Thursday, July 17, 2014

Hạn chế dịch bệnh thủy sản

Cần theo dõi, ngừng ngay việc cho ăn khi thấy cá có hiện tượng nổi đầu, song phải bổ sung vitamin C và các khoáng chất để tăng sức đề kháng cho cá. 


Từ đầu năm đến nay nắng nóng kéo dài đã làm giảm năng suất thủy sản gây thiệt hại lớn cho người nuôi. Hiện tượng thiếu oxy trong nước làm cho cá bị sốc, giảm sức đề kháng của cá khiến dịch bệnh phát triển nhanh.

Một số vùng NTTS dùng nhiều loại thức ăn không bảo đảm, cá không sử dụng hết đã gây ô nhiễm môi trường nước. Các hộ kết hợp mô hình chăn nuôi VAC đã tận dụng nguồn phụ phẩm làm thức ăn cho cá như phân vịt, bò, gà khiến cho nguồn nước càng ô nhiễm, bởi đây là những loại thức ăn tiêu chậm, không bảo đảm.

Đặc biệt, ý thức phòng chống dịch bệnh của người dân cũng như quản lý, chăm sóc thủy sản còn nhiều hạn chế, thậm chí các hộ nuôi còn không có thói quen trong công tác phòng bệnh định kỳ hoặc có chăm sóc nhưng thực hiện không đúng theo quy trình kỹ thuật nên khi cá bị bệnh thì lúng túng xử lý.

Ngoài ra, do ao nuôi cá vẫn nằm chung với khu dân cư, nước thải sinh hoạt của các hộ dân ở xung quanh đều thải trực tiếp ra ao khiến môi trường nước ô nhiễm nặng. Mặc dù, sau mỗi vụ thu hoạch cá, người nuôi đều tổng vệ sinh, rắc vôi bột và phơi khô ao nhưng đến vụ nuôi mới, nguồn nước vẫn bị ô nhiễm khiến năng suất cá giảm 10 - 20% so với các năm trước.

Các hộ phải thường xuyên kiểm tra cá, nhất là vào ban đêm, khi thời tiết thay đổi. Nếu phát hiện cá nổi đầu, cần sử dụng các trang thiết bị như quạt nước, sục khí, bơm nước để tăng cường oxy hòa tan, đảo nước để hạn chế cá chết. Sử dụng các loại chế phẩm tăng cường oxy cho cá như Yuca SOS, Pond oxy... Vớt bỏ các loại thức ăn thừa, đặc biệt là cỏ, rơm; không dùng phân gia súc, gia cầm đổ xuống ao.

Cần theo dõi, ngừng ngay việc cho ăn khi thấy cá có hiện tượng nổi đầu, song phải bổ sung vitamin C và các khoáng chất để tăng sức đề kháng cho cá. Sử dụng các loại chế phẩm sinh học như EMC, Biofloc, Biowater để phân hủy mùn bã hữu cơ tăng cường oxy, loại bỏ khí độc như H2S, NH3, ổn định độ PH cho ao. Thay nước ao để nhằm giảm ô nhiễm môi trường.

TH/ nongnghiep.vn

Wednesday, July 16, 2014

Xử lý bệnh vàng lá nghẹt rễ lúa

Để chủ động phòng trừ tốt bệnh vàng lá nghẹt rễ, bà con cần chú ý một số nội dụng sau:

Nên dùng mạ khay để cấy giúp cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt

Theo dự báo của các nhà chuyên môn, thời tiết vụ mùa 2014 diễn biến hết sức phức tạp, nắng nóng kết hợp với những đợt mưa kéo dài là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh và gây hại, nhất là bệnh vàng lúa nghẹt rễ sinh lý trên cây lúa.

Để chủ động phòng trừ tốt bệnh vàng lá nghẹt rễ, bà con cần chú ý một số nội dụng sau:

1. Triệu chứng

Khi bệnh mới phát sinh thì lá lúa vàng, đỉnh lá đỏ khô. Bệnh nặng thì nhiều lá phía trên bị vàng sau đó cây lúa ngừng sinh trưởng, đẻ nhánh ít. Bộ rễ bị thối đen hoặc rễ mới không phát sinh, tốc độ sinh trưởng chậm.

Bệnh phát triển trên các ruộng trũng hẩu, thậm chí cả các ruộng cạn nước. Tuy nhiên không có khả năng lây lan, đây là bệnh sinh lý.

2. Nguyên nhân

Do không bón hoặc bón ít phân hữu cơ (phân chuồng), bón phân không cần đối (bón nhiều đạm, không bón kali hoặc bón ít kali) dẫn đến các tính chất lý, hóa tính, cấu tượng đất bị thay đổi gây trở ngại cho việc trao đổi khí trong đất của cây.

Do thời vụ cấy gấp nên gốc rạ chưa phân hủy hết.

Do đất ruộng lúa bị thiếu oxy kéo dài với nhiều nguyên nhân khác nhau (ruộng trũng hẩu có tình trạng yếm khí, đất tích tụ nhiều khí độc, ngộ độc hữu cơ, đất úng hoặc quá chặt…).

3. Khắc phục

Khi ruộng chưa bị bệnh vàng lá sinh lý thì ta phòng bằng cách như sau:

- Trước hết cần chú ý đến “nhất thì, nhì thục”, trong đó “thì” là thời tiết, thời vụ và “thục” là làm đất. Do đó yếu tố đầu tiên là cần chủ động thu hoạch lúa đã chín từ vụ trước để tranh thủ thời vụ, làm đất kịp thời.

- Ngay khi thu hoạch lúa từ vụ xuân cần làm đất cày bừa kỹ bón thêm vôi hoặc dùng các chế phẩm sinh học, phân bón vi sinh trước khi cấy để cải tạo độ chua, thúc đẩy các chất hữu cơ chưa hoai phân giải nhanh ngay từ đầu, kết hợp bón thêm 10 - 15 kg vôi bột/sào giúp gốc rạ nhanh phân hủy, hạn chế bệnh vàng lá sinh lý phát sinh gây hại sau này

- Không bón phân hữu cơ chưa hoai mục, không để gốc rạ dài cho các chân ruộng trũng và những ruộng bị bệnh vàng lá hại nặng vụ trước.

- Nếu ruộng bón đủ lượng phân (nhất là phân đạm) thì không bón thêm (dẫn đến thừa đạm) ngay cả khi ruộng lúa chậm phát triển.

- Nên cấy nông tay (ở các ruộng chân vàn nên cấy ngửa tay, sâu khoảng 2 - 2,5 cm), dùng mạ xúc, mạ khay để cấy giúp cho rễ lúa được cung cấp thêm oxy từ không khí, hạn chế được sâu bệnh phát sinh, cây đẻ nhánh sớm, tập trung, đẻ khỏe và sinh trưởng phát triển tốt.

- Bón phân cân đối, nhất là phân đạm, lân, kali.

* Với ruộng đã cấy khi thấy lúa mắc bệnh:

- Khi cây lúa bị vàng lá nghẹt rễ thì không nên bón thêm đạm hoặc phun thuốc BVTV.

- Cần tiến hành tháo nước bón thêm 10 - 15 kg vôi bột + 10 - 15 kg phân lân/sào kết hợp làm cỏ, sục bùn để giải phóng bớt khí độc trong đất, nhất là vùng rễ cho cây lúa.

- Sau khi bón vôi, lân cây đã bén rễ, dần phục hồi trở lại thì cần bổ sung các phân bón qua lá (Đầu Trâu, Komic…) giúp cây phục hồi nhanh, sinh trưởng phát triển tốt.

KS Trần Quang Hào (Trạm Khuyến nông huyện Thạch Thất, Hà Nội)/ nongnghiep.vn

Tuesday, July 15, 2014

Dùng vôi phòng bệnh cho lúa

Nghe nói sử dụng vôi để hạ phèn, cải tạo đất, xử lý hiện tượng ngộ độc hữu cơ và phòng trừ được một số đối tượng dịch hại trên cây lúa, điều này đúng không? Nhờ các bạn thông tin thêm. Nguyễn Hải Anh (Ngãi Tứ- Tam Bình)

Ảnh minh họa


Theo PGS.TS Phạm Văn Kim (Đại học Cần Thơ), sử dụng vôi trong quá trình làm đất để xử lý gốc rạ trước khi gieo sạ lúa sẽ có tác dụng hạn chế được hiện tượng ngộ độc hữu cơ. Còn việc sử dụng vôi để hạ phèn, phòng trừ một số đối tượng dịch hại trên cây lúa, đặc biệt phòng ngừa bệnh cháy bìa lá do vi khuẩn trong các tháng mưa là rất hiệu quả.

Tuy nhiên, muốn hiệu quả cao trong phòng ngừa nên phun ngay khi bệnh mới xuất hiện. Nên sử dụng loại đá vôi nung đem tôi trong nước thành vôi bột trước khi rải để xử lý đất hoặc pha nước để phun cho cây trồng. Liều lượng tốt nhất là pha từ 0,5- 1kg vôi bột cho bình 16 lít nước phun đều trên ruộng lúa làm 2 lần cách nhau 10 ngày.

Vôi bột cũng có thể trộn với tro, trấu rải lên lúa được đều và an toàn hơn cho người sử dụng. Ngoài ra, có thể pha thêm một ít dầu ăn vào nước vôi để phun sẽ làm gia tăng hiệu quả, vì dầu ăn có tác dụng như một chất bám dính giúp vôi phân bố đều và bám dính tốt hơn.

Theo Báo Vĩnh Long

Bệnh thối gốc lúa

Bệnh thối gốc là bệnh nguy hiểm trên cây lúa có thể lây lan thành dịch trên các cánh đồng làm vệ sinh kém, ruộng bị nhiễm phèn hay trên các cánh đồng lúa từng bị nhiễm rầy nâubệnh đạo ôntrước đó. Bệnh cũng hay xuất hiện trên các cánh đồng dùng các giống lúa mẫn cảm với bệnh này như OM 4900Jasmin 85OM 4218OM 5472...

Ảnh minh họa

Bệnh càng nguy hiểm nếu kết hợp với bệnh đạo ôn nhưng người sản xuất không nhận ra chỉ dùng thuốc trị bệnh đạo ôn nên không đem lại kết quả.

Triệu chứng của bệnh lúc mới xuất hiện là lá lúa có những chấm kim, vết bệnh phát triển nhanh nhưng lá vẫn còn xanh, bẹ lá mọng nước sau đó chuyển sang vàng, dùng tay kéo chồi lúa bị bệnh sẽ tuột gốc, gốc lúa bị bệnh có màu đen và có mùi hôi. Bệnh nặng thì cây lúa vàng từ gốc đến ngọn rồi rụi dần và chết rất giống với cây lúa chết do bệnh đạo ôn.

Phòng bệnh tổng hợp là biện pháp hiệu quả nhất trong phòng trừ bệnh này: cần làm vệ sinh đồng ruộng kỹ trước khi vào vụ lúa mới, nhất là trên những cánh đồng lúa từng mắc bệnh đạo ôn trước đó, giữ thời gian cách vụ ít nhất tuần để chống ngộ độc hữu cơ, bón phân cân đối (không dư đạm).

Khi phát hiện ruộng lúa bị bệnh, cần tháo cạn nước, bón vôi bột từ 20 - 25 kg/công. Ruộng lúa bị bệnh nặng phải phun thuốc hóa học trị vi khuẩn như Visen 20SC (liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì) hay dùng hỗn hợp đặc trị: 50ml Fujione 40EC cộng với 30ml Visen 20SC cho một bình 16 lít.

Trước khi phun thuốc, nên tháo hết nước trên ruộng ra, phun sát gốc lúa với 3 - 4 bình/công. Trong thời gian lúa bị bệnh tuyệt đối không được bón phân đạm, phân bón lá hay kích thích tố.

Trung Tín/ Báo Vĩnh Long

Monday, July 14, 2014

Bọ xít muỗi hại cây cà phê chè và biện pháp phòng trừ

Bọ xít muỗi có tên khoa học là  Helopeltis sp. thuộc họ Miridae, bộ Hemiptera. Bọ xít gây hại nhiều trên điều, chè, ca cao, cà phê, tiêu đen, nho, ổi, xoài v.v… Chúng tấn công ở tất cả các giai đoạn của cây trồng. Ký chủ chính của chúng là điều, chè, ca cao, và cây neem. Bọ xít muỗi đỏ được ghi nhận xuất hiện ở các nước Ấn Độ, Sri Lanka, Philippines, Campuchia, Indonesia và Việt Nam.

Năm 2013, bọ xít muỗi đã gây hại trên cà phê chè tại Đam Rông với diện tích 339,5 ha (40,2 hanặng). Năm 2014, bọ xít muỗi tiếp tục gây hại trên 1.268 ha trong đó có 390 ha hại năng, tỷ lệ hại trung bình 33%, cục bộ lên tới 75% trên chồi non, búp non. Làm ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng phát triển cũng như năng suất cà phê chè và gây khó khăn cho việc phòng trừ của nông dân.

Để tăng cường quản lý đối tượng dịch hại này và bảo vệ sản xuất cà phê Chi cục BVTV Lâm Đồng giới thiệu đặc điểm và biện pháp trừ bọ xít muỗi như sau:

Triệu chứng gây hại

Bọ xít muỗi dùng vòi chích vào chồi non, lá non, cành non, hoa, quả non để hút nhựa cây.  Trên lá non, chồi non vết chích tạo ra đốm đen làm cho lá non, đọt non bị quăn và trở nên méo mó, dị dạng sau đó bị khô từ chóp lá. Hoa bị hại bị héo khô.

Thực tế trên những vườn cà phê chè bị hại nặng, cây sinh trưởng kém, năng suất giảm rõ rệt.



Đặc điểm hình thái và sinh học

Bọ xít trưởng thành dài 6 - 8mm, có màu nâu đỏ hay nâu đậm. Hầu hết ngực của chúng có màu đỏ nhạt hoặc đỏ nâu. Đầu thường có màu đậm hơn ngực. Râu đầu có màu tối.

Trứng bọ xít muỗi hình ovan dài, màu trắng. Trứng thường được đẻ ở những lá non, đọt non, cuống hoa, thân chồi. 

Sâu non mới nở nhỏ, có màu vàng nhạt. Sâu non có 5 tuổi kéo dài 9 - 19 ngày. Vòng đời của bọ xít muỗi kéo dài 25 - 32 ngày.

Khi mới nở bọ xít non sống tập trung 2 - 3 con trên 1 đọt cây, lúc này các vết chích nhỏ nhưng dày, từ tuổi 3 chúng phân tán và bắt đầu sống đơn lẻ, khi đó vết chích sẽ thưa nhưng lớn hơn.


Bọ xít muỗi phát triển mạnh vào mùa mưa khi độ ẩm không khí cao, thời gian chiếu sáng ngắn, trời âm u. Những ngày âm u không có nắng trong mùa mưa bọ xít muỗi hoạt động suốt ngày. Bọ xít muỗi trưởng thành và con non có tính giả chết, khi động phải chúng lập tức giả chết rơi xuống lẩn trốn.

Cây cà phê ra nhiều đọt non tạo điều kiện thuận lợi về dinh dưỡng để bọ xít muỗi gây hại và gia tăng mật độ.

Vườn cà phê gần bìa rừng, nhất là rừng keo; vườn cà phê trồng quá dày, rậm rạp, ít ánh sáng thường bị hại nặng.

Trong năm, bọ xít muỗi có thể phát triển từ 8 - 10 lứa. Tại Lâm Đồng, bọ xít muỗi gây hại quanh năm nhưng tập trung chủ yếu vào các tháng mùa mưa từ tháng 4 - 11 khi trời mát, ẩm độ cao và nhất là khi cây cà phê chè ra các búp non.

Biện pháp phòng trừ

- Biện pháp canh tác:

+ Đảm bảo mật độ trồng thích hợp (5.000 cây/ha), không trồng cà phê quá dày.  Thường xuyên tỉa cành, tạo tán thông thoáng cho vườn cà phê.

+ Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ dại trong ruộng và bờ lô, bụi rậm quanh ruộng nhằm hạn chế nơi cư trú của bọ xít muỗi.

+ Bón phân đầy đủ, cân đối, hạn chế bón quá nhiều đạm, tăng cường bón thêm kali.

- Biện pháp vật lý: vào đầu mùa khô thu gom tàn dư cây trồng, đốt hun khói để xua đuổi bọ xít muỗi.

- Biện pháp sinh học: Bảo vệ và phát triển quần thể thiên địch tự nhiên sẵn có trên vườn cà phê: kiến đen, kiến xanh, kiến vàng để hạn chế gây hại của bọ xít muỗi.

- Biện pháp hóa học

+ Thường xuyên điều tra đồng ruộng vào thời kỳ cà phê ra đọt non, lá non để phát hiện kịp thời, phun thuốc trừ từ 1 - 2 đợt mỗi đợt cách nhau 10 - 15 ngày.

+ Đảm bảo phun thuốc theo nguyên tắc 4 đúng, phun thuốc phải đồng loạt. Phun ướt đều trên toàn bộ tán cây, phun xung quanh ruộng từ ngoài vào trong và từ bìa rừng trở vào trong đảm bảo bao vây không cho bọ xít muỗi phát tán ra xung quanh để hạn chế lây lan.

+ Hiện nay chưa có thuốc đăng ký trong danh mục để phòng trừ bọ xít muỗi hại cà phê. Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng đã tiến hành khảo nghiệm thuốc Supertac 500EC (Alpha-cypermethrin + Chlopyrifos Ethy), sử dụng nồng độ 0,18%, lượng nước sử dụng 1.000 lít/ha.

Trần Thị Cúc/ Chu cục BVTV Lâm Đồng

Thursday, July 10, 2014

Quy trình nuôi ghép tu hài, ốc hương và rong câu

Việc nuôi ghép các đối tượng này trong ao đầm nước mặn vừa đa dạng hóa đối tượng nuôi vừa hạn chế rủi ro dịch bệnh và nâng cao thu nhập cho người dân. Quy trình này đang được nhân rộng tại các vùng ven biển miền Trung.

- Chuẩn bị ao nuôi

Khu vực nuôi là ao, đầm nguồn nước có độ mặn từ 25% trở lên trong suốt thời gian nuôi (8 tháng). Diện tích tối thiểu từ 3.000 m2 trở lên, trong đó, diện tích nuôi tu hài và rong câu ở giữa phải chiếm 30 - 50% tổng diện tích ao nuôi. Ao có bờ bao chắc chắn và cống cấp, thoát nước đảm bảo gần nguồn nước để thuận tiện thay nước. Chất lượng nước có pH 7,5 - 8, đáy cát bùn (cát nhiều hơn bùn, không nhiễm phèn và ít mùn bã hữu cơ).

Tháo cạn nước ao, đầm dọn sạch các loại rong, rêu, san hô, cây cỏ… tu sửa bờ ao, cống, nếu bùn đáy dày thì có thể nạo vét bớt, san bằng đáy, tạo dốc về phía cống thoát.

Dùng vôi nông nghiệp (CaO) rải xuống đáy ao, liều lượng 500 - 700  kg/ha để vệ sinh, sát trùng đáy ao. Nếu đáy ao không bằng phẳng cần rải vôi tập trung ở những vùng trũng, nhiều bùn. Xung quanh bờ ao phải vây lưới cước quanh bờ, sát mép nước (cỡ mắt lưới a = 0,3 cm) để ngăn không cho ốc bò lên bờ.

Khu vực nuôi tu hài và rong câu ở giữa ao được vây chắn lưới xung quanh với diện tích 1.000 - 2.000 m2 (dài 40 - 50 m và rộng 25 - 40 m). Đào rãnh sâu 15 - 20 cm, rộng 20 cm, cắm cọc đỡ lưới (đường kính cọc 5 - 7 cm, cao 1 m, khoảng cách 2 m/cọc), sau đó, đưa lưới xuống rãnh phủ đất và lèn chặt chân.

Cấp nước sạch cho ao vào kỳ triều cường, nước được lọc qua hệ thống đăng lưới chắn để ngăn rác, cá tạp và các loại địch hại khác vào ao. Duy trì mực nước 0,8 - 1,2 m trong ao và lắp quạt khí để đảo nước và tăng cường ôxy hòa tan trong ao khi ốc lớn, mật độ nuôi cao (2 dàn quạt/3.000 m2).

 Ốc hương thu hoạch đạt kích cỡ lớn 25 - 30 con/kg - Ảnh: Lam Giang

- Thả giống và chăm sóc

Thả giống

Giống ốc hương: được mua về cỡ 15 - 20 mm (4.000 - 6.000 con/kg), vận chuyển bằng bao nilon bơm ôxy, đóng kín vào thùng xốp, giữ nhiệt độ 24 - 25oC hoặc đóng khô, giữ nhiệt độ 24 - 25oC trong suốt quá trình vận chuyển. Ốc khoẻ mạnh, màu sắc tươi sáng, bò lên nhanh khi cho ăn và vùi toàn bộ xuống cát khi ăn xong. Không có các biểu hiện nhiễm bệnh như trắng vỏ, gãy đỉnh vỏ, sưng vòi…

Giống tu hài: có thể mua từ trại giống sản xuất nhân tạo hoặc giống thu gom từ tự nhiên, giống thường có kích cỡ 1.500 - 3.000 con/kg, giống phải khỏe mạnh không bị sứt sát, màu sắc tươi sáng và vòi không bị sưng. Mật độ thả 7 - 8 con/m2 ghép với trồng rong câu (0,5 kg/m2). Rong và tu hài được trồng và nuôi trong đăng chắn ở giữa ao.

Ốc hương: nuôi làm 2 giai đoạn: Giai đoạn ương (1 tháng đầu), thả 800 - 1.000 con/m2, nuôi trong đăng chắn với diện tích 200 m2. Nuôi lớn: Sau 1 tháng nuôi, ốc đạt cỡ 700 - 900 con/kg, mở lưới đăng và san thưa ốc trong ao (khu vực nuôi ốc) để nuôi lớn, mật độ 30 - 40 con/m2.

Chăm sóc, quản lý

Thức ăn cho ốc hương bao gồm cá tạp, tôm, tép…; cho ăn 1 - 2 lần/ngày, lượng thức ăn chiếm 10% trọng lượng thân và được điều chỉnh hàng ngày theo sức ăn của ốc. Nên sử dụng thức ăn tươi, không cho ốc ăn thức ăn ôi thiu. Có thể căn cứ vào điều kiện môi trường nước ao nuôi cùng với tốc độ sinh trưởng và mật độ ốc thả mà có thể san thưa để đảm bảo ốc sinh trưởng tốt. Cùng đó, có thể kết hợp tháo cạn nước, vệ sinh ao để san thưa sang ao và đăng nuôi khác nếu môi trường đáy ao có nhiều bùn và rong.

Trong quá trình nuôi thường xuyên quan sát hoạt động ăn mồi của ốc, kiểm tra sự dò rỉ nước ao, kịp thời phát hiện địch hại để diệt trừ. Theo dõi lượng thức ăn thừa hàng ngày để điều chỉnh cho phù hợp. Thay nước định kỳ 3 - 5 ngày/lần, mỗi lần 20 - 30% lượng nước ao. Luôn phải giữ cho môi trường ao nuôi trong sạch, tránh ô nhiễm làm ốc bị nhiễm bệnh. Duy trì mực nước trong ao 0,8 - 1,2 m để ổn định nhiệt độ, hạn chế rong đáy phát triển. Ốc hương thường vùi mình trong bùn và sống chủ yếu dưới tầng đáy, do vậy để tránh ô nhiễm đáy cần vớt hết thức ăn thừa. Vận hành quạt khí liên tục từ tháng thứ 2 trở đi nhằm cung cấp ôxy hòa tan và gom tụ chất thải vào giữa ao làm thức ăn cho tu hài. Cùng đó, nguồn dinh dưỡng sinh ra trong quá trình phân hủy mùn bã hữu cơ, bài tiết của ốc sẽ được rong câu hấp thụ, vừa làm trong nước ao vừa hạn chế được tảo và vi khuẩn gây bệnh phát triển. Trong vụ nuôi, cần hạn chế sự biến động lớn của độ mặn (không quá 5%), để tu hài, rong câu, ốc hương phát triển tốt cần định kỳ thay nước ao đầm (15 - 20%) vào kỳ con nước có độ mặn cao để cung cấp thêm nguồn thức ăn cho tu hài và làm trong nước, giúp ốc hương và rong câu phát triển tốt.

Ổn định các yếu tố môi trường trong suốt vụ nuôi như nhiệt độ nước: 27 – 30oC; độ trong 30 - 35 cm, pH 7,5 - 8,5, độ kiềm 100 - 120 mg/l kiềm, ôxy hòa tan trên 4 mg/l, độ mặn 25 - 30%; H2S < 0,01 mg/l; NO2 và NO3 < 0,1 mg/l. Cần kiểm tra chất đáy định kỳ (tháng/lần), nếu chất đáy có mùi hôi thối, chuyển sang màu đen thì tiến hành cào đáy, quạt và thay nước. Ngoài ra có thể bổ sung thêm cát sạch dày khoảng 2 cm.

- Thu hoạch 

Sau 5 - 6 tháng nuôi, khi ốc hương đạt kích cỡ lớn 25 - 30 con/kg con thì thu hoạch bằng cách dùng bẫy, lồng nhử mồi hoặc vợt để thu tỉa những con to, con nhỏ để lại nuôi tiếp. Sau 8 tháng nuôi trở lên có thể thu hoạch tu hài bán nếu đạt kích thước thương phẩm 30 - 40 con/kg.

Rong câu sau 2 tháng nuôi có thể tiến hành thu tỉa (tháng/lần) và luôn đảm bảo mật độ rong 0,5 - 1 kg/m2

Kết quả nuôi ghép 3 đối tượng này sẽ cho tỷ lệ sống của ốc hương đạt hơn 92%, tu hài hơn 62%; năng suất ốc hương đạt 5 - 7 tấn/ha/vụ, tu hài đạt 3 - 4 tấn/ha/vụ và rong câu 15 - 20 tấn/ha, lợi nhuận ước đạt 300 - 400 triệu đồng/ha

Hải An/ Tạp chí thủy sản Việt Nam