháng vẫn bài thải mầm bệnh ra ngoài nên người chăn nuôi nắm được điều này, cách ly vật nuôi bị bệnh khỏi vật nuôi đang an toàn. Đối với dịch bệnh nêu trên có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi và loài lợn, mạnh mẽ nhất ở lợn con từ2-3 tháng tuổi. Về đường lây truyền bệnh ở lợn chủ yếu qua đường tiêu hóa, niêm mạc hay qua vết thương ở da và một phần qua hệ thống đường hô hấp. Thông thường lây trực tiếp từ con ốm sang con khỏe; gián tiếp là qua nước uống, thức ăn, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển...

Trần Phượng/ Dân Việt