Saturday, August 24, 2013

Khắc phục kết hạt kém và ra trái chìa trên cây ngô

Thời gian qua, nhiều nông dân trồng ngô trên cả nước phản hồi về việc cây ngô sau khi trổ cờ phun râu có hiện tượng kết hạt kém, ra trái chìa ảnh hưởng đến năng suất khiến bà con lo lắng.

Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi đã trao đổi với chuyên gia Nguyễn Lân Hùng, nhằm lý giải và đưa ra những tư vấn về kỹ thuật giúp bà con khắc phục hiện tượng trên.

Nguyên nhân

Theo chuyên gia Nguyễn Lân Hùng, hiện tượng ngô kết hạt kém (còn gọi là bồ cào răng cưa) đi kèm với đó là hiện tượng ra trái chìa giống như nải chuối là tương đối phổ biến tại các vùng trồng ngô trên cả nước, hiện tượng này có thể nặng, nhẹ, nhiều, ít tuỳ thuộc vào từng vụ hay từng vùng khác nhau. Khi xảy ra hiện tượng này, nguyên nhân đầu tiên mà hầu hết người nông dân nghĩ đến là do giống giả hoặc giống kém chất lượng. Tuy nhiên, phân tích dưới góc độ khoa học, chuyên gia nhận định:

Nông dân cần có hiểu biết đầy đủ về nông học và nắm vững kỹ thuật để đảm bảo thu được năng suất ngày càng cao hơn trên đồng ruộng của mình.

+ Nếu là giống giả hoặc giống kém chất lượng, thì biểu hiện của cây ngô trên ruộng ngay từ giai đoạn đầu sẽ có sự khác biệt so với các tính trạng đặc trưng của giống như: Cây to, nhỏ khác nhau; hình thái cây khác nhau và sinh trưởng phát triển yếu, không đồng đều ngay từ giai đoạn đầu…

+ Trong trường hợp nếu cây ngô sinh trưởng phát triển bình thường, đúng theo đặc trưng của giống nhưng sau giai đoạn trổ cờ, phun râu xuất hiện hiện tượng kết hạt kém, bồ cào răng cưa thì có thể khẳng định 100% rằng nguyên nhân không phải do giống giả, giống kém chất lượng, mà vấn đề có thể xuất phát từ một trong các yếu tố sau: Do giai đoạn trổ cờ phun râu của cây ngô nhiệt độ nắng nóng trên 35 độ C hoặc ẩm độ không khí thấp <50% làm chết hạt phấn, giảm khả năng kết hợp giữa hạt phấn và râu ngô; hoặc do mưa kéo dài giai đoạn trổ cờ phun râu làm hạt phấn bị rửa trôi hoặc bết lại không thụ phấn được; hoặc do việc bón phân không cân đối, bón dư đạm vào giai đoạn gần trổ; hoặc điều kiện đất quá chua, quá mặn cũng làm rối loạn sinh lý của cây ngô gây ra hiện tượng kết hạt kém, bồ cao răng cưa.

Đối với nguyên nhân của hiện tượng trái chìa, bắp phụ, chuyên gia nhận định: Nếu do đặc tính giống như một số loại giống ngô hiện nay, thì việc ra trái chìa, bắp phụ hoàn toàn không ảnh hưởng đến bắp chính vì ở giai đoạn vào chắc của hạt, bắp phụ sẽ teo đi, dinh dưỡng chỉ tập trung nuôi bắp chính. Còn trong trường hợp hạt phấn không kết hợp với râu ngô, tức là hiện tượng kết hạt kém xảy ra thì các hoóc môn sinh trưởng vốn dành để nuôi bắp, nuôi hạt thì nay tác động vào các đỉnh sinh trưởng giữa các lá bi hình thành nên các bắp phụ, mức độ nhiều ít khác nhau tùy thuộc vào mức độ kết hạt và điều kiện dinh dưỡng, một số ruộng bị nặng thậm chí bắp ngô trông như nải chuối có nhiều chồi và gần như không có hạt.

Cách giảm thiểu ảnh hưởng của hiện tượng trên

"Bất cứ giống nào gặp các điều kiện bất thuận như trên đều có thể xảy ra hiện tượng kết hạt kém và trái chìa, bắp phụ - chuyên gia Nguyễn Lân Hùng khẳng định. Để giảm thiểu được hiện tượng kết hạt kém, trái chìa bắp phụ, bà con nông dân cần lưu ý tới một số vấn đề sau:

- Lựa chọn giống ngô tốt, phù hợp với điều kiện canh tác, thổ nhưỡng tại địa phương.

- Cây ngô cần được gieo trồng đúng thời vụ để đảm bảo có được những yếu tố thuận tiện nhất về thời tiết. Việc gieo trồng lệch thời vụ hoặc thời vụ không thuận cho việc sinh trưởng, phát triển của cây ngô sẽ làm cho tỷ lệ xảy ra hiện tượng kết hạt kém, trái chìa nhiều hơn.

- Cần bón phân cân đối, bón đủ đạm, lân, kali theo khuyến cáo của nhà sản xuất, không nên bón nhiều đạm vào giai đoạn ngô chuẩn bị trổ cờ phun râu.

- Đối với các chân đất chua (hay pH đất thấp) hoặc đất mặn, cần có các biện pháp kỹ thuật khử chua hoặc thau mặn cho đất trước khi gieo.

- Ngoài ra, cây ngô cũng có thể bị ngộ độc do việc sử dụng thuốc trừ cỏ không hợp lý. 

Như vậy, người nông dân cần trang bị cho mình những hiểu biết đầy đủ về nông học và nắm vững kỹ thuật canh tác để hạn chế các tác động không mong muốn xảy ra trên cây ngô của mình như kết hạt kém, ra trái chìa bắp phụ, đảm bảo thu được năng suất ngày càng cao hơn trên đồng ruộng của mình.

P.V Báo NTNN

Friday, July 26, 2013

Nhìn lá bón phân cho lúa

Trong giai đoạn sinh trưởng lúa bị sâu bệnh tấn công nhiều, gây thiệt hại nặng về kinh tế cho nông dân cũng như môi trường do phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh.

Ảnh minh họa

Trong bón phân cho lúa, khi bón thừa phân đạm sẽ gây nên đổ ngã giai đoạn trổ và hình thành hạt. Khi lúa đổ năng suất giảm lúc thu hoạch và còn gây ra lúa lép nhiều, chất lượng gạo kém, giá bán thấp, lợi nhuận giảm. 

Đặc biệt, trong giai đoạn sinh trưởng lúa bị sâu bệnh tấn công nhiều, gây thiệt hại nặng về kinh tế cho nông dân cũng như môi trường do phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh. Thừa đạm còn gây ô nhiễm môi trường do lượng nitrat chảy vào trong nguồn nước hoặc tồn dư nitrat trên hạt sẽ không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu.

Có thể khắc phục bằng cách áp dụng bảng so màu lá lúa, có các thang màu hướng dẫn nông dân bằng trực quan khi đối chiếu màu lá lúa với các thang màu. Từ đó có thể biết được lúa đang thiếu, đủ hay thừa đạm để áp dụng phân bón thích hợp nhằm tránh thừa đạm. 

Vụ hè thu và thu đông tổng lượng phân bón áp dụng cho phân nguyên chất là từ 60 – 85kg N + 25 – 50kg P2O5 + 30kg K2O. Tương đương với một lượng phân thương phẩm là từ 130 – 180kg urê + 152 – 303kg super lân + 50kg KCl cho 1ha. 

Thời kỳ bón và nhìn lá bón phân: 

Giai đoạn 7 - 10 ngày sau sạ (NSS): Lân bón từ 25 - 35kg P2O5 + 30kg K2O + 20 - 25kg N cho 1ha. Có thể sử dụng tỷ lệ lân cao hơn nếu bón vụ trước ít hơn 30kg P2O5/ha và nếu đất luân phiên ướt và khô thì áp dụng từ 40 - 50kg P2O5/ha.

Giai đoạn 18 - 22 NSS, lúc này là giai đoạn lúa đâm chồi cần sử dụng bảng so màu lá lúa để đối chiếu. Nếu thang màu <3, áp dụng 30kg N/ha. Nếu thang màu giữa 3 và 4, áp dụng 20kg N/ha và nếu thang màu >4, không nên áp dụng phân N.

Giai đoạn 30 - 53 NSS, lúc lúa hình thành gié, sử dụng bảng so màu lá lúa để điều chỉnh lượng N. Nếu thang màu <3, áp dụng 30kg N/ha; Nếu thang màu giữa 3 và 4, áp dụng 20 kg N/ha và nếu thang màu >4, không nên áp dụng phân N.

Nghiên cứu của ngành nông nghiệp cho thấy ruộng lúa vụ hè thu bón mức đạm 100kg N/ha biểu hiện màu xanh thời kỳ lúa đứng cái quá mức bình thường (thừa đạm) so với mức 80kg N/ha lúa có màu hơi vàng chanh và cây mọc khỏe.

Cách sử dụng bảng so màu: Đầu tiên chọn ngẫu nhiên 10 cây hoặc bụi lúa không sâu bệnh trong ruộng với mật độ đồng đều. Sau đó chọn lá cao nhất phát triển đầy đủ từ mỗi cây hoặc bụi. Đặt phần giữa lá này trên thang màu và so màu lá với thang màu. 

Không nên tách ra hoặc làm hư lá lúa rồi so màu lá trong bóng râm của cơ thể để tránh nắng rọi trực tiếp làm đổi màu lá. Nên chỉ so màu với một người với cùng thời gian trong ngày cho mỗi lần so màu lá. Cuối cùng so 10 lá rồi tính giá trị trung bình của thang màu. 

Bảng so màu lá lúa có 4 thang màu với các mức màu từ trái sang: Màu xanh thừa đạm; màu xanh đủ đạm; màu hơi vàng thiếu đạm ít; màu vàng nhiều lúa thiếu đạm.

TS Nguyễn Công Thành/ Báo NTNN

Friday, July 12, 2013

Nhìn đất bón phân cho lúa

Bón phân cho lúa là một kỹ thuật rất quan trọng giúp hạ giá thành sản xuất, tăng năng suất và phẩm chất lúa cũng như hạn chế sự đổ ngã, sâu bệnh cho lúa. Vì vậy, nông dân cần biết kỹ thuật bón phân cho từng mùa vụ cũng như từng vùng sinh thái khác nhau.

Ảnh minh hoạ

Thường vụ lúa hè thu và thu đông ở ĐBSCL thường có khuyến cáo mức bón phân tương đương nhau. Mức khuyến cáo chung trung bình cho 2 vụ này là 80+40+30 (N-P2O5-K2O; kg phân nguyên chất/ha). Quy ra lượng phân thương phẩm là 174kg urea + 243kg super lân + 50kg KCl. Tuy nhiên, do đặc điểm ở ĐBSCL có 3 nhóm đất chính gồm: Đất nhiễm phèn có diện tích 1,6 triệu ha (chiếm 41%); đất phù sa 1,18 triệu ha (chiếm 30%); và đất mặn 0,74 triệu ha (chiếm 19%).

Vì vậy, cần có sự điều chỉnh theo các mức khuyến cáo khác nhau cho từng vùng sinh thái này. Cụ thể như sau: Bón phân cho lúa thu đông trên vùng đất phèn: Vùng này có các tỉnh như Long An, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang. Mức khuyến cáo N-P2O5-K2O (kg/ha) cho 1ha là: Mức cao: 80-80-50, mức trung bình 60-40-25 và mức thấp 40-40-25. Mức trung bình phân nguyên chất này tương đương với phân thương phẩm là 131kg urea + 243kg super lân + 42kg KCl.

Bón phân cho vùng đất phù sa: Vùng này thuộc các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang và TP. Cần Thơ. Công thức phân bón khuyến cáo mức cao là 80-60-50, mức trung bình là 60-30-25 và mức thấp 40-30-25. Với mức trung bình phân nguyên chất này thì tương đương phân thương phẩm là 182kg urea + 42kg super lân + 42kg KCl.

Ở các vùng đất bị nhiễm mặn như Hậu Giang, Trà Vinh, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Bến Tre, Tiền Giang và một phần Long An, thường bị ngập mặn trên 3 tháng trong mùa khô. Mức phân bón khuyến cáo cao là 100-60-50; mức trung bình 80-30-30 và mức thấp 60-30-30. Mức trung bình nguyên chất này tương đương phân thương phẩm là 174kg urea + 182kg super lân + 50kg KCl.

Cách bón và liều lượng phân bón: Áp dụng cho khoảng 3 đợt bón. Đối với lúa có thời gian sinh trưởng dưới 90 ngày: Đợt 1 khoảng 7 - 10 NSS (ngày sau sạ); đợt 2 khoảng 18 - 22 NSS; đợt 3 từ 30 - 35 NSS. Đối với lúa dài ngày hơn từ 95 - 100 ngày thì đợt 1 từ 7 - 10 NSS, đợt 2 từ 22 - 25 NSS, đợt 3 là 40 NSS. Chia đều lượng phân làm 3 lần bón, đợt đầu bón 1/5 lượng phân, hai đợt kia mỗi đợt bón 2/5 lượng phân. Tùy cụ thể vào tình hình thời tiết, sinh trưởng và màu sắc lá lúa có thể bón thêm một lần nuôi hạt vào giai đoạn 55 - 60 NSS.

TS Nguyễn Công Thành (theo báo NTNN)

Monday, June 3, 2013

Kỹ thuật nuôi cá còm trong ao đất

Cá còm hay còn gọi là cá nàng hai, đây là loài cá nước ngọt có nhiều ở đồng bằng Nam Bộ. Mùa sinh sản của cá còm trong tự nhiên từ tháng 5 – 7, cá giống có từ tháng 8 và kéo dài đến cuối năm. Người dân thường tận dụng diện tích mặt nước kênh rạch cạnh nhà khi mùa nước nổi tràn đồng để nuôi cá còm trong lồng bè và ao hầm. Tuy nhiên, để nuôi cá đạt năng suất cao, người nuôi cần tuân thủ theo đúng quy trình kỹ thuật.

Cá còm (theo: aquagenria3.com)


1. Chuẩn bị ao nuôi

Diện tích ao nuôi từ 200m2 trở lên, độ sâu mức nước từ. Vị trí ao nên gần nguồn nước để việc cấp thoát nước dễ dàng.

Cải tạo ao: khâu cải tạo ao được tiến hành theo các bước sau:

- Tát cạn ao, nạo vét bùn đáy, chỉ để lại lớp bùn dày không quá 30cm

- Dùng dây thuốc cá diệt cá tạp, cá dữ, lượng dùng 0,5 - 1kg rễ dây thuốc cá cho 100m3 nước.

- Dùng vôi bột với liều lượng 8-10kg/100m2 rải đều xuống đáy ao, mái bờ để diệt các loài cá tạp còn sót và diệt mầm bệnh. Vùng nhiễm phèn thì bón lượng vôi cao hơn khoảng 50%. Sau khi rải vôi xong phải bừa đáy ao để trộn đều vôi với lớp bùn mặt ao.

- Bón phân chuồng mục để tạo thức ăn tự nhiên ban đầu cho cá, với liều lượng 10 - 20kg/100m2 ao nuôi. Hoặc bón phân urê 0,5kg/100m2, lân 0,3kg/100m2 hoặc phân hỗn hợp N-P-K 2kg/100m2.

- Phơi đáy ao 2 - 3 ngày. Đối với ao ở vùng nhiễm phèn thì không nên phơi đáy.

- Cấp nước vào ao đến mực nước 0,5 - 0,6m thì thả cá giống. Sau đó tiếp tục cấp nước vào ao đến 1 - 1,2 m. Việc cấp nước phải được lọc qua túi lọc để loại bỏ rác bẩn và cá tạp hay địch hại.

2. Thả cá giống và mật độ thả nuôi

- Chọn cá giống khỏe mạnh, bơi lội nhanh nhẹn, không xây xát. Trước khi thả xuống ao, tắm nước muối 2 - 3% cho cá trong 10-15 phút.

- Mật độ thả: trung bình 5-10 con/m2, cỡ cá thả từ 6 - 8cm. Phải thả cá giống lúc trời mát.

- Có thể thả ghép trong ao nuôi cá còm một vài loài khác như cá mè trắng, tai tượng, cá mùi hoặc sặc rằn với tỷ lệ không quá 50% tổng số cá nuôi trong ao và cũng không thả những loài cá tranh giành thức ăn với cá còm như rô phi, cá tra.

3. Thức ăn

Mỗi ngày cho cá ăn 2 - 3 lần theo các công thức sau:

- Hai tuần đầu: 100 gam thức ăn cho 1.000 cá; trong đó 50 gam cám và 50 gam bột cá nấu chín được trộn đều.

- Từ 3 tuần trở đi cho 50% thức ăn chế biến (cám + bột cá) và 50% thức ăn tươi sống (cá tạp, tôm, tép…). Chú ý, thức ăn phải tươi, không bị ươn thối, băm nhỏ và rửa sạch trước khi cho ăn; nguyên liệu của thức ăn chế biến không bị mốc, còn thời hạn sử dụng.

Ngoài ra, người nuôi tập cho cá ăn thức ăn công nghiệp loại nhỏ, vừa kích cỡ miệng cá, hàm lượng đạm 25-30%, khi cho ăn tỷ lệ phối hợp thức ăn viên công nghiệp khoảng 30%.

Kiểm tra thức ăn sau khi cá ăn để kịp thời điều chỉnh. Phải rửa sạch sàng trước khi cho cá ăn.

4. Quản lý ao nuôi

Hàng ngày chú ý kiểm tra bờ ao, kịp thời phát hiện và tu sửa bờ, lưới chắn, lấp hang hốc, đề phòng nước mưa tràn bờ.

Hàng tuần thay nước cho ao, mỗi lần thay 30-50% lượng nước.

Khi nước ao có màu xanh quá đậm, nâu đen hoặc có mùi hôi, phải tiến hành thay nước ao.

5. Phòng trị bệnh cho cá

Cá còm thường bị nhiễm bệnh trong trường hợp nuôi mật độ quá dày, nước ao bị ô nhiễm hoặc do các tác nhân cơ học và cá bị xây xát.

Trong nuôi cá còm thường gặp bệnh nhiễm khuẩn hoặc nhiễm ký sinh trùng một số bệnh: bệnh nhiễm trùng huyết do các loài vi khuẩn Pseudomonas, Aeromonas, Edwardlsiella. Các bệnh ký sinh trùng: bệnh trùng bánh xe (Tricho dina), trùng quả dưa (Ichthiophthyrius), các loài giáp xác ký sinh như trùng mỏ neo (Lernea) và rận cá (Argulus), sán lá đơn chủ 16 móc (Dactylogyrus), sán lá 18 móc (Gyrodactylus) hoặc nhiễm giun tròn (Philometra).

Để phòng bệnh cho cá, phải cho cá ăn đầy đủ, thức ăn đảm bảo vệ sinh, giữ môi trường nước ao nuôi sạch, đủ ôxy.

Khi cá bị bệnh, phải thay nước cho ao, đồng thời tắm cho cá bằng thuốc tím (KMnO4) nồng độ 3 - 5% trong 20 - 25 phút.

6. Thu hoạch

Cá có tốc độ lớn khá nhanh, sau thời gian nuôi từ 10 - 12 tháng có thể đạt cỡ 700 - 800 gam. Có thể thu hoạch đồng loạt khi được giá hoặc tỉa cá lớn và thả nuôi lại những cá nhỏ chưa đạt kích cỡ.

TTKNQG

Friday, May 24, 2013

Kỹ thuật trồng bắp trên đất lúa ở ĐBSCL

Ở Việt Nam, bắp là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là cây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác.

Cây bắp không chỉ cung cấp lương thực cho người, vật nuôi mà còn là cây trồng xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh có điều kiện kinh tế khó khăn. SX bắp cả nước qua các năm không ngừng tăng về diện tích, năng suất, sản lượng: Năm 2001 tổng diện tích bắp là 730.000 ha, đến năm 2005 đã tăng trên 1 triệu ha; năm 2012, diện tích bắp cả nước 1.121.000 ha, năng suất 43,1 tạ/ha, sản lượng trên 4,8 triệu tấn.

Tuy vậy, cho đến nay SX bắp ở nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, hàng năm vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài trên 1,2 triệu tấn bắp hạt. Bắp là cây thực phẩm có giá trị rất lớn về nhiều mặt, nhất là về giá trị dinh dưỡng.

Protein: Bắp có trung bình 10,6% protein, protein chính của bắp là zein.

Lipit: Lipit trong hạt bắp toàn phần từ 4 - 5%, phần lớn tập trung ở mầm. Trong chất béo của bắp có 50% là axit linoleic, 31% là axit oleic, 13% là axit panmitic và 3% là stearic.

Gluxit: Gluxit trong bắp khoảng 69% chủ yếu là tinh bột. Ở hạt bắp non có thêm một số đường đơn và đường kép.

Chất khoáng: Bắp nghèo canxi, giàu photpho.

Vitamin: Vitamin của bắp tập trung ở lớp ngoài hạt bắp và ở mầm. Bắp cũng có nhiều vitamin B1. Riêng bắp vàng có chứa nhiều caroten (tiền vitamin A), màu hạt bắp càng cam đỏ thì hàm lượng Caroten càng cao.

Trước nhu cầu sử dụng bắp làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi gia tăng nên Bộ NN-PTNT khuyến khích nông dân và tìm giải pháp phát triển luân canh cây bắp trên đất lúa ở ĐBSCL. Hiện nay diện tích trồng bắp ở các tỉnh ĐBSCL tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, tổng diện tích trồng năm 2012 hơn 15.000 ha. 

Ở ĐBSCL bắp được trồng các vụ trong năm, trong đó vụ ĐX và XH là vụ chính. Phần lớn diện tích trồng lúa ở các huyện Tam Nông, Lấp Vò, Lai Vung (Đồng Tháp), Chợ Mới, An Phú ( An Giang), được thay thế bằng cây bắp lai trong vụ XH. Nhiều nông dân ở An Giang, Đồng Tháp còn có mô hình luân canh lúa ĐX, bắp lai XH, lúa HT, hoặc bắp HT. Tập quán trồng bắp lai của nông dân ở ĐBSCL đã có từ lâu đời, nhưng trước đây chỉ giới hạn ở chân đất rẫy.

Các giống bắp của Dekalb luôn cho năng suất cao

Một vài năm gần đây do hiệu quả kinh tế của việc trồng lúa vụ XH không cao nên nhiều hộ gia đình đã thay thế vụ này bằng một vụ bắp lai. Kỹ thuật trồng bắp lai trên đất rẫy cũng khác hẳn cách trồng trên đất trồng lúa. Trong điều kiện thường xảy ra thiếu nước vào mùa nắng và dịch bệnh trên lúa phát triển nhiều (rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá) thì việc chuyển đổi từ trồng lúa sang các loại cây màu là hoàn toàn hợp lý.

Cty TNHH Dekalb Việt Nam thuộc Tập đoàn Monsanto Hoa Kỳ đã tiên phong phối hợp với Sở NNPTNT, Chi cục BVTV, Trung tâm Khuyến nông, Trạm Khuyến nông và Phòng NN-PTNT các tỉnh ĐBSCL cùng hàng trăm hộ nông dân kiên trì thực hiện nhiều mô hình trồng bắp lai trên chân đất lúa, chuyển giao TBKT cho bà con nên kết quả đem lại thật mỹ mãn, vượt qua sự mong đợi của các nhà quản lý địa phương và bà con nông dân nơi tham gia mô hình chuyển đổi.

Kỹ thuật canh tác

Chuẩn bị đồng ruộng: Sau khi thu hoạch lúa tiến hành dọn sạch cỏ bờ bao và cắt gốc rạ theo hàng. Cứ 1,2 m đào một rãnh sâu 30 cm, rộng 30 cm để giúp cho việc tưới tràn và thoát nước khi mưa nhiều. Bơm nước lên ruộng cho ngập một ngày đủ để đất mềm rồi rút hết nước đi.

Gieo hạt: Sau khi rút hết nước không cần xới đất, chỉ cần dùng gậy để chọc lỗ, mỗi hốc gieo 1 hạt (gieo thêm 10% bên ngoài để trồng dặm), khoảng cách hàng là 50 cm, cây cách cây là 18 - 20 cm, lượng giống dùng từ 30 - 35 kg/ha. Sau khi gieo hạt, dùng tro trấu lắp hạt lại làm cho hạt nảy mầm nhú lên khỏ mặt đất rất nhanh.

Giống: Là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của việc chuyển đổi mô hình. Hiện bộ giống bắp lai trên thị trường rất đa dạng, song hiệu quả kinh tế đem lại cao nhất cho mô hình chính là ở bộ giống bắp lai Dekalb. Ưu điểm của bộ giống bắp lai Dekalb là TGST ngắn, từ trồng đến thu hoạch chỉ 95 - 100 ngày.

Bộ lá gọn, phiến lá gọn và tán lá mọc thẳng đứng cộng với bộ rễ chân kiềng vững chắc và cây sạch bệnh giúp cho việc trồng dày, gia tăng số cây trên đơn vị diện tích được dễ dàng, chống được đổ ngã vào cuối vụ.

Ngoài ra, tỷ lệ tách hạt cao, màu hạt cam đỏ, độ ẩm hạt thấp và chất lượng hạt tốt trong và sau thu hoạch đã giúp cho các thương lái mạnh tay mua vào, thu hoạch đến đâu, thương lái thu mua đến đó. Bộ giống bắp lai của Cty Dekalb là DK9901, DK9955, DK6919, DK8868 và mới nhất là giống DK6818 đều phụ hợp vùng này, năng suất bình quân đạt trên từ 12 - 14 tấn/ha.

Đối với khu vực nằm trong đê bao, do không phải chịu áp lực thu hoạch sớm để tránh lũ nên cả bộ giống trên đều rất phù hợp. Riêng đối với khu vực nằm ngoài đê bao hoặc vùng ảnh hưởng của nước lũ, nên chọn giống ngắn ngày là DK6919 và DK6818 (TGST 90 - 95 ngày) là hợp lý.

Tưới nước: Việc lắp hạt bằng tro trấu đã đủ giữ được độ ẩm cho bắp nảy mầm. Ở giai đoạn đầu bắp còn nhỏ thì cần phải tưới bằng thùng hoặc tưới máy có gắn bông sen. Sau khi bắp được 15 -20 ngày tuổi là có thể tưới tràn. Khi tưới tràn người dân thường lợi dụng con nước lớn cho nước vào ngập cả đám ruộng, mực nước trên ruộng từ 2-3 cm. Sau khi cho nước ngập 1-2 giờ là phải rút hết nước ngay, cần phải khơi các rãnh thoát nước để nước rút hết ngay trong ngày. Để nước đọng sẽ làm cây kém sinh trưởng hoặc sẽ chết. Chú ý đến giai đoạn gần thu hoạch thường có mưa nhiều cũng phải thường xuyên đi khơi nước, tránh để nước tồn đọng trong ruộng sẽ làm chất lượng hạt.

Làm cỏ: Sau khi gieo giống và lắp tro trấu xong, dùng thuốc trừ cỏ tiền nẩy mầm như Maizine 80WP để phun diệt cỏ suốt vụ. Liều lượng sử dụng là 2,5-3,0 kg/ha, pha với 400 lít nước.

Hiệu quả kinh tế của vụ lúa XH, HT, TĐ đều cao hơn nhiều so với trồng lúa, nhiều bà con tham gia mô hình chuyển đổi ở An Giang, Đồng Tháp đều đạt năng suất từ 1,4 - 1,6 tấn/công lớn (1.300 m2), tương đương 10,8 - 12,3 tấn/ha. Với giá bắp lai thương phẩm bán được 4.500 đ/kg sẽ cho thu nhập từ 50 - 55 triệu đồng/ha.

Sau khi trừ chi phí mỗi héc ta bắp lãi trên 25 - 30 triệu đồng, lợi nhuận gấp 3 lần so với trồng lúa. Khác với tình trạng đầu ra của các loại nông sản khác, đầu ra của bắp lai thương phẩm rất ổn định. Hiện bắp thương phẩm ở ĐBSCL bán rất dễ, thương lái không ép giá và tổ chức thu mua tận nơi.

Bón phân: Công thức phân bón cho bắp thích hợp là 160-180:90:60-90 kg NPK/ha (tương đương 300 - 400 kg urea, 500 kg super lân, 100 - 150 kg KCl). Phân lân được bón lót toàn bộ. Đạm được bón làm 3 lần: lần 1 lúc 7 - 10 ngày sau gieo 30%, lần 2 lúc 15 - 20 ngày sau gieo 50 % và lần cuối 20% lúc 40 - 45 ngày sau gieo. Phân KCl được bón hai lần: lần một cùng với lần bón đạm thứ 2, bón 50%; lần hai bón trước khi cây trổ cờ 50% phần còn lại.

Phòng trừ sâu bệnh: Sâu đục thân, đục bắp là loại sâu làm ảnh hưởng lớn đến năng suất và phẩm chất hạt bắp thương phẩm. Phòng trừ các loại sâu này bằng cách dùng các loại thuốc được dùng như Basudin 50 ND, Furadan 10H, regent rải vào nõn lá 2 lần trong giai đoạn 30 và 45 ngày. Các bệnh chính trên bắp như gỉ sắt, khô vằn, thối gốc... phòng trị bằng thuốc Validacin, Anvil, Zineb 75 WP, Rovral, Foraxyl 35WP… ở giai đoạn sau gieo từ 20, 30, 40 ngày.

Thu hoạch khi trái trên ruộng đã chín hoàn toàn, ẩm độ hạt 28 - 32% (vỏ bi từ vàng chuyển sang khô). Ủ trái thành từng đống lớn 2 - 3 ngày, dùng máy đánh tách hạt. Phơi hoặc sấy đến khi ẩm độ hạt còn 14 - 15%.

Đỗ Quang Trường/ Báo NNVN

Saturday, March 30, 2013

Kỹ thuật nuôi tôm hùm lồng

A/ Mở đầu:

Tôm hùm là tên gọi chung của một nhóm các loài giáp xác có kích thước lớn thuộc họ Palinuridae. Hiện nay, tôm hùm là một loại hải đặc sản đã và đang được chú trọng trong nuôi trồng Thủy sản, thịt của chúng thơm ngon, giàu đạm, được nhiều người ưa thích là đối tượng có giá trị xuất khẩu cao.

Ảnh minh họa

Ở Việt Nam, tôm hùm phân bố từ Quảng Bình đến Bình Thuận đặc biệt phân bố nhiều ở các tỉnh như: Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận.

Trong giống tôm hùm thì loài tôm hùm bông (hùm sao) có tên khoa học là Panulirus ornatus có kích thước tương đối lớn, tốc độ tăng trưởng nhanh và có thể nuôi được mật độ cao, đã và đang được nuôi nhiều ở các tỉnh miền Trung mà đặc biệt là Khánh Hòa mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Theo thống kê năm 2001 tỉnh Phú Yên có 11.000 lồng tập trung chủ yếu tại các xã Xuân Phương, Xuân Thịnh, Xuân Cảnh, Xuân Thọ và Thị trấn Sông Cầu huyện Sông Cầu, tỉnh Khánh Hòa có khoảng 8000 lồng tập trung chủ yếu ở huyện Vạn Ninh và Cam Ranh. Ở tỉnh ta tính đến cuối năm 2002508 lồng nuôi tôm hùm lồng tập trung chủ yếu tại Vĩnh Hy và Bình Tiên. Nghề nuôi tôm hùm thương phẩm phát triển đã góp phần tạo công ăn việc làm và tạo thu nhập đáng kể cho một bộ phân dân cư ven biển. Tuy nhiên hiện nay nghề nuôi tôm hùm của cả nước nói chung và của tỉnh ta nói riêng đang gặp phải một số khó khăn đó là tình hình dịch bệnh và con giống ngày càng khan hiếm.

Ðể góp phần giúp người nuôi tôm hùm có được những kiến thức về kỹ thuật nuôi, phương pháp phòng trị bệnh chúng tôi tiến hành biên soạn tài liệu: " Kỹ thuật nuôi và phương pháp phòng trị bệnh tôm hùm ".

Vì khả năng có hạn, tài liệu chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, chúng tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các bà con nuôi tôm cùng bạn đọc.

B/ Một số đặc điểm sinh học của tôm hùm bông:

Tôm hùm có nhiều loài, ở vùng biển Ấn Ðộ - Tây Thái Bình Dương có tất cả 11 loài, trong đó vùng biển từ Phú Yên đến Bình Thuận có 7 loài : Tôm hùm bông (hùm sao), tôm hùm đá (hùm xanh), tôm hùm đỏ, tôm hùm ma, tôm hùm vằn, tôm hùm mốc và tôm hùm sỏi. Ở Việt Nam có 3 loài chiếm sản lượng đáng kể là: Tôm hùm bông, tôm hùm đá (hùm xanh) và tôm hùm đỏ, trong đó tôm hùm bông là loài có kích thước và số lượng tương đối lớn. Hệ thống phân loại của tôm hùm bông như sau:

Ngành: Arthropoda

Lớp: Crustacea

Bộ: Decapoda

Họ: Palinuridae

Giống: Panulirus

Loài: P. ornatus (Tôm hùm bông, hùm sao).

2/ Ðặc điểm phân bố.

Trên thế giới tôm hùm phân bố chủ yếu ở các vùng biển Nhiệt đới đến Á nhiệt đới như: Úc, Ðài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia...

Ở Việt Nam, tôm hùm phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận, đặc biệt phân bố nhiều ở các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận.

Phân bố theo độ sâu: Tùy vào giai đoạn phát triển và tùy vào từng loài mà chúng phân bố theo độ sâu khác nhau. Ở giai đoạn trưởng thành tôm hùm bông thường phân bố ở độ sâu từ 20m trở lên, ở giai đoạn ấu trùng và con non chúng thường phân bố ở các bãi rạn, đá san hô ở độ sâu từ 2 - 10m nước.

Tôm hùm thường sống ở các bãi rạng đá, rạng san hô nơi có nhiều hang hốc, khe rãnh ven biển. Chúng có tập tính sống quần tụ chủ yếu là ở tầng đáy với chất đáy sạch, không bùn. Ban ngày trú ẩn trong các hang đá ít hoạt động, ban đêm hoạt động tích cực tìm mồi.

Tôm hùm sống thích hợp ở các vùng biển có độ mặn từ 30 - 36%o, nhiệt độ từ 25 - 320C.

3/ Ðặc điểm dinh dưỡng.

Tôm hùm là loại động vật ăn tạp, trong tự nhiên chúng ăn chủ yếu là các loại động vật như: Cá, tôm, cua ghẹ, cầu gai, giáp xác nhỏ, nhuyễn thể...ngoài ra còn ăn các loại thực vật như rong rêu., chúng thường có tập tính bắt mồi tích cực vào ban đêm và tờ mờ sáng. Tuỳ vào giai đoạn phát triển mà nhu cầu dinh dưỡng khác nhau, tôm càng nhỏ thì nhu cầu dinh dưỡng càng cao, ở giai đoạn trước lột xác 2-4 ngày tôm ăn rất mạnh, giai đoạn lột xác tôm sẽ ăn chậm lại. 

4/ Ðặc điểm sinh trưởng.

Tôm hùm cũng như nhiều giáp xác khác sinh trưởng thông qua quá trình lột xác. Ở giai đoạn tôm còn nhỏ chu kỳ lột xác ngắn, tôm càng lớn chu kì lột xác càng dài, sau mỗi lần lột xác thì kích thước và khối lượng của tôm tăng lên rất nhiều. Nhìn chung thì tôm hùm có chu kỳ lột xác dài hơn so với các loài giáp xác khác, do vậy tốc độ tăng tưởng của chúng tương đối chậm.

5/ Ðặc điểm sinh sản.

Tôm hùm P. ornatus sinh sản rải rác quanh năm, nhưng mùa vụ sinh sản chính từ tháng 8 đến tháng 9 hàng năm.

Sức sinh sản của tôm hùm tương đối lớn và chúng có thể đẻ nhiều lần trong một năm(thường là 2 lần/năm). Tôm hùm có kích thước vỏ đầu ngực từ 90 -99 mm đã bắt đầu tham gia sinh sản. Tôm hùm khi đẻ trứng được giữ ở các chân bơi sau một thời gian trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng này trải qua một loạt các quá trình biến thái để trở thành tôm hùm con có hình dạng giống tôm trưởng thành. Từ lúc trứng nở đến giai đoạn "tôm trắng" kéo dài khoảng 10 -12 tháng.

C/ Kỹ thuật nuôi tôm hùm lồng:

1/ Chọn địa điểm đặt lồng nuôi.

Chọn địa điểm đặt lồng nuôi tôm hùm là khâu đầu tiên không kém phần quan trọng. Ðịa điểm chọn đặt lồng nuôi phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Nơi có độ mặn cao, tương đối ổn định nằm trong khoảng từ 30 - 36%o, ít bị ảnh bỡi lũ, lụt, những vùng biển có nhiệt độ từ 24 -320C tốt nhất là từ 26-300C.

- Có nguồn nước trong sạch, ít bị ảnh hưởng bởi chất thải công nghiệp, nông nghiệp và đô thị.

- Là nơi kín gió, có độ sâu phù hợp cho việc xây dựng và quản lí lồng nuôi, mức nước tối thiểu khi triều xuống thấp nhất phải đạt 2m, chất đáy là cát; cát bùn; hoặc chất đáy cát, cát bùn có lẫn đá san hô nhỏ, vỏ động vật thân mềm.

- Gần nguồn giống, thức ăn và thuận tiện đường giao thông.

2/ Thiết kế xây dựng lồng nuôi.

Tùy vào điều kiện từng vùng biển mà có thể thiết kế các kiểu lồng nuôi khác nhau. Hiện nay có 2 kiểu lồng nuôi phổ biến: kiểu lồng hở và kiểu lồng kín.

a/ Kiểu lồng hở:

Là loại lồng được cố định bỡi các cọc gỗ găm xuống đất.

* Nguyên vật liệu và cách xây dựng 

- Kích thước lồng nuôi phù hợp là: 4 x 4(m); 3 x 4(m)4 x 5(m), chiều cao cọc làm lồng phụ thuộc vào độ sâu tại nơi đặt lồng, tốt nhất nên đặt tại nơi có độ sâu 2 - 5m (lúc thủy triều thấp nhất).

- Nguyên vật liệu và cách làm.

+ Cọc gỗ: có thể dùng gỗ tròn f =15-20 cm hoặc gỗ xẻ (gỗ 5 x 10 cm), chiều dài cọc gỗ phụ thuộc vào độ sâu nơi đặt lồng ( cọc gỗ phải có chiều dài cao hơn độ sâu cao nhất khi triều cường tại nơi đặt lồng khoảng 0,5m). Cọc được vót nhọn một đầu và được cắm chặt xuống đất, khoảng cách giữa 2 cọc từ 1,5 - 2m

+ Nẹp ngang thường dùng gỗ tròn có f = 12 -15 cm hoặc dùng gỗ xẻ (gỗ 4 x 6 cm), nẹp cách nẹp 1,5 - 2m

+ Sắt làm khung lồng: dùng sắt tròn (sắt rằn) có f = 18 -20 mm được làm thành các khung hình chữ nhật, khoảng cách giữa 2 thanh sắt từ 1 -1,2 m, chiều cao (rộng) của khung sắt làm thân lồng cao từ 1 -2m, lưới lồng được bệnh trực tiếp vào các khung sắt sau đó lắp ghép lại và được cố định bỡi khung cọc gỗ. 

+ Lưới lồng: Hiện nay, phổ biến là làm lồng theo kiểu lồng 1 lớp hoặc 2 lớp lưới lồng ghép sát vào nhau. Vật liệu bằng lưới nhợ hoặc bằng lưới PE, kích thước mắt lưới 2a = 25 -35mm (tùy theo cỡ giống thả nuôi), đối với tấm lưới đáy còn làm thêm một lớp lưới ruồi nhằm đảm bảo thức ăn không bị lọt ra ngoài khi cho ăn. Ngoài ra để đảm bảo an toàn ta cần gia cố thêm một lớp lưới cước (cước 150 -180), kích thước mắt lưới 2a = 35 - 40mm tại những phần có làm khung sắt. Những lồng sử dụng để ương tôm hùm giống thì kích thước mắt lưới nhỏ hơn sao cho đảm bảo tôm không chui ra được ( 2a < 5mm). 

+ Mặt trên của lồng phải có nắp đậy bằng lưới tránh thất thoát tôm do bắt trộm hay do triều khi triều cao ngập lồng nuôi. Trong những ngày nắng nóng, lồng nuôi xây dựng ở những vùng nước nông phải tiến hành che mát cho tôm trên mặt lồng bằng các vật liệu như lá dừa, cót,. hoặc dùng nắp lồng bằng lưới ruồi để tránh tôm hoạt động quá nhiều hay tôm bị đóng rong. 

b/ Kiểu lồng kín: (lồng di động).

Loại lồng này thích hợp ở những vùng nhiều sóng gió, độ sâu cao.

- Kích thước lồng kín thường nhỏ hơn lồng hở để thuận tiện cho việc di chuyển.

- Kích thước lồng phù hợp theo: dài x rộng x cao tương ứng là: 3 x2x2 (m) hoặc 3 x3 x2 (m), được thiết kế giống như một hình hộp chữ nhật được tạo bỡi các khung sắt hình chữ nhật, trên phần nắp lồng được đặt một cái ống nhựa f = 10 -15 cm để thuận tiện trong việc cho ăn.

Vật liệu sắt, cách làm khung, vật liệu lưới và cách bệnh lưới vào khung sắt tương tự như lồng hở.

Loại lồng này không cố định bằng cọc, có thể di chuyển một cách dễ dàng từ nơi này đến nơi khác.

Trong trường hợp tại nơi nhiều sóng gió loại lồng này phải được cố định bằng các dây neo. 

   * Dù là kiểu lồng kín hay lồng hở ta đều phải đặt lồng cách đáy ít nhất là 0,5m.

   * Nhược điểm của loại lồng này là khó thao tác chăm sóc quản lí hơn kiểu lồng hở. 

c/ Lồng ương tôm giống

Lồng ương tôm giống chủ yếu thiết kế theo kiểu lồng kín, khung lồng được làm bằng sắt (f =16 -20), kích thước lồng phổ biến là 2x2x2 m, lưới lồng được làm 2 lớp, với kích thươc mắt lưới 2a = 2-3 mm

d/ Bè nuôi

Hiện nay, do hiện tượng ô nhiễm môi trường ngày càng tăng nên việc việc nuôi tôm hùm lồng bằng bè trở nên ưu thế hơn lồng cố định hay lồng chìm, tuy nhiên việc nuôi tôm hùm bằng bè cần lưu ý một số điểm sau:

- Vùng đặt bè phải kín gió, vật liệu làm bè như phao, gỗ, dây neo phải chắt chắn tránh bè bị chao đảo nhiều.

- Cần phải che mát lồng bằng các vật liệu: Bạt, cót...

3/ Thả tôm.

a/ Chọn giống thả nuôi.

Hiện nay, trong nước cũng như trên thế giới chưa sản xuất được giống tôm hùm, nguồn giống phụ thuộc hoàn toàn vào đánh bắt tự nhiên. Kích cỡ giống thường không đồng đều, con giống được đánh bắt bằng nhiều phương tiện khác nhau kể cả việc sử dụng các loại thuốc gây mê, thuốc nổ,... thời gian lưu giữ dài ngày và kỹ thuật lưu giữ không tốt nên khi nuôi thường dẫn đến một hậu quả là tôm thường chết nhiều vào giai đoạn đầu thả nuôi, tỷ lệ sống thấp và tôm chậm lớn,.... 

Ðể chọn được giống tốt ta cần chú ý một số vấn đề sau:

- Giống nuôi tốt nhất nên mua tại địa phương nhằm tránh sự khác biệt về điều kiện môi trường, thời gian vận chuyển xa làm yếu tôm và tránh con giống đã được lưu giữ dài ngày (một số điểm để nhận biết tôm giống đã lưu giữ dài ngày là: chạt đuôi bị phòng, bị tổn thương; các phụ bộ bị tổn thương đã chuyển sang màu đen, màu sắc của tôm trở nên đen sậm, vỏ không còn bóng láng và tôm hoạt động yếu ớt, chậm chạp.) 

- Giống được đánh bắt một cách tự nhiên không qua việc sử dụng thuốc nổ hay bất kỳ một loại hóa chất gây mê nào khác.( loại tôm này thường còn nguyên vẹn các phụ bộ nhưng màu sắc của tôm thường chuyển sang màu hồng nhợt nhạt, phần đầu ngực và phần thân dãn ra hơn bình thường trông giống như tôm bị bệnh lỏng đầu do nhiệt độ nước cao hay độ mặm hạ thấp, tôm hoạt động chậm chạp yếu ớt; việc đánh bắt tôm tại các vùng biển có độ mặn thấp do ảnh hưởng của mưa lũ gây ra cũng có hiện tượng tương tự). Khi mua phải loại tôm này tôm nuôi sẽ chết từ rải rác đến hàng loạt vào giai đoạn đầu thả nuôi. 

- Tôm giống phải có hình dáng cân đối, đầy đủ các phần phụ, không trầy sướt, thương tổn, có màu sắt tươi sáng tự nhiên, tôm khoẻ mạnh, không mang mầm bệnh. 

- Chọn giống có kích cỡ đồng đều, cùng giới tính để nuôi trong cùng một lồng, kích cỡ giống nuôi có thể dao động từ 100 -500g/con. Trong trường hợp sử dụng nguồn con giống có kích cỡ nhỏ như dạng tôm bò cạp ta phải tiến hành giai đoạn ương nuôi sau đó tuyển chọn lại và đưa và nuôi thương phẩm.

b/ Cách vận chuyển tôm giống đến nơi thả nuôi.

Tôm hùm có phương thức hô hấp tương tự như các loài cua, ghẹ chúng có khả năng sử dụng được nguồn oxy trong không khí và có khả năng chịu được ngưỡng oxy thấp. 

2 phương pháp vận chuyển giống là vận chuyển nước có sục khí và phương pháp vận chuyển khô: 

+ Phương pháp vận chuyển nước: Là phương pháp vận chuyển sử dụng nước có sục khí để cung cấp oxy, nhiệt độ nước trong quá trình vận chuyển là 22 - 250C bằng cách cho đá lạnh vào các bọc nhựa sau đó bỏ vào dụng cụ chứa, mật độ vận chuyển phụ thuộc vào kích cỡ tôm và thời gian vận chuyển. Phương pháp này thường áp dụng khi thời gian vận chuyển >2 giờ

+ Phương pháp vận chuyển khô: Cách tiến hành của phương pháp này là ta tiến hành sốc nhiệt ở nhiệt độ 20 - 220C sau đó buộc tôm vào trong các khăn lông đã nhúng nước và sắp theo từng lớp vào thùng xốp đã chuẩn bị sẵn sao cho các lớp tôm không chồng lên nhau, chú ý giữa các lớp tôm ta rải thêm đá lạnh cũng bằng cách bỏ vào trong các túi nhựa sao cho vừa đủ bảm bảo giữ nhiệt độ ổn định từ 22 - 250C, phương pháp này áp dụng cho thời gian vận chuyển < 2 giờ

c/ Thả tôm

Khi tôm vận chuyển đến lồng nuôi ta tiến hành nâng dần nhiệt độ lên cho đến khi gần bằng với nhiệt độ môi trường nuôi bằng cách cho dần dần nước từ môi trường nuôi vào dụng cụ chứa tôm sau đó thả tôm vào các giai đã đặt sẵn trong lồng sau 30 - 60 phút cho tôm hồi phục sức khỏe hoàn toàn ta mới thả tôm ra.

Trong quá trình thả tôm ta phải thả tôm đực riêng, cái riêng và thả theo từng nhóm kích cỡ không nên thả chung.

d/ Mật độ nuôi

Tôm hùm chủ yếu sống ở tầng đáy, nên mật độ nuôi được tính theo diện tích đáy lồng. Tùy vào kích cỡ tôm, mức độ đầu tư, điều kiện môi trường mà ta có thể nuôi với mật độ cao hay thấp. Ðối với tôm giống có kích cỡ từ 100g/con trở lên ta có thể thả nuôi với mật độ từ 8 -10 con/m2

4/ Thời vụ thả nuôi.

Trong tự nhiên tôm hùm được khai thác quanh năm nhưng tập trung lượng giống nhiều vào các tháng 8 -12 hàng năm nên vào thời gian nay chúng ta nên tập thả giống nuôi.

5/ Chăm sóc và quản lí.

Chăm sóc quản lí là khâu đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của suốt quá trình nuôi.

- Thức ăn và cách cho ăn: Tôm hùm là loại tạp ăn, thức ăn chủ yếu là cá tạp, cua, ghẹ, cầu gai, .và các loại nhuyễn thể. Cho ăn chủ yếu là cho ăn tươi, tuỳ vào kích cở tôm, cở mồi mà ta có thể băm nhỏ thức ăn hay không. Có thể cho tôm hùm ăn 2 lần/ngày nhưng phải đặc biệt chú ý cho ăn nhiều vào các buổi sáng sớm và chiều tối. Lượng cho ăn hằng ngày từ 15-20% trong lượng đàn tôm. Trong những ngày trước lúc lột xác 4 - 5 ngày tôm ăn rất mạnh và đang trong thời kì lột xác nhiều tôm giảm ăn chính vì vậy ta cần chú ý vào các thời điểm này mà điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Quá trình lột xác của tôm phụ thuộc vào chu kì con nước, thường thì tôm sẽ lột xác nhiều vào cuối kì con nước lớn. 

- Quản lí: Thường xuyên lặn kiểm tra lồng, kiểm tra tình trạng tôm, kiểm tra lượng thức ăn thừa hay thiếu để từ đó có hướng giải quyết kịp thời. Ðịnh kỳ 10 -15 ngày vệ sinh lồng nuôi một lần đảm bảo môi trường sạch sẽ thông thoáng. 

6/ Một số bệnh thường gặp và cách phòng trị.

a/ Bệnh đóng rong.

* Nguyên nhân do các nguyên nhân sau:

- Ðộ trong của nước cao làm khả năng xuyên sâu ánh sáng lớn.

- Tôm ít hoạt động, kém ăn chậm lớn, chu kỳ lột xác chậm.

* Phòng bệnh:

- Che mát làm giảm độ trong của nước mà đặc biệt chú ý là vào mùa nắng nóng.

- Tăng sức đề kháng cho tôm bằng cách sử dụng thức ăn đủ về chất lẫn về lượng.

- Vệ sinh lồng nuôi sạch sẽ, tạo môi trường thông thoáng, mật độ nuôi vừa phải.

*Trị bệnh:

- Bắt những con tôm bệnh tắm bằng formol với nồng độ 100 - 200ppm (1 -2 ml formol/10 lít nước), trong thời gian từ 5 - 10 phút

b/ Bệnh đen mang, mòn đuôi, hoại tử các phần phụ.

* Tác nhân gây bệnh chủ yếu là do vi khuẩn mà nguyên nhân chủ yếu là do lồng nuôi bị dơ bẩn, môi trường nước bị ô nhiễm, tôm kém ăn sức khỏe yếu.

* Phòng bệnh: Thường xuyên vệ sinh lồng nuôi sạch sẽ, tạo môi trường thông thoáng, tăng cường sức khỏe cho tôm bằng cách cho tôm ăn thức ăn đầy đủ cả về chất lẫn về lượng, ngoài ra còn có thể bổ sung thêm Vitamin C vào thành phần thức ăn của tôm với liều lượng từ 5 -10g/kg thức ăn.

* Trị bệnh:

- Có thể tắm tôm bằng formol với nồng độ 100 -200 ppm hoặc tắm tôm bằng sunfat đồng (CuSO4) với nồng độ 1- 2 ppm (0,01 -0,02g CuSO4/10 lít nước) trong thời gian từ 5- 10 phút.

- Sử dụng các loại thuốc kháng sinh: N - 300, Daitrim,.. trộn vào thức ăn với liều lượng từ 3 -5 g/1kg thức ăn cho ăn liên tục từ 5 -7 ngày

c/ Bệnh lỏng đầu.

* Nguyên nhân:

- Chủ yếu là do độ mặn tại khu vực nuôi giảm thấp dưới 25%o và kéo dài nhiều ngày.

- Ngoài ra vào mùa nắng nóng , nhiệt độ nước quá cao > 310C tôm nuôi cũng dễ xảy ra hiện tượng này.

* Phòng và trị bệnh:

- Ðặt lồng nuôi tại vị trí có độ mặn cao và tương đối ổn định. Di chuyển lồng nuôi đến vị trí có độ mặn cao hơn.

- Che mát cho tôm vào mùa nắng nóng, di chuyển đến vị trí có độ sâu cao. 

7/ Thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm.

Sau thời gian nuôi từ 12 -15 tháng tùy vào cỡ giống, mật độ nuôi và mức độ đầu tư tôm có thể đạt khối lượng từ 1,2 kg/con trở lên ta tiến hành thu tỉa những con có khối lượng lớn, cứng vỏ, không mang trứng vận chuyển đến nơi tiêu thụ. Phương pháp vận chuyển đến nơi tiêu thụ tương tự như cách vận chuyển tôm giống đến nơi thả nuôi.

Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Ninh Thuận