Sunday, March 23, 2014

Về tình trạng thoái hóa đất nông nghiệp: Giảm chua phèn bằng phân bón

Những năm gần đây, Việt Nam ít có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về thổ nhưỡng trong khi nhiều vùng đất bị biến đổi chất đất, tăng chua phèn. Liệu bản đồ đất đai xây dựng cách đây hàng chục năm có còn giá trị sử dụng?

Trong quá khứ, chúng ta đã có nhiều thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu thổ nhưỡng. Tuy nhiên, việc lập bản đồ đất và những công trình tầm vóc về lĩnh vực này thường đã có thâm niên 15-25 năm rồi. Thời gian gần đây, ngành nông nghiệp đã cực kỳ quan tâm đến nghiên cứu phát triển các loại giống (cây trồng, thủy sản, vật nuôi...) nhưng lại ít quan tâm đến nghiên cứu thổ nhưỡng, ít có công trình nghiên cứu chuyên sâu về khoa học đất. 

Chính trong thời gian này, Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu đã trở thành cường quốc xuất khẩu nông sản như lúa gạo, chè, cà phê, cao su, hồ tiêu; đồng thời cũng bùng nổ dữ dội những tác động làm biến động chất lượng đất đai. Đó là:

Có thể giảm độ chua cho đất trồng cà phê bằng cách bón phân hợp lý.

- Nạn phá rừng đã đến mức trầm trọng và trở thành vấn đề có tính chất “quốc nạn” gây nên tình trạng xói mòn, lở đất, lũ ống, lũ quét ngày càng trầm trọng;

- Việc độc canh 3-4 vụ lúa/năm trên cùng một vùng đất trở thành phổ biến;

- Nông dân ít quan tâm đến sử dụng các loại phân hữu cơ như trước, mà lệ thuộc hoàn toàn vào phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật…, dùng phân bón hóa học không đúng cách gây ô nhiễm môi trường, thoái hóa đất.

- Biến đổi khí hậu, Trái đất nóng lên đã trở thành vấn đề toàn cầu gây lên các trạng thái khí hậu cực đoan như bão lũ, lở đất, nước biển dâng gây ngập mặn mất đất canh tác (Việt Nam là 1 trong 8 quốc gia bị tác động nặng nề nhất thế giới).

Những vấn nạn trên tác động thế nào đến chất lượng đất trồng? Liệu bản đồ đất đai xây dựng cách đây hàng chục năm có còn giá trị sử dụng như một loại cẩm nang cho nông dân nữa không?

Lưu huỳnh tích tụ gây ngộ độc đất

Trong bài báo “Sử dụng nguyên tố dinh dưỡng lưu huỳnh hợp lý” (đăng trên NNVN, ngày 10.2.2014), tiến sĩ Nguyễn Đăng Nghĩa (Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đất - Phân bón và Môi trường Phía Nam) nói về kết quả khảo sát lưu huỳnh (S) trong đất Tây Nguyên. Kết quả làm nhiều người giật mình khi một vùng đất đỏ bazan màu mỡ từ chỗ thiếu hụt nguyên tố S, nay đã trở thành một vùng đất chua (pH thấp) với hàm lượng S tầng mặt quá cao (86ppm), cho thấy nguy cơ ngộ độc S trên đất trồng cà phê.

Để giải thích tình trạng trên, tiến sĩ Nguyễn Đăng Nghĩa cho rằng nguyên nhân là do nông dân thích sử dụng loại phân có hàm lượng S cao NPK 16-16-8-13S theo thói quen đã có từ thời trước giải phóng, lâu ngày lưu huỳnh tích tụ lại. Chúng tôi nói thêm rằng: Hàng năm chúng ta sản xuất và sử dụng khoảng trên 1 triệu tấn phân supe đơn với hàm lượng 12%S. Để sản xuất NPK, nếu trộn supe với đạm urê sẽ gây hiện tượng sản phẩm chảy nước khó bảo quản. Chính vì vậy chúng ta nhập hàng vạn tấn đạm sulphat amôn (NH4)2SO4 với hàm lượng 24%S về để phối với supe sản xuất phân NPK. Hai loại phân có hàm lượng S cao trộn với nhau sẽ tạo ra những sản phẩm NPK chứa S rất cao.

Mấy chục năm qua, nông dân đã dùng các loại phân này chăm bón, nếu không biết thay đổi hoặc do thị trường không có chủng loại khác để thay thế thì đây chính là nguyên nhân gây nên tình trạng đất bị hóa chua (pH thấp) và tích tụ S gây ngộ độc đất.

Câu hỏi đặt ra dành cho ngành nông nghiệp và các nhà khoa học nghiên cứu là: Ở Việt Nam có bao nhiêu vùng đất đã bị biến đổi có tính “quay ngoắt” như vậy? Làm thể nào để hạn chế, chấm dứt tình trạng chua hóa này?

Ở Nhật Bản, từ những năm 1960 người ta đã có những nghiên cứu nghiêm túc về tác động của phân hóa học tới việc cải tạo đất, từ đó đề ra các biện pháp định hướng cho nông dân sử dụng những sản phẩm phân bón có lợi cho việc cải tạo đất để sản xuất ra các nông sản sạch, có chất lượng cao. Qua nghiên cứu, người Nhật nhận thấy lân nung chảy là loại phân khoáng tự nhiên có tác dụng rất tốt cho cây trồng, làm tăng năng suất, chất lượng nông sản và tốt cho việc cải tạo đất, nên khuyến cáo nông dân sử dụng ngày càng nhiều. Tư liệu về xu hướng sử dụng phân lân tại Nhật Bản từ năm 1961 -1971 do Liên hiệp Các xí nghiệp sản xuất phân bón Nhật Bản (Shinkyobashi Kyobashi, 3-6 Chucku Tokyo, Japan) cho thấy lượng phân lân nung chảy ngày càng được ưa chuộng. Cụ thể, năm 1961: 239.000 tấn, năm 1963: 216.000 tấn, 1965: 263.000 tấn, 1967: 414.000 tấn, 1969: 449.000 tấn, 1971: 487.000 tấn.

Cùng mốc thời gian trên, tổng lượng các loại phân bón khác được sử dụng ở Nhật Bản từ 712.000 tấn (năm 1961) giảm dần xuống còn 135.000 tấn (năm 1971). 

Cải tạo đất bằng phân khoáng thiên nhiên

Ở Việt Nam, những nghiên cứu của các nhà khoa học nông nghiệp và khảo nghiệm thực tế của Công ty CP Phân lân Văn Điển cũng cho thấy kết quả tương tự như ở Nhật Bản: GS-TS Võ Minh Kha cùng cộng sự qua nhiều năm nghiên cứu, khảo nghiệm đã nhiều lần khẳng định trong các công trình nghiên cứu của ông: Phân lân Văn Điển là loại phân tốt nhất cho đồng ruộng Việt Nam, đặc biệt là ruộng chua, phèn...

Ở vùng chè Thái Nguyên, canh tác theo truyền thống năng suất rất thấp, do sử dụng nhiều năm cùng một loại phân bón có tính chua làm cho đất quá chua và nghèo kiệt. Tại Nông trường Chè Sông Cầu, ông Nguyễn Văn Bốn - Phó Giám đốc đơn vị này nói với chúng tôi: “Đất ở đây chua quá, pH 2,8 – 3,1, cây chè chùn lại không phát triển”. 

Khi đưa phân bón Văn Điển vào các huyện Đại Từ, đồng Hỷ, Phú Lương, Phú Bình năng suất tăng gấp 2-3 lần, bà con nông dân hồ hởi đón nhận. Tại vùng chè Phú Thọ, 2 liên doanh chè Ấn Độ là Phú Bền và Phú Đa sử dụng phân chuyên dùng Văn Điển năng suất chè tăng gấp trên 3 lần canh tác theo truyền thống và họ gắn bó với Văn Điển gần 10 năm nay. Ông Nguyễn Văn Tú - Giám đốc Công ty Chè Sông Lô cũng nhận định: “Dùng phân bón Văn Điển rất hiệu quả, năng suất cao, chất lượng chè lại tốt, chỉ cần 3,75 – 4,2 kg búp tươi/kg chè khô; trong khi các loại chè khác phải dùng 5kg búp tươi/kg chè khô”.

Theo tiến sĩ Nguyễn Đăng Nghĩa, nông dân thích sử dụng loại phân có hàm lượng lưu huỳnh cao theo thói quen từ trước giải phóng, lâu ngày lưu huỳnh tích tụ lại, làm cho một vùng đất bazan màu mỡ Tây Nguyên bị chua hóa với hàm lượng lưu huỳnh tầng mặt quá cao.

Tại vùng Kim Sơn (Ninh Bình) có khoảng 10.000ha đồng ruộng bị xâm nhập mặn, trồng lúa thu hoạch rất thất thường, nhiều vụ mất trắng, hoặc cho năng suất rất thấp. Năm 2011, Trung tâm Chuyển giao công nghệ và khuyến nông – Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (VAAS) đưa phân bón đa yếu tố NPK Văn Điển, làm mô hình với giống lúa TL6 trên vùng đất này, nông dân đã có thu hoạch với năng suất từ 8 – 9 tấn/ha. 

Còn ở huyện Nga Sơn (Thanh Hóa) là nơi có diện tích chua, mặn trồng cói cho năng suất rất thấp; khi sử dụng phân chuyên dùng Văn Điển thì năng suất và chất lượng cói tăng lên mạnh, độ dài của cói trên 1,8m tăng lên >50%, sợi cói đanh, dai. Sản phẩm cói tốt hơn đồng nghĩa với thu nhập được cải thiện.

Ở Tây Nguyên, phân bón Văn Điển đã được khẳng định là không thể thiếu đối với các vườn cà phê, hồ tiêu, cao su... Còn ở miền Tây Nam Bộ, suốt từ Long An đến huyện Hòn Đất, Kiên Giang, lân Văn Điển được coi như là giải pháp trị chua phèn và cung cấp đầy đủ, đồng thời, cân đối dinh dưỡng đa, trung, vi lượng cho đồng ruộng để có năng suất cao. Hiện nay, sản phẩm Văn Điển tiêu thụ khoảng 30% tại Bắc Bộ, 35-40% ở Tây Nguyên, trên 30% ở Nam Bộ và dành 5 – 10% xuất khẩu nhưng vẫn thiếu, chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Công ty đang gấp rút xây dựng thêm một nhà máy nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu của nông dân và phục vụ xuất khẩu. Phân lân FMP Văn Điển chứa 15 – 19% P2O5, 28 – 30% CaO, 24 – 32% SiO2, 15 – 18% MgO và đầy đủ các chất trung vi lượng như Zn, Cu, B, Mo. Mn, Fe, Co... với tính kiềm (pH = 8 – 8,5). Phải chăng đó là giải pháp cho việc cải tạo đất khỏi nhiễm chua phèn, ngập mặn, bổ sung những mất mát Ca, Mg do quá trình xói mòn... chống lại những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu ở Việt Nam? 

PGS-TS Mai Quang Vinh/ Dân Việt

Thursday, March 20, 2014

Lai đậu xanh với đậu đen

Đậu đen và đậu xanh thuộc hai loài khác nhau. Việc lai xa rất khó khăn vì về mặt di truyền bộ nhiễm sắc thể của hai bên bố mẹ khác nhau.

Ảnh minh họa
* Xin hỏi, nếu đem cây đậu đen lai với cây đậu xanh có được không? Nếu có thì hạt như thế nào? Hoàng Ngọc Phi, Bắc Quang, Hà Giang

- Đậu đen và đậu xanh thuộc hai loài khác nhau. Việc lai xa rất khó khăn vì về mặt di truyền bộ nhiễm sắc thể của hai bên bố mẹ khác nhau về số lượng, hình dạng, kích thước, cách sắp xếp các gen trên nhiễm sắc thể, sự không tương hợp giữa nhân và tế bào chất của hợp tử...

Tuy nhiên người ta vẫn có thể thực hiện thành công quá trình lai xa giữa hai loài thực vật khác nhau. Tất nhiên đây chỉ có ý nghĩa về lý thuyết chứ không có giá trị thực tiễn vì cây lai cho năng suất rất thấp. Chưa ai thực hiện việc lai đậu đen với đậu xanh có lẽ cũng do những lý do vừa nói.

GS Nguyễn Lân Dũng/ nongnghiep.vn

Saturday, March 8, 2014

Để ca cao cho nhiều trái

Ca cao được trồng bằng cây con sau khi hạt được gieo trực tiếp trong túi nylon cao khoảng 25cm, có đường kính 15cm.

Cây con thường được sắp xếp hàng đôi dưới bóng râm và chăm sóc cho đến 7 - 8 tháng đem trồng ra đất. Mật độ cây trồng thuần biến động từ 950 – 1300 cây tùy theo dinh dưỡng đất và khí hậu. Trồng xen trong vườn dừa với khoảng cách 3 x 3m, mật độ có thể từ 400 - 700 cây/ha.

Phân vô cơ rất quan trọng với cây ca cao, giúp tăng năng suất và hạn chế sâu bệnh.

Nắm vững nhu cầu phân bón và cách bón phân cho cây ca cao sẽ giúp nông dân giảm chi phí, tăng năng suất chất lượng và hiệu quả. Loại phân rất quan trọng cho ca cao là phân vô cơ (đạm, lân, kali hoặc NKP) giúp bổ sung khoáng chất nuôi cây và vôi giúp cải thiện độ pH đất thích hợp cho cây. 

Trong đó phân lân giúp bổ sung chất phốt pho, trung lượng. Phân chuồng/hữu cơ giúp bổ sung các dinh dưỡng trung, vi lượng, cải thiện độ phì của đất, bổ sung khoáng chất và kích thích sự phát triển của hệ vi sinh vật, hạn chế sự phát triển của nấm bệnh. Ngoài ra còn có phân bón lá cung cấp bổ sung chất dinh dưỡng trung và vi lượng cho cây.

Mức khuyến cáo áp dụng phân bón cho cây ca cao thời kỳ kinh doanh như sau: Urea 0,4kg + super lân 0,9kg + KCl 0,5kg + vôi 0,5kg + phân chuồng/hữu cơ 10kg cho một cây. Lượng phân này chia đều cho số lần bón trong năm. Thường bón nhiều lần vào các tháng mùa mưa. Bón vôi, phân lân và phân chuồng/hữu cơ vào đầu mùa mưa (tháng 4). 

Các loại phân vô cơ chia làm 4 lần bón vào các tháng 5, 7, 9, và 11. Nếu bón vào mùa khô phải đảm bảo có nước tưới. Phân bón lá thì chọn các loại phân có các trung lượng như Ca, Mg, S và các vi lượng như Fe, Mn, Cu, B, Mo và phun vào các tháng 2, 5, 8 và 11.

Cách bón: Bón theo tán cây bằng cách đào rãnh quanh tán, bón phân rồi lấp đất. Nếu vườn có nhiều lá khô thì cào lá trước khi bón rồi lấp lại. Cách khác là đào rãnh giữa hai hàng cây ca cao, bón phân rồi lấp đất và lấp lá lại. 

Áp dụng kiểu bón khác nhau cho mỗi đợt, ví dụ đợt đầu bón rãnh dọc thì sau bón rãnh ngang. Không bón chạm phân vào lá, không bỏ phân sát gốc, không bón dưới lá ủ, khi bón đất đủ ẩm và sau bón tưới nước hòa tan phân, không bón trước những cơn mưa lớn nhất là đất cát pha. 

TS Nguyễn Công Thành (theo Dân Việt)

Thursday, February 27, 2014

Phòng trừ bệnh hại trên cây cao su

Theo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Đăk Nông, với diễn biến thời tiết thất thường như hiện nay thì rất dễ làm phát sinh các loại sâu bệnh hại trên cây cao su, nhất là vào thời điểm cây ra lá non, thuận lợi cho các bệnh phấn trắng, héo đen đầu lá, nhện đỏ, nhện vàng phát sinh gây hại. Vì thế, bà con nông dân cần tăng cường triển khai các biện pháp phòng chống, tránh để bệnh hại xảy ra làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của vườn cây. 

Gia đình ông Trần Xuân Thu ở thôn Quảng Phước, xã Đạo Nghĩa (Đắk R’lấp) có 2 ha cao su. Thời gian này, khi thời tiết giao mùa giữa mùa lạnh sang hanh khô, mỗi ngày ông đều ra thăm vườn một lần, tiến hành phát dọn ở những khu vực có nhiều cỏ dại để phòng tránh các loại sâu bệnh phát sinh. Tuy nhiên, qua theo dõi, vườn cây của ông vẫn có những biểu hiện của bệnh phấn trắng, Ông Thu cho biết: “Mấy ngày này, khi thấy các biểu hiện của bệnh phấn trắng và bắt đầu có hiện tượng rụng lá non, phiến lá bị biến dạng, tôi lập tức tỉa bỏ những cành bị bệnh, vệ sinh vườn sạch sẽ. Nhờ đó, phần nào hạn chế được sự phát sinh của sâu bệnh trên cây cao su”.

Nông dân Đắk R’lấp vệ sinh vườn, phòng bệnh hại cho cây cao su

Ông Hoàng Văn Cúc ở bon Bu Lanhxã Đắk R’tíh (Tuy Đức) có gần 1 ha cao su nhưng gần đây đã phát hiện một số cây bị bệnh héo đen đầu lá. Để ngăn bệnh phát sinh mạnh gây hại, ông huy động cả nhà gồm 5 người ra vườn để kiểm tra từng cây một và tiến hành phun thuốc phòng trừ. Ông Cúc cho biết: “Nhờ trước đó được tham gia lớp tập huấn về cách nhận biết, phòng trừ bệnh trên cây cao su do Phòng Nông nghiệp huyện tổ chức nên khi thấy khoảng 10% cây có lá non nhú chân chim trên vườn, tôi dùng máy phun 2-3 lần với chu kỳ 10 ngày/lần vào buổi sáng, khi trời ít gió. Khi cây ra lá được khoảng 90% thì tôi không phun nữa. Nhờ cách làm này mà tôi đã khống chế được dịch bệnh lây lan”.

Theo Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Tuy Đức thì toàn huyện hiện có 7.158 ha cao su, trong đó có trên 1.550 ha ở thời kỳ kinh doanh. Thời gian này, qua kiểm tra, ở nhiều vườn cây đã có biểu hiện của sâu bệnh. Do đó, Phòng đang tập trung cử cán bộ xuống cơ sở, cùng với khuyến nông, bảo vệ thực vật xã, thôn, bon hướng dẫn, chỉ đạo bà con tăng cường các biện pháp chăm sóc đúng cách như bón cân đối các loại phân bón, giảm mật độ cạo mủ, vệ sinh vườn, cắt tỉa những cành bị bệnh đem đi tiêu hủy, phun thuốc hóa học tránh để bệnh hại lây lan ra diện rộng.

Theo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh thì hiện nay, toàn tỉnh đã có hàng trăm hécta cao su có biểu hiện của sâu bệnh gây hại, nhất là tại các huyện Tuy Đức, Krông Nô, Đắk R’lấp, Đắk Mil. Trước tình hình này, mới đây, Chi cục cũng đã có văn bản đề nghị UBND các huyện, thị xã chỉ đạo các phòng nông nghiệp, trạm bảo vệ thực vật nhanh chóng triển khai kiểm tra, theo dõi diễn biến bệnh trên toàn bộ diện tích, hướng dẫn nhân dân phòng, trừ hiệu quả. Khi vườn cao su mắc các bệnh phấn trắng, héo đen đầu lá, nhện đỏ, bà con phải biết sử dụng đúng thuốc đặc trị, đúng lúc, đúng liều lượng.

Cụ thể, có thể sử dụng các loại thuốc hóa học như: Bột lưu huỳnh thấm nước (Kumulus 80WP, Sulox 80WP) nồng độ 0,3%; Hexaconazole (Anvil 5SC, Hexin 5SC, Vivil 5SC, Saizole 5SC) nồng độ 0,2%; hỗn hợp của Carbendazim và Hexaconazole (Arivit 250SC, Vixazol 275SC) nồng độ 0,2% hoặc Diniconazole (Sumi-Eight 12,5WP) nồng độ 0,05 - 0,1%. Phun thuốc lên tán lá khi có 10% cây có lá non nhú chân chim trên vườn và ngừng phun khi 80% cây có lá ổn định. Dùng máy phun cao áp, phun 2-3 lần với chu kỳ 7-10 ngày/lần vào buổi sáng ít gió với lượng nước 1.000 - 1.400 lít/ ha. Những nơi có điều kiện, nhà vườn có thể sử dụng thêm phân bón qua lá để tăng cường sức đề kháng cho cây. Đồng thời, nông dân cũng cần kết hợp với các biện pháp như bón thêm kali, giảm đạm, tạm ngưng hoặc hạn chế bớt số lần cạo mủ, vệ sinh vườn, cắt tỉa cành bị bệnh đem đi tiêu hủy… 

Bài, ảnh: Hồng Thoan/ Báo Đăk Nông

Tuesday, February 25, 2014

Kỹ thuật sản xuất cây điều ghép

Vườn ươm gốc ghép phải đặt nơi cao ráo, thoát nước tốt. Xung quanh khu vực vườn ươm phải quang đãng, không có cây che bóng.

Ảnh minh họa

1. Kỹ thuật sản xuất cây gốc ghép

a. Thiết kế vườn ươm

- Vườn ươm gốc ghép phải đặt nơi cao ráo, thoát nước tốt. Xung quanh khu vực vườn ươm phải quang đãng, không có cây che bóng.

- Bầu ươm: bằng túi nhựa P.E màu đen, dày = 0,15mm, kích thước túi bầu 15cm x 25cm hoặc 18cm x 28cm, bầu được đục lỗ thoát nước và bảo đảm độ thoáng khí.

- Hỗn hợp đất bao gồm: 89% đất phù sa hoặc đất mặt (cát pha đến thịt nhẹ), 10% phân chuồng hoai mục, 1% phân supe lân. Hỗn hợp đất, phân trộn đều và được phun thuốc chống nấm hại rễ 1 - 2 ngày trước khi đóng bầu. 

- Bầu ươm gốc ghép được đặt theo luống, mỗi luống xếp từ 4-6 hàng bầu. Rãnh luống rộng 50-60 cm để dễ dàng thực hiện thao tác ghép.

b. Giống điều làm gốc ghép

Kinh nghiệm cho thấy sử dụng hạt của cây điều sẻ lùn làm cây ghép sẽ tránh được tình trạng cây điều ghép phát triển không đều. Cây điều sẻ là cây điều lùn, hạt nhỏ (trên 250 hạt/kg) nên hệ số nhân giống cao, sức sống của hạt khoẻ, cây con phát triển mạnh, đồng đều, ít thấy hiện tượng phân ly khi gieo bằng hạt.

c. Xử lý và gieo hạt giống

- Hạt giống làm gốc ghép được thu gom trên các cây mẹ có năng suất cao và sinh trưởng khỏe, được rửa sạch phơi khô đến độ ẩm 8-10%. Bảo quản hạt trong điều kiện khô ráo và kín gió.

- Xử lý hạt: cho hạt vào nước để loại bỏ hạt nổi, rửa sạch và ngâm nước 48-72 giờ. Mỗi ngày thay nước 1 lần. Sau đó, ủ hạt trong bao tải (bao gai) hay cát ẩm, nền thoát nước, nơi râm mát, có thể phủ nhẹ trên mặt bằng rơm rạ. Sau 4 - 5 ngày thì hạt nảy mầm.

- Gieo hạt: Khi hạt nảy mầm dùng lưỡi lam cắt chóp rễ (để rễ hình thành chùm rễ cọc sau này) và gieo hạt vào bầu ươm đã được chuẩn bị sẵn. Mỗi bầu gieo 1 hạt, đặt eo hạt tiếp xúc với mặt đất và ấn chìm hạt ngay xuống mặt đất. Tưới ẩm bằng ô doa hoặc vòi phun hàng ngày.

d. Chăm sóc cây con trong bầu

- Tưới đủ nước và làm cỏ sạch khi cây còn nhỏ. Phun thuốc Sherpa 25EC để phòng sâu hại lá, sâu đục ngọn và bọ xít muỗi. Phun thuốc trừ nấm để phòng bệnh lở cổ rễ, đặc biệt thường xảy ra trong tháng đầu tiên khi cây con chưa hóa gỗ.

2. Vườn nhân chồi ghép

- Vườn trồng cây lấy chồi ghép gọi là vườn nhân chồi ghép có trồng cây đầu dòng chọn được trong quá trình bình tuyển và đã qua hậu kiểm hoặc là giống đã được khu vực hoá hoặc đã được công nhận là giống quốc gia phù hợp với địa phương.

- Kỹ thuật chọn chồi ghép: Chồi ghép phải là chồi ngủ khoẻ không bị nhiễm sâu bệnh, tuổi của chồi tương đương với tuổi gốc ghép (2 tháng) thì tỷ lệ sống cao, đồng đều. 

Chồi ghép sau khi cắt nếu vận chuyển đi xa cần được nhúng qua nước, gói vào giấy báo hoặc quấn bằng vải, xếp vào thùng xốp có lót đá ở đáy thùng. Chồi ghép đặt vào thùng đá phải được cách đá bằng một lớp vải hoặc giấy báo. 

Nếu vận chuyển ngắn hoặc ghép nhanh thì chỉ cần gói chồi ghép trong một khăn giữ ẩm và để nơi thoáng mát.

3. Kỹ thuật ghép

a. Tiêu chuẩn gốc ghép

- Cây con ươm bằng hạt trong bầu được khoảng 45-60 ngày thì tiến hành đảo bầu (nhấc rễ), loại bỏ các cây còi cọc hoặc dị dạng và xếp lại thành từng ô với mức độ sinh trưởng khác nhau để tiện chăm sóc. Sau đó để cây con ổn định trong thời gian 30 ngày thì tiến hành ghép.

- Tiêu chuẩn cây gốc ghép:

+ Đường kính thân từ 7 - 10mm .

+ Cây con làm gốc ghép có từ 10-15 lá trở lên.

+ Tuổi cây con làm gốc ghép từ 60 ngày tuổi trở lên.

+ Cây con khỏe mạnh, không bị nhiễm sâu bệnh.

b. Tiêu chuẩn chồi ghép

- Thời gian lấy chồi ghép tốt nhất là cây chuẩn bị phát đợt lá mới. 

- Chồi ghép tốt cần đạt các tiêu chuẩn sau:

+ Chồi vừa mới bật, đường kính chồi từ 7 - 10mm.

+ Chiều dài chồi ghép 7cm.

+ Không có vết sâu bệnh, chồi lấy ở ngoài sáng.

c. Thời vụ ghép

Thời vụ ghép tốt nhất, đạt tỷ lệ sống cao là từ tháng 2 - 7. Thời vụ này sử dụng chủ yếu chồi ghép từ vườn nhân chồi. Trong thực tế, từ tháng 2 đến tháng 5 là thời kỳ cây điều có hoa, mang quả nên nếu sử dụng chồi từ cây mẹ thì thời vụ tốt nhất là từ tháng 6 đến tháng 8. 

Nên ghép vào buổi sáng lúc trời mát, lúc cây đã hút đủ nước qua đêm. Thời gian ghép tốt nhất là 6 - 10 giờ sáng.

d. Thao tác ghép

Ghép điều có thể thực hiện bằng 3 phương pháp: ghép vát (ghép áp), ghép nêm và ghép mắt. Đạt tỷ lệ sống cao là ghép vát hoặc ghép nêm. Thông dụng và dễ thao tác là ghép vát. 

+ Bước 1: Dùng dao ghép vạt xiên thân gốc ghép một mặt phẳng nghiêng dài 3-4 cm cách mặt bầu (mặt đất) từ 10-15cm, chừa lại 2-3 lá thật trên gốc ghép.

+ Bước 2: Dùng dao vạt một mặt phẳng nghiêng trên chồi ghép tương tự như vạt gốc ghép.

+ Bước 3: Áp mặt cắt của chồi ghép và gốc ghép lại với nhau để có sự tiếp hợp. Nếu đường kính của chồi ghép và gốc ghép chênh lệch nhau thì nên để cho một bên mép vỏ của chồi ghép và gốc ghép liền khớp với nhau.

+ Bước 4: Dùng dây ni-lông mỏng quấn chặt từ dưới lên trên theo kiểu lợp mái nhà để cố định và bịt kín chồi ghép.


Chuẩn bị gốc và chồi trước khi ghép
Sau khi ghép
Hình minh hoạ cách ghép chồi vạt ngọn  

4. Chăm sóc cây ghép

- Cây sau khi ghép được tưới ẩm bằng vòi phun hoặc ô doa hàng ngày, 2 - 3 ngày đầu có thể tưới số lần nhiều hơn. 

- Khi cây ghép đã bứt chồi, nếu tầng lá thứ nhất của cây phát triển kém có thể tưới phân NPK loại 16:16:8 nồng độ 1 - 1,5%. 

- Thường xuyên kiểm tra để cắt bỏ các chồi mọc ra ở phía dưới vết ghép.

- Đảo bầu: Khi cây ghép có tầng lá đầu tiên phát triển hoàn chỉnh (thường phải từ 4-6 tuần kể từ lúc ghép) thì tiến hành đảo bầu và phân loại cây. 

- Bảo quản cây ghép, giữ cho cây sinh trưởng chậm lại do quá lứa trồng: Trong trường hợp cây quá lứa trồng cây phải được hãm lại để vụ sau hoặc lứa sau. Phương pháp giữ cho cây sinh trưởng chậm lại là hạn chế chăm bón, tưới nước. Đặt bầu ghép lên lớp ni-lông cách ly đất là cách tốt nhất hạn chế sinh trưởng của cây ghép trong bầu, kết hợp với hạn chế đến mức thấp nhất tưới nước cho cây.

5. Tiêu chuẩn cây điều ghép trước khi xuất vườn

- Có đủ 2 tầng tán lá khoẻ, lá bánh tẻ, tầng lá thứ 2 cứng cáp, không héo khi vận chuyển trồng.

- Chiều cao cây > 30 cm

- Đường kính gốc ghép đạt 0,8 - 1 cm trở lên

- Điểm ghép chắc liền, tròn đều trên thân chính. Chiều cao điểm ghép không quá 20cm.

- Cây xuất vườn phải được đảo bầu tối thiểu trước 10 ngày.

Ngọc Lan/ khuyennongvn.gov.vn

Friday, February 21, 2014

Chăm bón cây cà phê sau Tết

Sau những ngày nhộn nhịp đón Xuân Giáp Ngọ 2014, bà con nông dân Tây Nguyên đang tập trung tưới nước và chăm sóc cây cà phê. Năm nay theo dự báo, mùa khô khá khắc nghiệt, khả năng thời tiết nắng hạn và thiếu nước tưới là rất lớn.

Vì thế để đảm bảo cho vụ mùa cà phê thắng lợi, nông dân phải biết sử dụng nguồn nước và cung cấp dinh dưỡng hợp lý, tạo tiền đề cho cây phát triển tốt có đủ sức khỏe để nuôi trái trong mùa mưa.

Ảnh minh họa

Theo đánh giá của Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, vụ cà phê năm qua bà con vẫn có khuynh hướng tưới thừa nước khoảng 300 m3 nước/ha/vụ, gây lãng phí rất lớn. Trong khi đó các cảnh báo đều chỉ rõ rằng mức nước ngầm ngày càng xuống thấp, nguồn nước dự trữ ở các sông hồ ngày càng cạn kiệt. Vì vậy, nếu như bà con biết rõ nhu cầu nước và kỹ thuật tưới trong mùa khô thì có thể giảm áp lực về nước.

Hiện phần lớn nông dân đang sử dụng phương pháp tưới phun mưa (tưới péc) và tưới gốc (tưới dí). Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì đối với phương pháp tưới phun mưa (tưới péc) thì lượng nước tưới để đảm bảo đủ cho cây cà phê nở hoa tốt thì đợt tưới lần tưới đầu tiên ở mức 800 m3 nước/ha. Các lần tưới tiếp theo cần lượng nước ít hơn, khoảng 600 - 650 m3 nước/ha/đợt. Mỗi lần tưới cách nhau từ 20 - 25 ngày tuỳ theo vùng đất.

Đối với phương pháp tưới gốc (tưới dí), để đảm bảo cho cây cà phê nở hoa tốt thì lượng nước đợt tưới đầu tiên cần nhiều nhất, khoảng 500 - 550 lít nước/gốc. Các đợt tưới tiếp theo cần lượng nước ít hơn, khoảng 400 - 450 lít nước/gốc. Mỗi đợt tưới cũng cách nhau chu kỳ từ 20 - 25 ngày tuỳ vào vùng đất.

Thông thường có 2 - 3 đợt tưới trong mùa khô để đảm bảo cho cà phê phát triển tốt. Nhưng trong năm nay có thể bà con phải tưới thêm đợt 4 nếu như mùa khô kéo dài. Bên cạnh nước tưới, việc cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho cà phê cũng cần quan tâm. Khi cung cấp dinh dưỡng cân đối, hợp lý cà phê cây sinh trưởng phát triển tốt, chống chịu với điều kiện khắc nghiệt của mùa khô tạo tiền đề năng suất cho mùa vụ mới.

Nếu như cách đây khoảng 15 năm nông dân trồng cà phê chỉ cần bón 2 - 3 đợt trong mùa mưa, mùa khô không cần bón bởi năng suất thời điểm đó thấp chỉ đạt khoảng 1,5 - 2tấn nhân/ha.

Nhưng hiện nay, với giống mới, kỹ thuật mới nên năng suất cà phê có thể lên đến 5 - 6 tấn nhân/ha. Mặt khác nguồn dinh dưỡng trong đất sau một thời gian canh tác thâm canh cà phê cũng có sự chuyển biến, thành phần dinh dưỡng trong đất cũng sẽ mất cân đối, sẽ xảy ra các trường hợp thừa và thiếu. Một số dinh dưỡng như S sẽ thừa, nhưng một số dinh dưỡng khác như Ca, Mg, Bo, Zn… sẽ thiếu. Vì vậy, việc bổ sung dinh dưỡng trong mùa khô là cần thiết, đặc biệt là các vườn cà phê đã suy kiệt sau khi thu hoạch.

Tuy nhiên việc chọn lựa nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cà phê trong mùa khô cũng rất quan trọng. Nếu như trước đây, sau thời gian dài không bón phân trong mùa khô, sau đó được khuyến cáo bà con lại tập trung bón rất nhiều các loại phân bón (do cà phê có giá) như SA, super lân… Điều này càng làm cho đất canh tác cà phê càng mất cân đối, đất dư thừa lưu huỳnh, trong khi các chất có tính kiềm như Ca, Mg lại thiếu, làm ảnh hưởng đến tính ổn định và bền vững trong canh tác.

Đối với nhu cầu dinh dưỡng của cây cà phê trong mùa khô thì đạm chiếm tỉ lệ lớn giúp cây sinh trưởng, phát triển cành lá, yếu tố lân đóng vai trò để phát triển bộ rễ giúp cây hấp thu nước và dinh dưỡng tốt hơn, yếu tố kali trong trường hợp này góp phần giúp cây chống chịu hạn. Bên cạnh đó cây trồng cần cả các yếu tố trung vi lượng khác như Ca, Mg, Bo, Zn, Cu… để tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng, ra hoa và góp phần tác động hạn chế việc rụng quả vào mùa mưa.

Chính vì thế khi chúng ta sử dụng phân đơn như urea, SA chỉ cung cấp mỗi yếu tố đạm, không có các yếu tố lân và kali cũng như trung vi lượng sẽ làm mất cân đối dẫn đến cây sẽ phát triển không bền vững, giảm sức chống chịu với điều kiện khô hạn, giá lạnh.

Để giúp bà con thuận lợi trong việc cung cấp dinh dưỡng cho cà phê mùa khô thì các nhà SX phân bón đã có sản phẩm bón cho cà phê mùa khô. Trong số đó phải kể đến Cty CP Phân bón Bình Điền với sản phẩm Đầu Trâu cà phê mùa khô - niên vụ 2013-2014.

Điều đáng quan tâm và rất hay ở sản phẩm là Đầu Trâu mùa khô của Bình Điền là sản phẩm luôn được cải tiến qua từng năm, dựa vào tình hình thời tiết, khí hậu mà sản phẩm được bổ sung các chất trung vi lượng hợp lý trên nền NPK 20-5-6, giúp cây vừa tốt trong mùa khô mà con giúp giảm rụng trái non, tạo đà phát triển trong mùa mưa.

Đặc biệt, sản phẩm Đầu Trâu cà phê mùa khô niên vụ 2013-2014 năm nay, bà con được tặng gói Sulpomag.Bo+TE 200 gram (trong bao phân), đây là sản phẩm có thể bổ sung hòa với nước tưới hoặc trộn với phân NPK bón giúp tăng khả năng đậu quả, hay bổ sung cho các vườn cà phê bị yếu, thiếu nhiều trung vi lượng.

KS Nguyễn Văn Duy/ Báo Nông nghiệp Việt Nam