Showing posts with label Nuôi vịt. Show all posts
Showing posts with label Nuôi vịt. Show all posts

Saturday, April 11, 2015

Quy trình nuôi vịt bố mẹ hướng thịt theo phương thức nuôi nhốt (Phần 3)

Phần 3: Chọn giống, nhiệt độ, ánh sáng

Chọn giống

- Con giống nhập vào trại phải đảm bảo an toàn dịch bệnh, có nguồn gốc rõ ràng từ các cơ sở đảm bảo chất lượng, có giấy kiểm dịch khi xuất bán. 

- Vịt giống phải chọn khắt khe, không khoèo chân, không hở rốn, không khô chân, vịt khoẻ mạnh nhanh nhẹn, đảm bảo khối lượng sơ sinh đạt 50gram/con trở lên. Vịt bố mẹ phải lấy nở từ đàn ông bà.

- Khi vịt nuôi được 49 ngày tuổi đối với phương thức thâm canh và 56-60 ngày tuổi đối với phương thức nuôi quảng canh, phải tiến hành chọn vịt vào giai đoạn hậu bị. Chọn vịt được thực hiện vào buổi sáng, khi vịt đói, khô lông. Dùng quây tre quây vịt lại thành từng nhóm, chỉ chọn những con có đủ tiêu chuẩn giống. Loại thải những cá thể có lông đen, dị dạng, ốm yếu, ngắn đòn. Vịt trống phải chọn lọc kỹ càng hơn. Chọn trống mái theo tỷ lệ 1:4

- Đến 21 tuần tuổi phải tiến hành chọn vịt vào giai đoạn đẻ và ghép trống mái. Vịt được chọn phải đảm bảo các chỉ tiêu như không quá mập có yếm bụng hay quá ốm, không bệnh tật, không dị hình, không quá ngắn đòn và cổ, không quá nhỏ đầu, không pha lông đen... Vịt trống còn được chọn kỹ hơn, nhất là về ngoại hình. Tỷ lệ ghép phối trống mái vịt siêu thịt là 1:6

Nhiệt độ


- Khi mới nở ra, vịt con đòi hỏi cung cấp nhiệt độ cao do cơ thể chưa hoàn thiện cơ chế điều hoà thân nhiệt. Nếu để vịt bị lạnh, vịt sẽ còi cọc, dễ nhiễm bệnh, tỷ lệ chết cao. Giai đoạn sau, vịt phát triển lớn lên chúng có thể sản sinh nhiệt để đảm bảo thân nhiệt tốt hơn. Sau khi bộ lông vũ phát triển đầy đủ sẽ giúp vịt có khả năng giữ ấm cơ thể tốt hơn, ngay cả khi nhiệt độ môi trường xuống thấp. Yêu cầu nhiệt độ chuồng úm: 

+ Ngày tuổi 1-3: 340C

+ Ngày tuổi 4-7: 33-300C

+ Ngày tuổi 8-14: 29-260C

- Nguồn nhiệt sử dụng để úm vịt thông thường bằng điện. Sử dụng các bóng đèn tròn có công suất 75-100W để úm cho vịt. Số lượng bóng đèn tuỳ thuộc vào nhiệt độ môi trường sao cho đảm bảo yêu cầu nhiệt độ chuồng úm như trên. Khoảng cách bóng đèn so với nền chuồng khoảng 40-45cm. Một nguồn nhiệt khác cũng rất thông dụng cho việc úm vịt đó là gas. Mỗi bình gas có thể úm cho 1000 vịt con, trong trường hợp không đảm bảo nhiệt độ úm thì có thể bổ sung thêm bằng đèn điện. Lưu ý khi mắc các chao đốt gas phải chếch 1 góc 400 để nhiệt độ được phân phối đều trên nền chuồng. Ngoài ra có thể sử dụng các nguồn nhiệt khác để úm như đèn măng-xông, đèn hồng ngoại, chú ý tuyệt đối không dùng bếp than đá để úm vịt (gây ngộ độc khí CO). 

Ánh sáng: 

Thời gian sinh sản của vịt được tăng lên nhờ vào việc chiếu sáng bổ sung. Nếu không chiếu sáng bổ sung thì vịt sẽ đẻ trứng sớm muộn do ảnh hưởng mùa vụ khác nhau với sự thay đổi độ dài ngày đêm khác nhau. Yêu cầu thắp sáng cho vịt con là 23 giờ/ ngày và duy trì 1 giờ tối để vịt làm quen khi bị mất điện đột xuất, giúp vịt không hoảng sợ khi bị mất điện. Giai đoạn vịt hậu bị và vịt đẻ , thời gian chiếu sáng là 17 giờ/ngày. Cường độ chiếu sáng là 10 lux đã có tác dụng tốt đối với sự phát dục ở cả vịt đực và mái. Mỗi bóng đèn sợi đốt có công suất 100W sử dụng cho 20m2 là 1,8m và mỗi bóng đèn nên có chao để có thể tận dụng ánh sáng tối ưu. Những nơi không có điện thì có thể dùng đèn măng-xông, bình ắc quy hoặc gas để thay thế.

Nguồn: Dự án phát triển chăn nuôi Thủy cầm an toàn sinh học


Quy trình nuôi vịt bố mẹ hướng thịt theo phương thức nuôi nhốt (Phần 2)

Phần 2. Ao hồ:

Yêu cầu chung về ao hồ nuôi vịt: Ao sâu có độ sâu phù hợp với từng giai đoạn nuôi, theo định kỳ phải nạo vét vệ sinh ao. Nước ao phải sạch được thay thường xuyên, không được nhiễm phèn và mặn, Nếu nước có nhiễm phèn hay muối ở mức độ nhẹ thì có thể nuôi được vịt, nhưng phải tập cho vịt quen dần và trước khi thả vịt xuống ao phải cho vịt uống no nước ngọt. 

Ảnh minh họa

Ao hồ nuôi vịt con 

Trong tuần lễ đầu tiên không nên cho vịt con tắm ở ao diện tích lớn, vì như vậy vịt con sẽ sợ nước. Tốt nhất là xây một bể tắm nhân tạo hoặc dùng lưới quay một góc ao cho vịt con tắm. 

- Quy cách xây bể: 

+ Bể được xây tường bằng gạch, đáy đổ bê tông đảm bảo không thấm nước. Đáy bể được làm nghiêng với độ dốc 10% để tiện lợi khi xịt rửa vệ sinh. 

+ Kích thước: Bể được xây kế tiếp sân theo chiều dài của chuồng nuôi, chia thành nhiều ô liên thông có chiều rộng 3m, dài 4m, độ sâu 30cm. Tuỳ theo số lượng vịt nuôi mà sử dụng số ô cần thiết để tiết kiệm nước. Mỗi ô có thể sử dụng tắm cho 200 vịt trong 2 tuần lễ đầu. Hằng ngày rửa bể, bơm nước sạch vào 2-3 lần. Bằng cách này sẽ tránh được tối đa các bệnh đường ruột cho vịt. 

- Nếu không có điều kiện xây bể, chúng ta có thể dùng ao hồ tự nhiên cho vịt con tắm. Lúc vịt còn nhỏ nên dùng lưới quây thành một diện tích nhỏ, có cầu lên xuống với độ dốc 20% cho vịt tắm. 

Ao hồ nuôi vịt hậu bị và vịt đẻ

Ao hồ rất cần để vịt tắm sạch bộ lông và vịt đẻ dễ dàng giao phối. Mật độ ao là mặt ao cho 1 con vịt ( với điều kiện nước ra vào thường xuyên). Nếu ao hồ 2-3m2 khó thay nước thì phải nuôi thưa vịt hơn. Những nơi không có ao hồ, suối tự nhiên, chẳng hạn như ở các vườn cây... thì có thể xây bể tắm nhân tạo cho vịt. Cần nhớ rằng, cầu lên xuống ao hồ phải thật thoai thoải để tránh dập trứng vịt đẻ. 

Quy cách làm ao: 

+ Thành ao được đổ bằng bê tông, xây gạch hoặc kè đá. Cầu xuống ao bằng gỗ hay bê tông có độ dốc 30%, chiều rộng câu 1-2m để cho vịt lên xuống. 

+ Kích thước ao: Ao có kích thước tối thiểu bằng kích thước chuồng nuôi. Chiều rộng 12-14m, chiều dài theo chiều dài của chuồng nuôi, độ sâu 1,2-1,4m

+ Các trang trại quy mô lớn cần có thêm hệ thống ao hồ để xử lý nước, phân trước khi thoát ra ngoài. Xử lý nước ao lắng này bằng vôi, hoá chất. Phân vịt phải xử lý ở nhà chứa phân có xây tường xung quanh, mái lợp tránh mưa nắng, xử lý bằng vôi bột và hoá chất để hoại. 

Lưu ý: 

Chăn nuôi vịt truyền thống thì ao bơi là không thể thiếu. Tuy nhiên, trong thực tế ở các trang trại chăn nuôi tập trung thì lượng phân vịt hằng ngày hầu hết được thải xuống ao bơi. Hậu quả là hệ thống ao bơi bị ô nhiễm dễ nhiễm các mầm bệnh đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hoá ảnh hưởng đến năng suất cũng như nguy cơ lây lan dịch bệnh ra môi trường. 

Giải pháp tốt nhất đối với các trại có hệ thống ao bơi ô nhiễm đó là hạn chế thời lượng bơi ao hoặc có thể nuôi khô hoàn toàn (phương thức nuôi nhốt hoàn toàn). 

Khi áp dụng việc nuôi khô thì cần chú ý đảm bảo cung cấp nước uống đầy đủ và thường xuyên và có biện pháp chống nóng đặc biệt là giai đoạn vịt sinh sản. Nuôi vịt theo phương thức nuôi nhốt hoàn toàn làm giảm đáng kể tỷ lệ vịt mắc bệnh về đường tiêu hoá, từ đó làm giảm tỷ lệ loại thải vịt bệnh. Mật độ đối với phương thức nuôi khô phải thấp hơn so với phương thức nuôi có ao bơi, ở giai đoạn sinh sản không nên nuôi quá 3 con/m2 nền chuồng nhiều do vậy cần bổ sung chất độn chuồng thường xuyên hơn, diện tích sân chơi tối thiểu là bằng diện tích chuồng nuôi, trồng nhiều cây xanh trong sân chơi để giúp vịt chống nóng.

Nguồn: Dự án phát triển chăn nuôi Thủy cầm an toàn sinh học

Quy trình nuôi vịt bố mẹ hướng thịt theo phương thức nuôi nhốt (Phần 1)

Phần 1. Chuồng trại: 

Yêu cầu chung về chuồng trại nuôi vịt:

Chuồng nuôi vịt cần được xây dựng biệt lập cách xa nhà ở, khu dân cư, xa đường giao thông và các công trình công cộng đông người. Trại cần có tường rào bao quanh, tạo vành đai cách ly. Khu vực xây trại đảm bảo cao ráo, thoáng mát, không bị mưa tạt, gió lùa. Hướng xây dựng chuồng tốt nhất là hướng đông để có thể đón ánh nắng buổi sáng và tránh ánh nắng gay gắt vào buổi chiều. Cần bố trí chuồng vịt con, vịt hậu bị, vịt đẻ thành các khu riêng. Khoảng cách giữa các dãy chuồng nuôi tối thiểu là 20m nhằm đảm bảo sự thông thoáng và cách ly. Khu vực trại phải được trồng cây xanh để có thể giảm bức xạ nhiệt những khi trời nắng nóng. 

Ảnh minh họa

Kiểu chuồng nuôi phổ biến và phù hợp ở nước ta là hệ thống chuồng mở. Đây là kiểu chuồng không xây bịt kín xung quanh chuồng, thường được thiết kế gồm chuồng, sân chơi và ao bơi. 

Tuỳ thuộc vào quy mô, điều kiện tài chính mà người chăn nuôi có thể lựa chọn đầu tư xây dựng hệ thống chuồng trại kiên cố hay đơn giản sao cho phù hợp với vịt nuôi ở các giai đoạn khác nhau nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. 

Đối với chuồng nuôi vịt con 

- Chuồng úm vịt con phải đảm bảo không có gió lùa mạnh trực tiếp vào vịt con, nhất là trong tuần tuổi đầu tiên, vì nếu không vịt con sẽ bị mất nhiệt, còi cọc hoặc tỷ lệ chết cao. 

- Quy cách làm chuồng: 

+ Kiểu chuồng xây dựng theo kiểu chuồng mở. Xây dựng chuồng kiên cố bằng khung bê tông cốt thép, tường xây gạch hoặc có thể sử dụng các vật liệu địa phương như tre, gỗ, mái lá để làm chuồng. 

+ Kích thước chuồng úm không nên quá rộng vì khó đảm bảo nhiệt độ khi úm vịt. Chuồng có chiều rộng 6m, chiều dài 12m có thể úm cho 1500 đến 2000 vịt trong 2 tuần đầu. 

+ Tường xây cao 1m bằng gạch, bên trên sử dụng khung lưới B40 để tạo độ thông thoáng. Phần khung lưới B40 được sử dụng bạt để che chắn vào ban đêm, ban ngày mở ra để tạo sự thông thoáng giúp nền chuồng khô ráo. Với chuồng đầu tư đơn giản có thể sử dụng cót ép, phên tre để che chắn thay cho tường gạch. Kiểu chuồng đơn giản này có độ thông thoáng hơn, nhưng chú ý khi úm vịt cần sử dụng bạt che chắn để có thể đảm bảo nhiệt độ úm. 

+ Mái được lợp bằng tôn hay ngói xi măng với độ dốc 30%, nếu lợp bằng các loại vật liệu như lá dừa nước hoặc rơm thì cần có độ dốc lớn hơn để nước mưa có thể thoát tốt tránh dột. Với các chuồng được lợp bằng mái tôn thì khoảng cách từ nền chuồng đến nóc tối thiểu là 3,5m

+ Nền chuồng tốt nhất là bê tông hay lát gạch để có thể dễ dàng vệ sinh tẩy uế sau mỗi đợt nuôi. Khi úm vịt nền chuồng phải lót rơm, trấu khô để giữ ấm cho vịt. Không được để nước làm ướt chỗ vịt con nằm, nhất là về đêm, vì như vậy vịt con sẽ bị lạnh vì mất nhiệt. Nên sử dụng chế phẩm sinh học đặc biệt BALASA No1 để khử mùi hôi và làm ấm nền chuồng nuôi. 

+ Có thể đầu tư lồng để úm vịt nhằm đem lại hiệu quả cao hơn. Ưu điểm của úm lồng là tránh được chó, mèo, chuột ăn, dễ giữ nhiệt độ, phân vịt và nước uống sẽ rơi xuống nền chuồng nên lồng được sạch sẽ. Lồng úm vịt con có kích thước 2 x 1 x 0,5m, úm được khoảng 150 con trong tuần tuổi đầu tiên và 100 con trong tuần tuổi thứ 2. Lồng được làm bằng khung gỗ, tre, xung quanh có thể làm bằng thanh gỗ, tre hoặc lưới sắt có mắt lưới 1 cm2 như trên. Vịt con được úm lồng trong vòng 7-10 ngày, sau đó nuôi hoàn toàn trên nền chuồng. Sau 3 ngày tuổi, ban ngày khi trời khô nắng có thể cho vịt con xuống nền chuồng để vịt vận động. Buổi tối cho vịt con lên lồng để giữ ấm và tránh chó, mèo và chuột ăn vịt. 

+ Sân chơi có kích thước tối thiểu bằng kích thước chuồng nuôi, có thể đổ cát để nước thấm nhanh hoặc lát gạch tàu có độ dốc 1% để không đọng nước. 

- Thường xuyên vệ sinh tẩy uế chuồng trại. Giữa các lứa nuôi phải để trống chuồng tối thiểu 7 ngày và cứ sau 3 đợt nuôi phải để trống chuồng ít nhất 2 tuần. 

Đối với chuồng nuôi vịt hậu bị

 + Kiểu chuồng Xây dựng theo kiểu chuồng mở. Xây dựng chuồng kiên cố bằng khung bê tông cốt thép hoặc có thể sử dụng các vật liệu tự có như tre, gỗ, mái lá để làm chuồng. 

+ Kích thước chuồng: Diện tích chuồng tuỳ thuộc quy mô nuôi, khi xây dựng chuồng cần chú ý không nên xây chuồng quá hẹp vì dễ bị mưa tạt. Chiều rộng chuồng nuôi thích hợp là 10 – 12m. Chiều dài tuỳ thuộc vào số lượng vịt nuôi, nhưng phải đảm bảo mật độ thích hợp là tối đa 3,5- 4 con/m2

+ Tường xây 3 mặt phía trước cao 1m bằng gạch, bên trên sử dụng khung lưới B40 để tạo độ thông thoáng, phần mặt phía ngoài sân không xây để vịt tự do đi lại.

Với chuồng đầu tư đơn giản có thể sử dụng cót ép, phên tre để che chắn thay cho tường gạch. 

+ Mái được lợp bằng tôn hay ngói xi măng với độ dốc 30% nếu lợp bằng các loại vật liệu như lá dừa nước hoặc rơm thì cần có độ dốc lớn hơn để nước mưa có thể thoát tốt tránh dột. Với các chuồng được lợp bằng mái tôn thì khoảng cách từ nền chuồng đến nóc tối thiểu là 3,8m

+ Nền chuồng bằng xi măng , lát gạch, nhưng tốt nhất là sử dụng cát với độ dày 15cm trở lên. Vì phân vịt nước nhiều nên khi sử dụng nền cát có ưu điểm là hút nước tốt làm nền khô. 

+ Sân chơi có kích thước sân tối thiểu bằng kích thước chuồng nuôi, có thể đổ cát để nước thấm nhanh hoặc lát gạch tàu có độ dốc 1% để không đọng nước. Nếu sân chơi nền đất dạng sân vườn có cây xanh thì diện tích sân cần rộng vì lượng phân thải ra hàng ngày của vịt không thể xịt rửa như sân lót gạch. 

+ Định kỳ phun khử trùng chuồng nuôi mỗi tuần một lần. Chuồng nuôi vịt hậu bị cần thoáng mát, khô ráo. Sân chơi rộng rất cần cho vịt hậu bị để vịt vận động. 

Thậm chí hằng ngày, trước lúc cho ăn phải đuổi vịt chạy mấy vòng trong sân để thể trạng của vịt giống được tốt. 

Chuồng nuôi vịt đẻ

 + Kiểu chuồng: Chuồng vịt đẻ cũng được xây dựng gần giống với chuồng nuôi vịt  hậu bị, xây dựng theo kiểu chuồng mở.


+ Kích thước chuồng: Chuồng nuôi vịt đẻ có chiều rộng thích hợp 10-12m. Chiều dài tuỳ thuộc vào số lượng vịt nuôi, nhưng phải đảm bảo mật độ nuôi 2,5-3 con/m2 nền chuồng. 

 + Tường xây 3 mặt phía trước cao 1,2m bằng gạch, bên trên sử dụng khung lưới B40 để tạo độ thông thoáng, phần mặt phía ngoài sân không xây để vịt tự do đi lại. Với chuồng đầu tư đơn giản có thể sử dụng cót ép, phên tre để che chắn thay vì tường gạch.

+ Mái được lợp bằng tôn hay ngói xi măng với độ dốc 30%, nếu lợp bằng các loại vật liệu như lá dừa nước hoặc rơm thì cần có độ dốc cao hơn để nước mưa có thể thoát tốt tránh dột. Với các chuồng được lợp bằng mái tôn thì khoảng cách từ nền chuồng đến nóc tối thiểu là 4m

 + Nền chuồng bằng xi măng hay lát gạch, nhưng tốt nhất là sử dụng cát với độ dày 15cm trở lên. Bên trên nền được lót trấu hoặc rơm khô và được bổ sung thường xuyên. Nên sử dụng chế phẩm BALASA No1 để khử mùi hôi trong chuồng nuôi. 

 + Sân chơi có kích thước sân tối thiểu bằng kích thước chuồng nuôi, có thể đổ cát để nước thấm nhanh hoặc lát gạch tàu có độ dốc 1% để không đọng nước. Sân có độ rộng tối thiểu bằng độ rộng của chuồng nuôi. Cuối sân nên có rãnh, bên trên có tấm đan để có thể thu phân về hố gas nhằm hạn chế lượng phân rửa xuống làm ô nhiễm nước ao bơi. 

 + Ổ đẻ được xếp xung quanh vách chuồng, tốt nhất trong chuồng nuôi phân khu ổ đẻ riêng ban ngày ngăn không cho vịt vào để đảm bảo ổ đẻ sạch. Ổ đẻ được đóng bằng gỗ hay ván gỗ, chia thành từng ô nhỏ kích thước 40cm x 40cm x 40cm. Mỗi ô nhỏ như thế đủ cho 4-5 mái đẻ. Lót ổ đẻ bằng rơm, trấu hay cỏ khô, hằng ngày phải kiểm tra lót ổ đẻ, đảm bảo lót ổ đẻ không bị dơ, ướt, không bị mốc hoặc nhiễm khuẩn, chẳng hạn như khuẩn Salmonella từ trứng truyền qua vịt con nở ra.


Theo định kỳ mỗi tuần phải phun thuốc sát trùng, tẩy uế chuồng trại và ổ đẻ để diệt nấm, khuẩn. Đối với vịt đẻ chỉ phun khử trùng vào buổi sáng để có thời gian khô chuồng và ổ đẻ vào buổi chiều đồng thời không gây xáo trộn đàn vịt ảnh hưởng đến quá trình hình thành trứng. 

Mật độ nuôi vịt ở các giai đoạn tuổi: Mật độ vịt tính trên diện tích chuồng nuôi còn phụ thuộc vào diện tích sân chơi, ao bơi, căn cứ vào sân chơi và ao bơi có thể điều chỉnh mật độ nuôi cho phù hợp. Dưới đây là mật độ nuôi được áp dụng cho hệ thống chuồng nuôi giai đoạn vịt con 0-14 ngày tuổi nuôi tại chuồng úm có diện tích diện tích sân bằng diện tích nền chuồng, ao bơi được xây kích thước 3 x 4m với độ sâu 30cm cho 200 vịt tắm trong 2 tuần lễ đầu. Từ giai đoạn tuần tuổi thứ 3 vịt được nuôi trong hệ thống chuồng có diện tích chuồng, sân chơi và ao bơi tương đương nhau. 

- Từ 1 - 7 ngày tuổi: 25 con/m2 nền chuồng 

- Từ 15 - 35 ngày tuổi: 10 con/m2

- Từ 8 - 14 ngày tuổi: 18 con/m2 nền chuồng 

- Từ 36 - 56 ngày tuổi: 8-6 con/m2 nền chuồng 

- Mật độ nuôi vịt hậu bị là 3,5- 4 con/m2 nền chuồng. 

- Mật độ nuôi vịt đẻ: 2,5-3 con/m2 nền chuồng.

Nguồn: Dự án phát triển chăn nuôi Thủy cầm an toàn sinh học

Monday, March 30, 2015

Bệnh viêm xoang mũi truyền nhiễm trên vịt

1. Đặc điểm bệnh:

- Bệnh thường xảy ra ở vịt con từ 4 - 20 ngày tuổi.

- Do Mycoplasma gây bệnh và Staphylococcus, Streptococcus kế phát.

- Bệnh gây tổn thương chủ yếu ở đường hô hấp làm cho vịt con ăn, uống khó khăn, còi cọc dần và kế phát một số bệnh khác như dịch tả, tụ huyết trùng…

- Chuồng trại ẩm ướt, thời tiết lạnh và nuôi dưỡng kém là điều kiện dễ dàng cho vịt bị bệnh viêm xoang.

2. Triệu chứng cơ bản:

- Đầu tiên phát hiện trong đàn vịt vài con kêu khẹt khẹt, tăng dần lên theo thời gian bệnh sau đó hai bên mũi chảy dịch nhờn trước trong, sau trắng đục và hai bên mũi nổi hai cục mềm tròn.

- Có nhiều con mắt bị viêm đỏ, nhem mắt, mù mắt. 


3. Bệnh tích:

- Niêm mạc mũi, hốc mũi xung huyết đỏ, chứa dịch viêm.

- Phổi bị viêm, thủy thủng (tích nước).

4. Phòng bệnh:

- Chuồng trại sạch, khô, thoáng, chăm sóc nuôi dưỡng tốt.

- Sử dụng một số loại kháng sinh như TYLOSINE ; TERRAMYCINE; SPIRAMYCIN… Trộn cho ăn hoặc uống liên tục 3 - 5 ngày từ khi mua vịt con. 

5. Trị bệnh: 

Sử dụng một số loại kháng sinh như phòng bệnh ở trên nhưng với liều điều trị gấp đôi liều phòng.Tham khảo phương pháp điều trị pha nước cho vịt uống hoặc nhỏ mũi ngày 2 lần x 3 ngày: MD BETA 1ml + MD SPIRACOLI 2g + BROMHEXINE TD 1ml / 20 vịt con hoặc 5 kg vịt 

Nguồn: Dự án phát triển chăn nuôi Thủy cầm an toàn sinh học

Sunday, March 29, 2015

Hướng dẫn cách điều trị bệnh phó thương hàn trên vịt

1. Đặc điểm bệnh:

- Bệnh thường xảy ra ở vịt con giai đọan 3 đến 15 ngày tuổi cả vịt lớn và vịt đẻ.

- Vịt đẻ nhiễm bệnh, vi khuẩn nhiễm vào trong trứng, khi vịt nở đã bị nhiễm trùng.

- Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua thức ăn, nước uống và khi điều kiện ngoại cảnh bất lợi làm cho vịt yếu và bệnh phát ra.

2. Triệu chứng cơ bản:

- Vịt ủ rũ, mắt bị nhem, xệ cánh, ít vận động.

- Tiêu chảy phân loãng xanh lá cây, lẫn bọt khí.

- Một số con bị bại chân, viêm phổi thở khò khè.

3. Bệnh tích:

- Gan sưng, lấm tấm những nốt vàng trắng.

- Túi mật sưng, niêm mạc dạ dày tuyến (cuống mề) sưng, phủ lớp chất nhầy.

- Ruột sưng, xuất huyết, đôi khi bị loét.

- Vịt đẻ thường ở thể mãn tính, xác gầy ốm, buồng trứng xuất huyết đỏ, trứng non biến dạng. 


4. Phòng và trị bệnh:

- Chuồng trại khô, sạch, ấm, thoáng.

- Vịt con trên 7 ngày mới tập cho ăn mồi.

- Điều trị:

+ Trộn một số loại kháng sinh cho vịt ăn hoặc uống từ 3 - 5 ngày liên tục sau khi mua về và lập lại sau 7 ngày. Các thuốc kháng sinh dùng phòng và trị bệnh có chứa NEOMYCIN, COLISTIN; FLUMEQUINE ;…và kèm theo thuốc bồi dưỡng VITAMINE, ELECTROLYTE, men tiêu hóa.

+ Sử dụng thuốc cần tuân thủ theo thời gian và khối lượng vịt qui định. Thí dụ khi điều trị chích đối với vịt lớn hoặc cho uống đối với vịt con bị bệnh phó thương hàn tham khảo thực hiện phương pháp sử dụng: MD ANTIBIOTIC 1ml + MD BETA 1ml + MD DOC SONE MOST 1ml / 10kg vịt hoặc 20-30 vịt con.. Đồng thời pha nước cho uống, ngày 2 lần x 3-5 ngày: MD BIOVET 1ml + MD ELECTROLYTES 3g + MD FLUM 20 % 1 ml / 5 – 10 kg vịt. 

Nguồn: Dự án phát triển chăn nuôi Thủy cầm an toàn sinh học 

Hướng dẫn cách phòng trị bệnh E.Coli trên vịt

1. Đặc điểm bệnh:

- Bệnh thường xảy ra ở vịt con từ 3 đến 15 ngày tuổi, nhất là ở những đàn vịt tập cho ăn mồi sớm.

- Vi khuẩn E .coli xâm nhập vào cơ thể vịt qua thức ăn, nước uống, ngay trong đường ruột vịt đã có sẳn vi khuẩn khi điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng kém, chuồng trại kém vệ sinh, thời tiết thay đổi làm cho vịt suy yếu, vi khuẩn E .coli sẽ phát triển nhanh và gây bệnh. 

Ảnh minh họa

2. Triệu chứng cơ bản:

- Vịt rút cổ, xù lông, lim dim mắt.

- Tiêu chảy phân trắng loãng, hậu môn dính phân; trước khi chết nhiều con có triệu chứng co giật, ngoẹo cổ.

3. Bệnh tích:

- Gan sưng xuất huyết.

- Túi khí có những ổ viêm nhỏ màu vàng đục nằm rãi rác.

- Niêm mạc ruột sưng đỏ, chứa phân trắng lợn cợn. 

4. Phòng bệnh:

- Chuồng trại khô, sạch, ấm, thoáng.

- Vịt con trên 7 ngày mới tập cho ăn mồi.

- Trộn một số loại kháng sinh cho vịt ăn hoặc uống từ 3 đến 5 ngày liên tục sau khi mua về và lập lại sau 7 ngày. Sử dụng một số thuốc chứa AMPI - COLI; FLUMEQUINE; men vi sinh… bồi dưỡng VITAMINE, ELECTROLYTES. Đồng thời có thể sử dụng phương pháp pha nước MD BETA 1ml + MD ELECTROLYTES 2g + MD REDNALGIN 1 ml / 1 lít nước cho vịt uống 3 ngày liên tục .

5. Trị bệnh: 

Sử dụng thuốc có thành phần AMPI – COLI; FLUCOMUTIN;… và kèm theo thuốc bồi dưỡng VITAMINE, điều trị theo hướng dẫn trên nhãn thuốc của nhà sản xuất. Hoặc thực hiện phương pháp pha nước cho uống, ngày 2-3 lần x 3-5 ngày liên tục MD COLISTIN 2ml + MD BETA 2ml + MD NAPOLI 1ml + MD ELECTROLYTES 2g /1 lít nước . Sau khi đàn vịt khỏe nên pha nước cho uống, ngày 1 lần ( trong 2h ) x 5 ngày cho 50 vịt con : MD HEMATOMIN 2ml + MD CALCIMILK 2ml + MD REDMIN 1ml + MD TOCSEL 1ml/ 1 lít nước.

Nguồn: Dự án phát triển chăn nuôi Thủy cầm an toàn sinh học