Friday, April 10, 2015

Phòng trừ bệnh khô vằn trên lúa

Nếu không phòng trừ, ngăn chặn kịp thời nấm khô vằn sẽ tấn công lên ngọn lúa, làm giảm năng suất.

Ảnh minh họa

Thời tiết ấm nóng từ đầu vụ đến nay đã khiến nhiều diện tích lúa phát triển thuận lợi. Do nông dân có thói quen để mật độ lúa xuân dày hơn lúa mùa vì sợ rét nên hiện nay lúa đứng cái đã và đang um tùm rậm rạp. Đây là nguyên nhân chủ yếu khiến nhiều giống lúa bị nấm khô vằn gây hại. Nhiều diện tích lúa tốt quá đã bị nhiễm nấm bệnh ở mức cấp 3- 5. Mặt khác, thời tiết trong những ngày tới sẽ có mưa rào rải rác do ảnh hưởng của không khí lạnh, nếu không phòng trừ, ngăn chặn kịp thời nấm khô vằn sẽ tấn công lên ngọn lúa, làm giảm năng suất. Trước tình hình trên, xin đưa ra một số lưu ý và hướng dẫn nông dân cách phòng trừ hiệu quả như sau:

+ Triệu chứng nhận biết

Vết bệnh xuất hiện ban đầu ở những bẹ lá gần gốc, có hình bầu dục màu trắng xám. Khi nấm tấn công lên lá thì vết bệnh không có hình dạng nhất định mà loang lổ như hình vằn da hổ. Nấm già phát triển thành hạch và rơi xuống đất. 

+ Cách phòng trừ hiệu quả  

- Bón phân đạm thúc đòng: Nông dân cần chú ý căn cứ vào màu sắc lá lúa mà cân đối đạm và kali sao cho hợp lý (dùng bảng so màu hoặc theo kinh nghiệm nhiều năm). Không nên bón thừa đạm cho lúa sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy (sâu bệnh hại mạnh). Tuy nhiên, nếu ruộng đang bị nhiễm bệnh khô vằn thì nhất thiết trong lúc này không nên bón đạm cho lúa vì sẽ làm bệnh trầm trọng thêm. Chỉ nên bón đạm cho lúa nếu lúa "đói đạm” khi bệnh đã trị khỏi.

Chú ý: Không để nước quá cao trong ruộng sẽ làm độ ẩm trong ruộng cao, nấm khô vằn sẽ phát triển và gây hại mạnh. Tốt nhất, trên những diện tích lúa chưa làm đòng (lúa đứng cái), cần khẩn trương tháo kiệt nước trong ruộng nhằm hạn chế sự lây lan của bệnh, đồng thời cây lúa được cứng chắc hơn. Chỉ giữ một mực nước nhỏ khoảng 2 cm nếu lúa đang làm đòng.  

- Phun thuốc và bón kali cho lúa: Nấm khô vằn có khả năng kháng thuốc cao. Vì vậy, để phun trừ nấm bằng thuốc hóa học đạt hiệu quả, nông dân cần lựa chọn một trong các loại thuốc đặc trị như: Anvil, Kalihex, Atuvil, Carbenrim, Nativo, Tiltsupe, Monceren... 

Chú ý: Sử dụng thuốc hóa học để phun trừ bệnh chỉ mang lại hiệu quả cao khi vết bệnh chưa lan lên lá (nấm mới gây hại ở bẹ lá) và thuốc được tiếp xúc với tầng lá dưới của cây. Vì vậy, cần tiến hành phun trừ sớm khi cây mới chớm bị bệnh. Không nên chờ đến lứa sâu tới rồi phun một thể. Khi phun cần rẽ lối và đưa vòi phun vào gốc lúa mới đạt hiệu quả cao.  
Bón kali cho lúa lúc này rất thích hợp, một mặt làm cho quá trình hình thành và phát triển mầm đòng được thuận lợi. Mặt khác, phân kali có khả năng kìm hãm nấm khô vằn phát triển. Tốt nhất khi phun thuốc, nông dân nên cộng thêm 0,5 lạng kali trắng (K2SO4)/bình 16l để phun cùng sẽ làm cho việc phun trừ nấm được hiệu quả hơn. Vì phân kali trắng là kali dễ tiêu, có thể hấp thu trực tiếp vào trong mô tế bào thân, lá cây lúa, ngăn cản nấm khô vằn nhanh hơn và làm cho thân lá lúa cứng cáp hơn.

Chú ý: Khi phun thuốc phòng trừ nấm khô vằn hại lúa nông dân cần phun cả lên bờ cỏ xung quanh ruộng để tiêu hủy triệt để nguồn bệnh vì cỏ là một trong những ký chủ phụ của nấm khô vằn.  

KS. Trần Thị Liên (Trạm Khuyến nông Nam Sách)/ Báo Hải Dương

Ao nuôi tôm sú quảng canh thì nuôi ghép cá gì thích hợp

Ao nuôi tôm sú quảng canh thì nuôi ghép cá gì thích hợp? Tống Văn Đông (huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang)

Thu hoạch tôm sú - Ảnh minh họa

Trả lời:

Dựa trên đặc tính hệ sinh thái của tôm thì có thể nuôi ghép với cá rô phi. Cá rô phi có thể thích ứng ở những độ mặn khác nhau. Cá rô phi sống ở tầng nước mặt trong khi tôm sú có tập tính sống thiên về tầng đáy. Trong hệ thống nuôi quảng canh, cá rô phi có thể lọc thức ăn gồm tảo, động vật phù du và các chất hữu cơ lơ lửng (bao gồm cả những quần thể vi khuẩn sống trên đó). Ngược lại, tôm sống và kiếm ăn ở tầng đáy, thức ăn của tôm là những vật chất hữu cơ được lắng xuống và phân cá rô phi. Quá trình ăn lọc tảo và môi trường sống của cá rô phi tác dụng ức chế sự phát triển các loài vi khuẩn, ổn định môi trường ao nuôi, tạo nguồn nước sạch cho tôm phát triển. Điều quan trọng là cá rô phi có thể ăn thức ăn thừa, chất thải từ tôm làm giảm sự tích tụ chất thải trong ao nuôi.

Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Bệnh đục cơ và bệnh hoại tử cơ trên tôm thẻ chân trắng

Bệnh đục cơ và bệnh hoại tử cơ trên tôm thẻ chân trắng khác nhau thế nào? Phạm Văn Nam (huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định)

Tôm bị bệnh hoại tử cơ - Ảnh minh họa

Trả lời:

Bệnh đục cơ và hoại tử cơ có những biểu hiện, nguyên nhân khác nhau, cần phân biệt rõ để có cách phòng và trị bệnh phù hợp. Bệnh đục cơ trên tôm thẻ chân trắng thường xuất hiện khi tôm được 10 ngày tuổi đến khi trưởng thành. Biểu hiện phần mô cơ dọc cơ thể có màu trắng đục kèm theo hiện tượng cong thân. Nguyên nhân có thể là do sốc môi trường hoặc thiếu một số khoáng chất thiết yếu. Để phòng trị bệnh này, người nuôi cần quản lý tốt môi trường ao nuôi, bổ sung một số chất khoáng vào thức ăn hoặc tạt trực tiếp xuống môi trường ao nuôi. Khác với bệnh đục cơ, bệnh hoại tử cơ do virus gây nên thường xảy ra sau giai đoạn tôm được 45 ngày tuổi. Ban đầu, khi mới bị bệnh, phần cơ đuôi trở nên trắng đục, sau đó lan dần khắp cơ thể. Khi bệnh nặng, xuất hiện hoại tử và đỏ ở phần cơ. Trong quá trình nuôi nên tiến hành các biện pháp phòng bệnh tổng hợp, thường xuyên bổ sung một số vitamin để tăng cường sức đề kháng tự nhiên cho tôm nuôi. Định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học xử lý và ổn định môi trường ao nuôi, ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh.

Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Quản lý thức ăn thời gian đầu nuôi tôm

Quản lý tôm nuôi trong giai đoạn mới thả là rất quan trọng, giúp tôm phát triển tốt hơn, tăng cường sức đề kháng tự nhiên, hạn chế tỷ lệ hao hụt giống.

Thức ăn tự nhiên

Thức ăn tự nhiên đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi, nhất là trong giai đoạn tôm còn nhỏ. Thức ăn tự nhiên có kích thước nhỏ, chứa nhiều axit amin tự do hoặc oligopeptid dễ tiêu, cung cấp đầy đủ những chất dinh dưỡng cần thiết giúp tôm tăng trưởng, phát triển tốt. Ngoài ra, thức ăn tự nhiên có chứa hệ thống enzyme tăng cường sự hấp thu và nâng cao sức đề kháng cho tôm nuôi. Một trong những thức ăn tự nhiên phổ biến, ưa thích và có giá trị làm thức ăn cho tôm khi mới thả là copepods. Protein của copepods cần thiết cho sự tăng trưởng mạnh của tôm nuôi khi còn nhỏ. Ngoài giá trị dinh dưỡng, thức ăn tự nhiên còn góp phần làm cho môi trường nuôi được ổn định, cân bằng hệ sinh thái, giảm sự phát triển của tảo đáy. Hệ thức ăn tự nhiên trong ao phát triển phụ thuộc việc gây màu nước trước khi thả tôm giống và duy trì màu nước trong quá trình nuôi.

Hiện nay có rất nhiều phương pháp gây nuôi và duy trì màu nước cho ao nuôi tôm. Trong đó, sử dụng phân trùn quế hoặc bột ngũ cốc lên men để gây màu nước là những phương pháp gây màu nước tốt, gia tăng nhanh chóng lượng thức ăn tự nhiên, nhất là copepods. Còn nếu sử dụng phân vô cơ để gây màu nước thì cần chú ý tỷ lệ đạm, lân > 3 : 1 để các loại tảo silic, tảo lục phát triển. Tỷ lệ đạm, lân xấp xỉ 1 : 1 thì các loại tảo độc dễ sinh sôi. Nước có màu xanh nõn chuối, xanh vàng, màu trà hoặc màu đậu xanh là phù hợp. Khi nước đạt độ trong 30 - 40 cm thì có thể tiến hành thả giống. Trong giai đoạn đầu vụ nuôi, định kỳ 7 - 10 ngày bón phân trùn quế, bột ngũ cốc lên men, phân vô cơ... một lần để ổn định màu nước, duy trì lượng thức ăn tự nhiên cho tôm.

Kiểm tra sàng để điều chỉnh lượng thức ăn cho tôm nuôi - Ảnh: Trần Út 

Sử dụng thức ăn công nghiệp

Thức ăn công nghiệp sử dụng cho tôm trong giai đoạn đầu có kích thước rất nhỏ, hàm lượng đạm cao, dễ bị hòa tan trong nước, vì vậy tôm chỉ sử dụng được một lượng rất nhỏ. Sử dụng thức ăn công nghiệp trong thời gian đầu chủ yếu có tác dụng gây màu nước. Tùy vào lượng thức ăn tự nhiên và màu nước mà điều chỉnh lượng thức ăn công nghiệp cho tôm ăn trong thời gian đầu. Sử dụng thức ăn công nghiệp cho tôm ăn với nguyên tắc lượng ít, lần nhiều, trong thời gian đầu cho tôm ăn 5 cữ/ngày vào lúc 6 giờ, 10 giờ, 16 giờ, 20 giờ, 23 giờ. Tôm có tập tính ăn nơi nước sạch; vì vậy khi cho tôm ăn cần chọn nơi được làm sạch bằng máy quạt nước, tránh cho tôm ăn ở chỗ dơ bẩn, nơi tích tụ bùn đáy hoặc trong góc ao.

Ngày thứ 10 sau khi thả giống, cho thức ăn vào sàng ăn để tôm làm quen, dễ cho việc kiểm tra thức ăn dư sau này. Sàng ăn được đặt nơi bằng phẳng cách bờ 1,5 - 2m, sau cánh quạt nước 12 - 15 m, không đặt ở góc ao, cứ 1.500 - 2.000 m2 bố trí một sàng ăn. Thức ăn cho vào sàng 1 - 2% lượng thức ăn mỗi lần.

Sau 15 ngày có thể bổ sung vitamin, khoáng chất, sản phẩm men tiêu hóa để tăng cường sức khỏe cho tôm. Thức ăn công nghiệp và một số chất bổ trợ được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu để cho tôm ăn phải đảm bảo có hàm lượng đạm tổng số 32 - 45%, thức ăn và chất bổ sung thức ăn phải trong danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam, có nhãn hàng hóa theo đúng quy định của pháp luật. Bảo quản thức ăn theo đúng khuyến cáo của nhà sản xuất. Không dùng thức ăn, chất bổ trợ đã hết hạn sử dụng.

Điều chỉnh lượng thức ăn

Lượng thức ăn theo hướng dẫn của nhà sản xuất thường lớn hơn nhiều so với thực tế, do được thiết kế trong điều kiện nuôi lý tưởng. Cho tôm ăn thừa giai đoạn đầu có thể thúc đẩy tôm tăng trưởng nhanh trong thời gian đầu, do chất lượng nước còn tốt. Tuy nhiên, khi chất thải được tích lũy nhiều, ao nuôi bị ô nhiễm, dễ gây bệnh cho tôm trong thời gian nuôi tiếp theo.

Lượng thức ăn công nghiệp sử dụng trong tháng nuôi đầu tiên phụ thuộc nhiều vào mật độ nuôi và lượng thức ăn tự nhiên. Trong quá trình nuôi cần linh hoạt điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Nếu nước nhạt màu, độ trong lớn, có thể bổ sung thêm lượng thức ăn công nghiệp kết hợp với việc sử dụng phân bón, chế phẩm sinh học để cải thiện màu nước, gia tăng lượng thức ăn tự nhiên. Tại những ao nuôi với mật độ < 60 con/m2, nếu gây màu nước tốt thì trong tuần đầu tiên không cần bổ sung thức ăn công nghiệp.

Trong điều kiện nuôi công nghiệp với mật độ cao, lượng thức ăn tự nhiên không đủ cung cấp cho tôm thì thức ăn công nghiệp bổ sung cho tôm là cần thiết. Tôm sú có tập tính tìm thức ăn tự nhiên nhiều, hoạt động chậm, trong thời gian 1 - 3 ngày tuổi chỉ cho ăn với lượng 1,2 - 1,5 kg/100.000 giống; trong thời gian 4 - 10 ngày tuổi, mỗi ngày tăng thêm 200 g/100.000 giống; ngày 11 - 20, mỗi ngày tăng 250 g/100.000 giống; từ ngày thứ 21 trở đi mỗi ngày tăng thêm 300 g/100.000 giống kết hợp với kiểm tra sàng ăn. Tôm thẻ chân trắng là loài hoạt động nhiều trên tầng mặt và tầng giữa, tiêu hóa lượng thức ăn lớn hơn, ngày đầu tiên sử dụng 2 kg/100.000 giống. Trong 20 ngày đầu tiên, mỗi ngày tăng 200 g/100.000 giống. Từ ngày 21, mỗi ngày tăng 500 g/100.000 giống, kết hợp với sàng ăn để điều chỉnh lượng thức ăn. Trong thời gian này, kiểm tra lượng thức ăn thừa sau 3 giờ khi cho tôm ăn. Trong suốt thời gian đó nếu thức ăn vừa hết là lượng thức ăn vừa đủ để cung cấp cho tôm nuôi. Việc sử dụng sàng ăn rất quan trọng để kiểm tra lượng thức ăn, phản ánh khả năng sử dụng thức ăn, tình trạng sức khỏe tôm nuôi, điều kiện đáy ao nuôi. 

Trong tháng nuôi đầu tiên, người nuôi thường rất khó đánh giá được tỷ lệ sống của tôm và không đánh giá được sức ăn của tôm, do chúng còn quá nhỏ. Để điều chỉnh lượng thức ăn hợp lý trong thời gian đầu, người nuôi cần phải dựa mật độ thức ăn tự nhiên, màu nước và mật độ tôm nuôi.

Nguyễn Nhung/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Thursday, April 9, 2015

Cách tiêm vắc xin Navet- Vifluvac Subtype H5N1

Được biết, trên từng loại gia cầm vắc xin Navet- Vifluvac Subtype H5N1- vô hoạt nhũ dầu phòng chống cúm gia cầm có cách tiêm khác nhau mới cho hiệu quả cao. 


Vậy nhờ Bạn Nhà nông hướng dẫn cụ thể thời gian, cách tiêm trên một số loại như gà, vịt, ngan,…Lê Văn Sơn (Vũng Liêm)

Anh Sơn thân mến, đối với vắc xin Navet- Vifluvac Subtype H5N1 có thể tiêm bắp hoặc tiêm dưới da cổ (1/3 phần dưới, sau cổ).

Liều dùng: Gà con từ mẹ chưa tiêm vắc xin cúm được tiêm lúc 14- 21 ngày tuổi, liều 0,5 ml/con; gà con từ mẹ có tiêm vắc xin cúm được tiêm lúc 21- 28 ngày tuổi, liều 0,5 ml/con; gà giống, gà đẻ: liều 0,5 ml/con, cứ 6 tháng tiêm vắc xin nhắc lại một lần. Đối với vịt, ngan từ 14- 35 ngày tuổi: liều dùng 0,5 ml/con. Tiêm nhắc lại 14- 21 ngày sau mũi tiêm đầu tiêm; vịt, ngan trên 35 ngày tuổi: liều 1 ml/con, cứ 6 tháng tiêm vắc xin nhắc lại một lần.

Cơ quan thú y khuyến cáo, tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm chỉ có kết quả trên cơ sở tổ chức thực hiện đồng bộ như: vệ sinh, tiêu độc, khử trùng…

Không dùng vắc xin cho gà, vịt, ngan bị bệnh cúm gia cầm hay ốm yếu, vắc xin bị vỡ hoặc có hiện tượng tách lớp. Bảo quản vắc xin ở nhiệt độ từ 2- 80C, không để vắc xin vào ngăn đông, tránh ánh sáng mặt trời.

Chúc anh thành công! 

Nguồn: Báo Vĩnh Long

Phòng trừ một số bệnh vi khuẩn hại lúa

Các bệnh vi khuẩn gây hại lúa thường rất khó trừ hoặc có trừ nhưng hiệu quả rất thấp. Bệnh thường có tính chất lây lan nhanh chóng, nhất là sau nhũng đợt mưa giông. 

Ruộng lúa bị nhiễm bệnh vàng lá do vi khuẩn

Chúng tôi xin giới thiệu kinh nghiệm dùng nước vôi để phòng trừ một số bệnh vi khuẩn gây hại chủ yếu trên các trà lúa, phương pháp này đã được kiểm chứng trên thực tiễn đồng ruộng và mang lại hiệu quả. 

Bệnh vàng lá vi khuẩn 

Khi lúa bước vào giai đoạn đẻ nhánh, các ruộng trũng có nước ngập thường xuyên, ruộng có điều kiện thâm canh cao, bón phân không cân đối… thường bị bệnh vàng lá vi khuẩn gây hại nặng. 

Triệu chứng: Biểu hiện đầu tiên là ruộng lúa bị vàng từng chòm, nhất là ở những nơi trũng hoặc dọc theo mương dẫn nước. Sau đó bệnh lây lan rất nhanh khi gặp mưa và gió lớn hoặc sau những ngày bón thúc phân đạm. Bệnh bắt đầu từ chóp lá sau lan dần xuống mép lá và phiến lá. 

Vết bệnh có mầu vàng xỉn và các vệt mầu nâu nhạt chạy dọc theo gân lá. Khi bị nhiễm bệnh nặng, toàn ruộng lúa bị nhiễm vàng và lụi theo từng chòm. 

Biện pháp phòng trừ: 

- Trên những chân ruộng chủ động nước, khi lúa bị bệnh cần tháo cạn nước ra khỏi ruộng chỉ cần giữ cho đất ruộng đủ ẩm, sau 5 - 7 ngày lại tháo nước vào ruộng. 

- Dùng nước vôi loãng phun lên lá lúa. Nếu bệnh nhẹ chỉ cần phun một lần, bệnh nặng phải phun ít nhất 2 - 3 lần cách nhau 4 - 5 ngày. Khi gặp trời mưa nhiều phải phun cách nhau 3 ngày một lần. Nếu trời nắng ráo phun cách nhau 6 - 7 ngày một lần. 

Sử dụng các loại vôi tôi ngâm trong nước qua một đêm, sau khuấy lên, để lắng và lọc lấy nước trong để phun. Lượng vôi dùng từ 0,8 - 1,0 kg vôi đã tôi/bình 8 lít nước. Có thể pha nước vôi đặc rồi mang ra ruộng pha thêm nước cho đạt liều lượng để phun. 

Bệnh lép vàng vi khuẩn 

Triệu chứng: Bệnh thường xảy ra khi lúa trỗ bông, lúa đang ngậm sữa đến vào chắc. Bệnh lép vàng thường gây hại chủ yếu trên hạt, ngoài ra còn gây hại trên lá lúa. 

Các hạt bị hại nặng thường lép và cong xuống. Nếu tách hạt lúa bị bệnh lép vàng sẽ thấy hạt gạo bị thối đen và có mùi tanh. Bệnh thường xảy ra dọc theo bờ ruộng. 

Bệnh lép vàng lây lan rất nhanh, nhất là sau các đợt mưa có kèm theo gió lốc, khi bị bệnh nặng làm giảm năng suất lúa từ 10 - 20% 

Biện pháp phòng trừ: Khi phát hiện bệnh trên đồng ruộng cần dùng ngay nước vôi để phun, nên phun cách nhau 3 - 4 ngày (liều lượng và cách pha nước vôi như ở phần trên). 

Những chân ruộng đã có bệnh lép vàng của những năm trước cần phun nước vôi loãng trước khi lúa trỗ nhằm bảo vệ bông và hạt lúa. 

Bệnh cháy bìa lá lúa (bệnh bạc lá) 

Triệu chứng: Bệnh thường gây hại nặng trên các giống lúa lai và các giống lúa có chất lượng cao, bón phân không cân đối nhất là bón thừa đạm. 

Bệnh có thể xuất hiện từ giai đoạn mạ nhưng bệnh phát triển mạnh khi lúa bước vào giai đoạn đẻ nhánh đến trỗ chín. Tuy nhiên bệnh gây hại nặng và chủ yếu khi lúa bước vào giai đoạn đứng cái - làm đòng. 

Bệnh tạo lên những vết cháy màu xám hoặc vàng nâu, nâu đỏ chạy dọc theo hai bên mép lá, vết bệnh lan dần xuống dưới và gân chính của lá. Bệnh lây lan rất nhanh nhất là sau các đợt mưa giông, bệnh gây thiệt hại lớn đến năng suất và chất lượng lúa gạo. 

Biện pháp phòng trừ: Khi dùng các loại thuốc hóa học để phun trừ bệnh bạc lá thường mang lại hiệu quả thấp. Do đó phải thường xuyên theo dõi diễn biến của bệnh trên đồng ruộng để có biện pháp đối phó kịp thời và hiệu quả. 

Khi phát hiện bệnh cần dừng ngay bón thúc đạm (bón đón đòng), có thể phun nước vôi loãng 2 - 3 lần tuỳ thuộc mức độ của bệnh trên đồng ruộng với liều lượng và cách pha chế như trên. 

Biện pháp này làm chậm quá trình phát triển của bệnh, hạn chế ảnh hưởng tới năng suất lúa. Nếu gieo cấy các giống lúa nhiễm bệnh cần dùng nước vôi phun phòng khi lúa bước vào giai đoạn đứng cái.

Phạm Văn Phú/ nongnghiep.vn

Wednesday, April 8, 2015

Cải tạo ao nuôi cá vược

Xã Diễn Vạn, huyện Diễn Châu (Nghệ An) có tổng diện tích nuôi thủy sản vùng mặn lợ là 37 ha, trong đó 9 ha nuôi cá vược. Hiện tại người dân đang chuẩn bị ao để bước vào vụ nuôi mới.  

Cải tạo ao trước khi nuôi

Đây là khâu quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế. Cá vược là loài ăn tạp nên lượng thức ăn thải ra rất nhiều, sau mỗi vụ nuôi do lượng thức ăn dư thừa, chất thải của cá bị tích tụ ở đáy ao sẽ tạo thành một lớp mùn bã hữu cơ, là tác nhân gây bệnh và sản sinh ra một số khí độc làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của cá. 

Mục đích chính của chuẩn bị ao là tạo ra một nền đáy sạch, để dễ dàng điều khiển các yếu tố môi trường trong suốt vụ nuôi, cá ít bị dịch bệnh, đạt năng suất cao. Chuẩn bị ao gồm các bước sau: 

1. Cải tạo đáy 

Đối với vùng đất không bị nhiễm phèn, tháo cạn nước, tiến hành nạo vét lớp bùn đen tích tụ ở đáy ao. 

Đối với ao bị nhiễm phèn, tiến hành cải tạ ướt, sục bùn lên bằng cách cho trâu bừa hoặc dùng trang cao, dùng máy bơm áp lực mạnh để rửa trôi chất thải ra khỏi ao. 

2. Bón vôi 

Sau khi đưa lớp bùn đen ra ngoài thì tiến hành bón vôi ở đáy và xung quanh bờ ao để diệt khuẩn, lượng vôi bón 1 - 2 tấn/ha. Vôi có nhiều loại, khi cải tạo thì nên dùng vôi bột CaO vì loại vôi này có tác dụng diệt khuẩn cao, còn trong quá trình nuôi nên dùng vôi Dolomite có khả năng làm tăng hệ đệm của nước, tránh gây sốc cho cá. 

Sau khi bón vôi xung quanh bờ ao và đáy ao, phơi đáy ao nứt chân chim từ 10 - 15 ngày để diệt khuẩn. 

Lưu ý: 

Đối với ao bị nhiễm phèn không phơi đáy ao để tránh hiện tượng xì phèn. 

Kiểm tra bờ ao, gia cố bờ tránh hiện tượng bị rò rỉ, cống cấp, cống thoát trước khi thả cá giống. 

3. Lấy nước và diệt tạp 

Lấy nước qua lưới mịn với mực nước 1 - 1,2 m, độ mặn thích hợp cho cá phát triển 10 - 20‰

Diệt tạp bằng Saponin với lượng 10 - 15 kg/1.000 m3, với mục đích diệt các loại địch hại như cá tạp, cua, còng… đảm bảo cá nuôi đạt tỷ lệ sống cao. Sau khi lấy đủ mực nước trong ao, gây màu nước sau 3 - 5 ngày để ổn định môi trường nước thì tiến hành thả cá giống.

Cao Thị Hà/ nongnghiep.vn